Bước tới nội dung

Pokémon (dòng trò chơi)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Pokémon
Thể loạiNhập vai
Phát triểnGame Freak
ILCA
Phát hành
Tác giảTajiri Satoshi
Họa sĩSugimori Ken
Soạn nhạcMasuda Junichi
Nền tảng
Phiên bản đầu tiênPocket Monsters Red vàGreen (Nhật Bản)
Ngày 27 tháng 2 năm 1996
Phiên bản cuối cùngPokémon Legends: Z-A
Ngày 16 tháng 10 năm 2025
Xem Danh sách trò chơi Pokémon ngoại truyện

Pokémon[a] là một loạt trò chơi điện tử nhập vai thu thập sinh vật của Nhật Bản do Game Freak phát triển.[b] và được Nintendo phát hành cùng The Pokémon Company thuộc thương hiệu Pokémon. Trò chơi do Tajiri Satoshi sáng tạo ra cùng với sự hỗ trợ từ Sugimori Ken. Trò chơi đầu tiên, Pocket Monsters Aka và Ao, phát hành vào năm 1996 tại Nhật Bản cho máy Game Boy, sau đó phát hành bên ngoài Nhật Bản với tên Pokémon Red Version và Blue Version. Loạt trò chơi nhập vai chính, được các nhà phát triển gọi là "loạt cốt lõi",[1][2][3] vẫn tiếp tục phát triển qua từng thế hệ máy chơi trò chơi cầm tay của Nintendo. Tựa trò chơi thuộc dòng chính mới nhất là Pokémon Legends: Z-A đã phát hành vào ngày 16 tháng 10 năm 2025 cho cả Nintendo Switch và Nintendo Switch 2.

Bên cạnh công tác phát triển của Game Freak, Creatures còn hỗ trợ thông qua Pokémon CG Studio – đơn vị chuyên tạo mô hình 3D cho các Pokémon trong trò chơi và phát triển một số tựa trò chơi ngoại truyện. Vào năm 1998, Nintendo, Creatures và Game Freak đã cùng nhau thành lập The Pokémon Company; công ty này chịu trách nhiệm quản lý việc cấp phép, sản xuất, phát hành, tiếp thị và các thỏa thuận kinh doanh cho thương hiệu này, cả tại châu Á lẫn trên toàn cầu thông qua The Pokémon Company International.[4][5][6]

Các tựa trò chơi chính được phát hành theo từng thế hệ, mỗi thế hệ mang đến những Pokémon, cốt truyện và nhân vật khác nhau. Các phiên bản làm lại thường ra mắt khoảng một thập kỷ sau bản gốc, dành cho hệ máy chơi trò chơi mới nhất tại thời điểm đó. Trong khi dòng chính bao gồm các tựa trò chơi nhập vai do Game Freak phát triển, thì nhiều tựa trò chơi ngoại truyện dựa trên loạt này lại được thực hiện bởi các công ty khác nhau, bao gồm nhiều thể loại đa dạng như nhập vai hành động, giải đố, đối kháng và thú nuôi ảo.

Pokémon là một trong những thương hiệu truyền thông có doanh thu cao nhất mọi thời đại, sở hữu các loạt anime, phim điện ảnh và sản phẩm ăn theo thành công, trong đó tựa game ngoại truyện Pokémon Go đã vượt mốc 1 tỷ lượt tải xuống trên toàn cầu.[7] Tính đến ngày 24 tháng 11 năm 2017, hơn 300 triệu bản game "Pokémon" đã được bán ra trên toàn thế giới trên các hệ máy cầm tay và máy chơi trò chơi tại gia, bao gồm 76 tựa trò chơi (tính cả các bản ngoại truyện).[8] Tính đến tháng 3 năm 2026, loạt đã bán được hơn 515 triệu bản trên toàn thế giới.[9] Điều này đưa Pokémon trở thành thương hiệu trò chơi điện tử bán chạy thứ tư, xếp sau các thương hiệu Mario, Call of Duty và Tetris.

Lối chơi

[sửa | sửa mã nguồn]
Bảng liệt kê 18 hệ Pokémon cùng các điểm mạnh (2, màu xanh lá), điểm yếu (½, màu đỏ) và khả năng miễn nhiễm (0, màu đen) của chúng.[10]

Mỗi trò chơi trong loạt Pokémon đều diễn ra tại một khu vực hư cấu thuộc thế giới Pokémon—thường được xây dựng dựa trên một địa điểm có thật ngoài đời thực—và bắt đầu với việc người chơi nhận một Pokémon khởi đầu, thường là từ Giáo sư Pokémon của khu vực đó. Người chơi có quyền lựa chọn một trong ba loại Pokémon khác nhau.[11] Nhiều trò chơi có sự xuất hiện của một nhân vật đối thủ đóng vai trò là vật cản hoặc trùm xuyên suốt trò chơi.[12] Một cốt truyện phụ quan trọng trong hầu hết các trò chơi là đánh bại một tổ chức tội phạm; tổ chức này thường có âm mưu thống trị thế giới bằng cách lạm dụng sức mạnh của những Pokémon hùng mạnh được gọi là Pokémon Huyền thoại.[13]

Các trận đấu giữa các Pokémon là cơ chế cốt lõi của loạt trò chơi "Pokémon". Trong trò chơi, chúng được sử dụng để huấn luyện Pokémon nhằm tích lũy kinh nghiệm, gia tăng sức mạnh và thúc đẩy tiến trình cốt truyện.[14] Người chơi cũng có thể thi đấu với nhau bằng cách kết nối ít nhất hai hệ máy chơi game. "Pokémon" sử dụng cơ chế chiến đấu theo lượt. Người chơi có thể mang theo từ một đến sáu Pokémon trong đội hình thi đấu; Pokémon đầu tiên trong danh sách sẽ tự động được đưa ra sân khi trận đấu bắt đầu. Vào đầu mỗi lượt, cả hai bên đều có thể chọn thực hiện chiêu thức, sử dụng vật phẩm, thay đổi Pokémon đang thi đấu bằng một Pokémon khác trong đội hình, hoặc thử rút chạy khỏi trận đấu nếu đang đối đầu với Pokémon hoang dã. Mỗi Pokémon sẽ tung đòn tấn công để làm giảm lượng Máu (HP) của đối thủ xuống mức không; khi đó, Pokémon sẽ bị ngất và không thể tiếp tục chiến đấu. Ngoài ra, Pokémon còn sở hữu các "năng lực" mang lại những đặc tính riêng biệt trong quá trình giao đấu.[15] Khi Pokémon của đối thủ bị hạ gục, Pokémon của người chơi sẽ nhận được điểm kinh nghiệm; khi tích lũy đủ điểm, cấp độ của Pokémon sẽ tăng lên.[16] Nếu Pokémon của người chơi bị hạ gục, họ có thể chọn một Pokémon khác từ đội hình hiện tại để chiến đấu; trong các trận chiến với Pokémon hoang dã, người chơi có thể cố gắng bỏ chạy. Nếu tất cả Pokémon của người chơi đều bị hạ gục, người chơi sẽ thua trận. Điều này khiến người chơi mất một số tiền và phải quay lại Trung tâm Pokémon cuối cùng mà họ đã ghé thăm. Pokémon Legends: Z-A sử dụng hệ thống chiến đấu thời gian thực, trong đó người chơi và Pokémon di chuyển trên chiến trường bằng cách sử dụng các chiêu thức một cách chiến lược,[17] Mặc dù có hệ thống tương tự với số lượng Pokémon từ một đến sáu và khả năng tăng cấp thông qua chiến đấu hoặc sử dụng vật phẩm. Người chơi chỉ quay trở lại Trung tâm Pokémon sau khi bản thân bị Pokémon hoang dã gây đủ sát thương. Khả năng này xuất hiện lần đầu trong Pokémon Ruby và Sapphire, các khả năng lại không có ở Pokémon: Let's Go, Pikachu!, Let's Go, Eevee!, Legends: Arceus, và Legends: Z-A.[18]

Hệ của Pokémon là một thuộc tính nguyên tố quy định điểm mạnh và điểm yếu của mỗi Pokémon cũng như các chiêu thức của chúng. Các hệ này tương tác với nhau theo cơ chế kiểu "kéo-búa-bao": Pokémon sẽ chịu sát thương gấp đôi từ các chiêu thức thuộc hệ mà nó bị khắc chế, và chỉ chịu một nửa sát thương từ các chiêu thức thuộc hệ mà nó có khả năng kháng lại.[10] Một số hệ có các đặc tính đặc biệt không liên quan đến bảng tương tác sát thương; chẳng hạn, một số hệ nhất định không bị ảnh hưởng bởi các trạng thái bất lợi cụ thể.[19]

Poké Ball được sử dụng để bắt Pokémon.

Người chơi có thể bắt Pokémon trong môi trường hoang dã thông qua việc tham gia vào các trận đấu Pokémon. Trong hầu hết các tựa trò chơi Pokémon,[c] Người chơi tìm cách làm suy yếu các Pokémon hoang dã trong trận đấu để rồi ném Poké Ball; vật phẩm này được dùng để bắt Pokémon và đưa chúng vào đội hình của người chơi hoặc chuyển vào kho lưu trữ.[22] Pokémon có thể "tiến hóa" khi đạt đến một cột mốc nhất định, chẳng hạn như đạt cấp độ cụ thể, được sử dụng vật phẩm hoặc có mức độ thân thiết cao. Quá trình này làm thay đổi hình dạng và diện mạo, đồng thời giúp chúng trở nên mạnh mẽ hơn.[23] Người chơi có thể trao đổi Pokémon với nhau bằng cách kết nối hai trò chơi tương thích.[24] Vì loạt trò chơi "Pokémon" xoay quanh việc bắt càng nhiều Pokémon càng tốt, nên trao đổi được xem là một khía cạnh quan trọng của "Pokémon".[25] Một số Pokémon nhất định cũng chỉ có thể tiến hóa thông qua việc trao đổi.[26] Người chơi cũng có thể bắt gặp các Pokémon có màu sắc khác biệt so với bình thường, được gọi là "Shiny Pokémon"; chúng hiếm hơn nhiều so với Pokémon thông thường.[27]

Có thể tìm thấy nhiều cơ sở khác nhau trong thế giới Pokémon như Trung tâm Pokémon, Cửa hàng Poké Mart và Phòng thi đấu Pokémon. Tại Trung tâm Pokémon, người chơi có thể chữa trị cho Pokémon của mình miễn phí và truy cập PC, nơi người chơi có thể sắp xếp bộ sưu tập Pokémon của mình, lưu trữ và lấy vật phẩm. Sau này tính năng PC đã bị loại bỏ, bắt đầu từ Pokémon: Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee!, và trong mọi trận đấu kể từ đó (ngoại trừ Pokémon Legends: Arceus). Người chơi có thể truy cập vào Pokémon nằm ngoài đội hình chính bất cứ lúc nào khi không ở trong trận đấu. Poké Mart là các cửa hàng nơi người chơi dùng số tiền kiếm được từ các trận đấu để mua vật phẩm; một số thành phố có thể có các cửa hàng chuyên biệt, chẳng hạn như hiệu thuốc hoặc cửa hàng bách hóa. Tại một số thị trấn sẽ có Pokémon Gym (Nhà thi đấu Pokémon), nơi một Nhà huấn luyện mạnh mẽ được gọi là Gym Leader (Thủ lĩnh Nhà thi đấu) trấn giữ và đóng vai trò như một "trùm". Chiến thắng trước họ sẽ mang lại cho người chơi một Huy hiệu Nhà thi đấu (Gym Badge); sau khi thu thập đủ tám huy hiệu, người chơi có thể thách đấu nhóm Elite Four (Tứ Đại Thiên Vương) và Nhà vô địch Pokémon League của khu vực đó. (trong Pokémon Sword và Shield, Elite Four được thay thế bằng Champion Cup, một giải đấu loại trực tiếp nhằm xác định người giành quyền thách đấu Nhà vô địch Pokémon League. Các Phòng thi đấu Pokémon Sun, Moon, Ultra Sun, và Ultra Moon, thay vào đó là các thử thách với vai trò tương tự. Pokémon Legends: Arceus và Legends: Z-A cũng không có Nhà thi đấu và chỉ có duy nhất một khu định cư lớn trong mỗi trò chơi. Trong Z-A, người chơi sẽ thăng hạng bằng cách chiến đấu với các đối thủ mạnh đến từ Thành phố Lumiose tại một sự kiện mang tên Z-A Royale.[28] Nhiều tựa còn có các khu vực chuyên dành cho việc thi đấu, chẳng hạn như Battle Frontier, Battle Tower và Battle Maison; những khu vực này sẽ được mở khóa sau khi người chơi hoàn thành cốt truyện chính. Sau đó, trò chơi vẫn mang tính mở, với mục tiêu tối thượng là thu thập ít nhất một cá thể thuộc mỗi loài Pokémon để hoàn thành cuốn bách khoa toàn thư ảo về tất cả các loài Pokémon, được gọi là Pokédex. Việc hoàn thiện Pokédex đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình trải nghiệm Legends: Arceus so với các tựa khác.[21]

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
Dòng thời gian phát hành
Mục đầu tiên trong thế hệ được in đậm
1996Red và Green
Blue
1997
1998Yellow
Red và Blue
1999Gold và Silver
2000Crystal
2001
2002Ruby và Sapphire
2003
2004FireRed và LeafGreen
Emerald
2005
2006Diamond và Pearl
2007
2008Platinum
2009HeartGold và SoulSilver
2010Black và White
2011
2012Black 2 và White 2
2013X và Y
2014Omega Ruby và Alpha Sapphire
2015
2016Sun và Moon
2017Ultra Sun và Ultra Moon
2018Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee!
2019Sword và Shield
2020Sword và Shield: The Isle of Armor (DLC)
Sword và Shield: The Crown Tundra (DLC)
2021Brilliant Diamond và Shining Pearl
2022Legends: Arceus
Scarlet và Violet
2023The Teal Mask (DLC)
The Indigo Disk (DLC)
2024Mochi Mayhem (DLC)
2025Legends: Z-A
Mega Dimension (DLC)
2026
2027Winds và Waves

Tất cả các sản phẩm thuộc thương hiệu Pokémon do The Pokémon Company quản lý đều được phân chia một cách tương đối theo các thế hệ. Các thế hệ này về cơ bản là sự phân chia theo trình tự thời gian phát hành; khi một phần tiếp theo chính thức thuộc dòng trò chơi nhập vai (RPG) chủ đạo được ra mắt—mang đến các Pokémon, nhân vật và có thể là cả những cơ chế lối chơi mới—thì phần đó được coi là sự khởi đầu cho một thế hệ mới của thương hiệu. Các tựa trò chơi chính cùng các phiên bản ngoại truyện, cũng như loạt anime, manga và trò chơi thẻ bài, đều được cập nhật các nội dung Pokémon mới mỗi khi một thế hệ mới ra mắt. Thương hiệu này đã bước vào thế hệ thứ chín (và cũng là thế hệ hiện tại) với sự ra mắt của Pokémon Scarlet và Violet trên hệ máy Nintendo Switch vào ngày 18 tháng 11 năm 2022 trên toàn thế giới.

1996–1998: Thế hệ thứ nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Pokémon Red, Blue, và Yellow, phát hành vào năm 1996 cho hệ máy Game Boy, là những tựa trò chơi đầu tiên trong loạt này.

Các tựa Pokémon nguyên bản là những trò chơi điện tử nhập vai (RPG) của Nhật Bản có kết hợp yếu tố chiến thuật, do Tajiri Satoshi sáng tạo dành cho hệ máy Game Boy. Loạt Pokémon khởi đầu với việc phát hành Pocket Monsters Aka và Ao trên hệ máy Game Boy tại Nhật Bản. Khi các tựa này trở nên phổ biến, một phiên bản cải tiến mang tên Aoi đã được ra mắt sau đó; phiên bản Aoi này tiếp tục được lập trình lại thành Pokémon Red và Blue để phát hành trên thị trường quốc tế. Phiên bản Ao gốc đã không được phát hành bên ngoài Nhật Bản.[29] Sau đó, một phiên bản làm lại cải tiến thứ hai mang tên Pokémon Yellow đã được phát hành, tận dụng bảng màu của hệ máy Game Boy Color và mang phong cách hình ảnh gần gũi hơn với loạt anime Pokémon.

Thế hệ trò chơi đầu tiên này đã giới thiệu 151 loài Pokémon nguyên bản (theo thứ tự của National Pokédex — tức Từ điển Pokémon Quốc gia, bao gồm tất cả các Pokémon từ Bulbasaur đến Mew), cũng như các cơ chế trò chơi cơ bản như bắt, huấn luyện, chiến đấu và trao đổi Pokémon với cả máy lẫn người chơi khác. Bối cảnh của các phiên bản này là vùng đất hư cấu Kanto, mặc dù tên gọi "Kanto" mãi đến thế hệ thứ hai mới được sử dụng.

Các tựa trò chơi ngoại truyện thuộc thế hệ đầu tiên bao gồm Pokémon Pinball; phiên bản chuyển thể của Pokémon Trading Card Game dành cho hệ máy Game Boy Color; Pokémon Snap – một tựa trò chơi mô phỏng chụp ảnh với cơ chế di chuyển tự động trên đường ray dành cho Nintendo 64; 'Pokémon Puzzle League – phiên bản chuyển thể mang chủ đề Pokémon của trò chơiTetris Attack, Pokémon Puzzle League trên Nintendo 64; Pokémon Stadium – phiên bản 3D trên Nintendo 64 tái hiện hệ thống chiến đấu từ các tựa trò chơi cầm tay; cùng sự góp mặt của một số loài Pokémon trong tựa trò chơi đối kháng Super Smash Bros. trên Nintendo 64.[30] Tại sự kiện Nintendo Space World năm 2000, một tựa trò chơi đã được giới thiệu thoáng qua với hình ảnh Meowth và Team Rocket đang hát. Đây là một trong những lần đầu tiên các Pokémon Togepi và Bellossom ra mắt công chúng. Tựa trò chơi này có tên là Meowth's Party nhưng không được phát triển thành một trò chơi hoàn chỉnh để người dùng có thể chơi. Thay vào đó, bài hát và video này đã được phát ở cuối một tập anime, đồng thời một đĩa CD cũng được phát hành thương mại tại Nhật Bản trong một khoảng thời gian giới hạn. Đây cũng là lần đầu tiên MissingNo. được phát hiện.

Vào ngày 12 tháng 9 năm 1998, phiên bản đặc biệt của tựa trò chơi Pokémon Yellow với hình ảnh Pikachu đã được phát hành tại Nhật Bản, và sau đó ra mắt tại châu Âu cũng như châu Mỹ vào năm 1999. Mục đích ban đầu của việc phát hành trò chơi này là nhằm kết hợp anime đang rất được yêu thích với bộ phim điện ảnh đầu tiên của loạt phim. [31]

1999–2001: Thế hệ thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

Thế hệ thứ hai của trò chơi điện tử Pokémon bắt đầu vào năm 1999 với việc phát hành Pokémon Gold và Silver tại Nhật Bản cho Game Boy Color, với Úc và Bắc Mỹ nhận trò chơi này vào tháng 10 năm 2000 và ngày phát hành ở Châu Âu là tháng 4 2001. Giống như thế hệ trước, một phiên bản nâng cao mang tên Pokémon Crystal sau đó đã cũng được phát hành.

Thế hệ này đã giới thiệu 100 loài Pokémon mới (bắt đầu với Chikorita và kết thúc với Celebi), nâng tổng số Pokémon có thể thu thập, huấn luyện và sử dụng trong chiến đấu lên con số 251. Các tính năng lối chơi mới bao gồm hệ thống ngày-đêm (phản ánh thời gian thực tế) ảnh hưởng đến các sự kiện trong trò chơi; tận dụng tối đa bảng màu của hệ máy Game Boy Color; giao diện được cải tiến cùng hệ thống quản lý vật phẩm được nâng cấp; sự cân bằng tốt hơn trong việc thu thập Pokémon cũng như các chiêu thức, chỉ số và vật phẩm trang bị (một tính năng mới); bổ sung hai hệ Pokémon mới (Hệ Bóng tối và Hệ Thép) nhằm cân bằng hơn điểm mạnh và điểm yếu của từng loài; tính năng lai tạo Pokémon; và một vùng đất mới mang tên Johto. Sau khi khám phá Johto, người chơi có thể di chuyển về phía đông để khám phá vùng Kanto nằm liền kề.

Các tựa trò chơi ngoại truyện thuộc thế hệ thứ hai bao gồm Pokémon Puzzle Challenge — phiên bản chuyển thể từ Pokémon Puzzle League (một trò chơi giải đố do Zoppf Industries phát triển) dành riêng cho hệ máy Game Boy Color ; tựa trò chơi mô phỏng nuôi thú ảo Hey You, Pikachu! trên hệ máy Nintendo 64; Pokémon Stadium 2 (phần tiếp theo của Pokémon Stadium) dành cho Nintendo 64; một số trò chơi mini-game dành cho thiết bị e-Reader; cùng sự góp mặt của nhiều loài Pokémon trong Super Smash Bros. Melee — phần tiếp theo của loạt trò chơi Super Smash Bros. trên hệ máy GameCube.[32] Pokémon Mini là một hệ máy chơi trò chơi cầm tay được phát hành vào tháng 12 năm 2001 tại Nhật Bản và năm 2002 tại châu Âu và Bắc Mỹ. Thế hệ này đã khởi đầu một xu hướng ở các thế hệ mang số chẵn, đó là mang đến cho Pokémon Eevee các dạng tiến hóa thuộc hệ mới bên cạnh ba dạng tiến hóa ban đầu của thế hệ thứ nhất.

2002–2005: Thế hệ thứ ba

[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt Pokémon bước sang thế hệ thứ ba với việc phát hành Pokémon Ruby và Sapphire vào năm 2002 trên hệ máy Game Boy Advance, tiếp nối bằng các phiên bản làm lại trên cùng hệ máy này là Pokémon Red và Green, Pokémon FireRed và LeafGreen (Aka và Ao – nguyên bản từ những tựa trò chơi thế hệ đầu tiên tại Nhật Bản; trong khi đó, các thị trường bên ngoài Nhật Bản lại phát hành hai phiên bản tên Red và Blue). Sau đó, một phiên bản cải tiến của Pokémon Ruby và Sapphire mang tên Pokémon Emerald cũng đã được ra mắt.

Thế hệ thứ ba đã giới thiệu 135 Pokémon mới (bắt đầu với Treecko và kết thúc với Deoxys), nâng tổng số loài lên 386. Phiên bản này cũng sở hữu môi trường có độ chi tiết hình ảnh cao hơn so với các trò chơi trước, cơ chế "tính cách" ảnh hưởng đến chỉ số Pokémon, cơ chế đấu Pokémon 2-chọi-2 mới, hệ thống năng lực đặc biệt áp dụng cho từng Pokémon trong trận chiến, trò chơi phụ Pokémon Contest, vùng đất mới Hoenn, khả năng chọn giới tính cho nhân vật chính và tính năng Secret Base (Căn cứ bí mật): những "căn phòng" có thể tùy biến nơi người chơi trưng bày các vật phẩm thu thập được trong game và đấu với bạn bè ngoài đời thực. Người chơi có thể tạo Secret Base trong các bụi cây, hốc cây hoặc cửa hang nhỏ trên bản đồ bằng cách sử dụng chiêu thức Secret Power — một chiêu thức có thể dạy cho hầu hết mọi Pokémon. Tuy nhiên, thế hệ này cũng vấp phải một số chỉ trích vì đã loại bỏ vài tính năng lối chơi, bao gồm hệ thống ngày-đêm từng xuất hiện ở thế hệ trước (bị loại bỏ do vấn đề về pin lưu trữ dữ liệu bên trong băng); đây cũng là phiên bản đầu tiên khuyến khích người chơi chỉ thu thập một nhóm Pokémon chọn lọc thay vì cố gắng bắt trọn bộ tất cả các loài hiện có (chỉ có 202 trong tổng số 386 loài có thể bắt được trong hai phiên bản Ruby và Sapphire). Cũng vào khoảng thời gian này, thương hiệu đã lấy lại được sự phổ biến và đạt cột mốc phân phối hơn 100 triệu bản trên toàn thế giới.[33][34]

Các tựa trò chơi ngoại truyện thuộc thế hệ thứ ba bao gồm Pokémon Pinball: Ruby & Sapphire cho Game Boy Advance; Pokémon Mystery Dungeon: Blue Rescue Team và Red Rescue Team cho Game Boy Advance và Nintendo DS; Pokémon Dash, Pokémon Trozei! và Pokémon Ranger cho Nintendo DS;Pokémon Channel và Pokémon Box: Ruby và Sapphire cho GameCube; cùng hai tựa trò chơi nhập vai dành cho hệ máy GameCube là Pokémon Colosseum và Pokémon XD: Gale of Darkness.

2006–2009: Thế hệ thứ tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2006, Nhật Bản đã khởi động thế hệ thứ tư của loạt trò chơi này với việc phát hành Pokémon Diamond và Pearl trên hệ máy Nintendo DS. Các tựa trò chơi này phát hành tại Bắc Mỹ vào ngày 22 tháng 4 năm 2007 và tại Úc vào ngày 21 tháng 6 năm 2007. Trò chơi cũng phát hành tại Vương quốc Anh và châu Âu vào ngày 27 tháng 7 năm 2007.[35] Các tựa game chính khác thuộc thế hệ thứ tư bao gồm Pokémon Platinum – một phiên bản "Director's cut" (phiên bản hoàn thiện theo ý đồ của đạo diễn) của Diamond và Pearl, tương tự như Pokémon Yellow, Crystal, và Emerald.[36][37] Trò chơi phát hành cho hệ máy Nintendo DS tại Nhật Bản vào ngày 13 tháng 9 năm 2008,[38] tại Bắc Mỹ vào ngày 22 tháng 3 năm 2009[39][40] tại Úc cùng châu Âu vào ngày 14 tháng 5 năm 2009,[41] và 22 tháng 5 năm 2009,[42] thêm thông báo Pokémon Gold và Silver sẽ được làm lại cho Nintendo DS với tên gọi Pokémon HeartGold và SoulSilver.[43] Trò chơi phát hành tại Nhật Bản vào ngày 12 tháng 9 năm 2009, các trò chơi này sau đó đã được phát hành tại Bắc Mỹ, Úc và Châu Âu trong tháng 3 năm 2010.[44][45][46]

Thế hệ thứ tư giới thiệu thêm 107 loài Pokémon mới (bắt đầu với Turtwig và kết thúc với Arceus), nâng tổng số loài Pokémon lên con số 493. Đây là thế hệ đầu tiên áp dụng đồ họa 3D trong các tựa trò chơi thuộc dòng chính, mặc dù vẫn là sự kết hợp giữa đồ họa 3D và hình ảnh dạng sprite. Các yếu tố lối chơi mới bao gồm hệ thống phân loại chiêu thức được tái cấu trúc, tính năng trao đổi và đấu Pokémon trực tuyến với nhiều người chơi thông qua Nintendo Wi-Fi Connection, sự trở lại (và mở rộng) của hệ thống ngày-đêm từ thế hệ thứ hai, việc nâng cấp các cuộc thi Pokémon Contest của thế hệ thứ ba thành "Super Contests", cùng với vùng đất Sinnoh mới – nơi có khu vực lòng đất dành cho chế độ nhiều người chơi bên cạnh bản đồ chính trên mặt đất. Các "Căn cứ bí mật" (Secret Bases) cũng xuất hiện tại Sinnoh nhưng chỉ có thể được tạo và đặt tại khu vực lòng đất của vùng này. Ngoài ra, hai phiên bản HeartGold và SoulSilver còn mang đến sự kiện Pokéathlon cho vùng Johto, bao gồm nhiều môn thể thao dành cho Pokémon có sử dụng bút cảm ứng.

Các tựa trò chơi ngoại truyện thuộc thế hệ thứ tư bao gồm Pokémon Battle Revolution (phần tiếp theo của Pokémon Stadium) dành cho hệ máy Wii (có hỗ trợ kết nối Wi-Fi[47]), Pokémon Ranger: Shadows of Almia và Pokémon Ranger: Guardian Signs dành cho Nintendo DS; bộ đôi Pokémon Mystery Dungeon: Explorers of Time và Explorers of Darkness cùng phiên bản mở rộng Explorers of Sky (tất cả đều dành cho Nintendo DS); sự góp mặt của Pikachu, Jigglypuff, Lucario và một Pokémon Trainer (sử dụng Squirtle, Ivysaur và Charizard để chiến đấu) trong tựa trò chơi đối kháng Super Smash Bros. Brawl (phát hành năm 2008 trên Wii); cũng như chuyến phiêu lưu kỳ thú của Pikachu và những người bạn trong PokéPark Wii: Pikachu's Adventure.

2010–2012: Thế hệ thứ năm

[sửa | sửa mã nguồn]

Thế hệ thứ năm của loạt bắt đầu vào ngày 18 tháng 9 năm 2010 với việc phát hành Pokémon Black và White tại Nhật Bản. Sau đó, các tựa trò chơi này phát hành tại Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc vào tháng 3 năm 2011 trên hệ máy Nintendo DS, cùng nền tảng với thế hệ tiền nhiệm. Bối cảnh của trò chơi diễn ra tại vùng Unova. Các tính năng mới bao gồm C-Gear (cho phép người chơi sử dụng các tùy chọn Wi-Fi và tùy biến); hai phương thức chiến đấu mới là "Triple Battles" (đấu ba - nơi ba Pokémon cùng ra trận một lúc) và "Rotation Battles" (đấu xoay vòng - nơi ba Pokémon cũng ra trận cùng lúc nhưng nhà huấn luyện có thể đổi vị trí giữa chúng); "Battle Tests" (nơi các nhà huấn luyện đấu với nhau để so tài sức mạnh Pokémon); Pokémon Musicals (tương tự như Pokémon Contests, nơi nhà huấn luyện cho Pokémon biểu diễn nhảy múa tại nhà hát cùng các Pokémon khác); và cơ chế không làm mất Technical Machine (TM) sau khi sử dụng. Các tựa chính khác, cũng là những phiên bản bổ sung cho Black và White mang tên Pokémon Black 2 và White 2, là các phần tiếp theo trực tiếp. Bối cảnh trò chơi diễn ra tại vùng Unova vào hai năm sau; trò chơi phát hành tại Nhật Bản vào ngày 23 tháng 6 năm 2012, và tại Bắc Mỹ, Úc cùng Châu Âu vào tháng 10 cùng năm trên hệ máy Nintendo DS. Các tựa trò chơi này có những điểm khác biệt so với các phiên bản tiền nhiệm: nhân vật chính (nhà huấn luyện) đã thay đổi, và nhiều nhân vật quan trọng khác cũng có sự thay đổi. Trò chơi cũng giới thiệu một tính năng mới là "Pokémon World Tournament", nơi các huấn luyện viên có thể thi đấu với các Thủ lĩnh Nhà thi đấu và Nhà vô địch từ các vùng đất trước đây, bao gồm cả Unova. Ngoài ra, các tựa này còn phá vỡ truyền thống phát hành phiên bản thứ ba để bổ sung cho các phiên bản chính.

Thế hệ này đã giới thiệu tổng cộng 156 Pokémon mới (bắt đầu với Victini và kết thúc bằng Genesect), con số lớn nhất trong số các thế hệ tính đến thời điểm đó. Đây cũng là thế hệ đầu tiên mà Pokémon mới đứng đầu danh sách National Pokédex (Victini) không phải là Pokémon khởi đầu. Thế hệ này còn giới thiệu một tính năng mới khác là các mùa trong năm, được thể hiện qua hai loài Pokémon là Deerling và Sawsbuck. Khác với các thế hệ trước vốn thường giới thiệu một số loài Pokémon có quan hệ tiến hóa với các Pokémon từ thế hệ cũ, danh sách Pokémon của thế hệ thứ năm hoàn toàn là những loài mới, nhằm mang lại cảm giác như một tựa trò chơi hoàn toàn mới cho các phiên bản chính.

Các tựa trò chơi ngoại truyện thuộc thế hệ thứ năm bao gồm các phần tiếp theo như Pokémon Rumble Blast và Pokémon Mystery Dungeon: Gates to Infinity cho Nintendo 3DS, PokéPark 2: Wonders Beyond cho Wii, và Pokémon Rumble U là trò chơi tải xuống dành cho Wii U. Ngoài ra còn có Learn with Pokémon: Typing Adventure (trò chơi luyện gõ phím) và Pokémon Conquest (tựa trò chơi kết hợp) dành cho Nintendo DS, cùng các ứng dụng tra cứu có thể tải về như Pokédex 3D, Pokédex 3D Pro (cho Nintendo 3DS), và Pokédex for iOS (cho các thiết bị iOS); các ứng dụng này cho phép người chơi xem thông tin về các loài Pokémon kèm theo mô hình 3D của chúng. Nhiều Pokémon thuộc thế hệ thứ năm cũng đã xuất hiện trong Super Smash Bros. cho Nintendo 3DS và Wii U và Super Smash Bros. Ultimate, bao gồm Reshiram, Zekrom, Klinklang, Axew, Druddigon và nhiều loài khác.

2013–2015: Thế hệ thứ sáu

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 12 năm 2012, tạp chí Nintendo Dream của Nhật Bản đã đăng tải một tấm thiệp chúc mừng do Game Freak gửi đến. Trong tấm thiệp, Masuda Junichi bày tỏ ý định sẽ tiếp tục phát triển thế giới Pokémon trong năm 2013. Ngày 29 tháng 12 năm 2012, một đoạn quảng cáo mới cho Pokémon Black 2 và White 2 đã được phát sóng tại Nhật Bản, kết thúc bằng thông báo gửi tới người hâm mộ rằng tin tức mới nhất sẽ được công bố vào ngày 8 tháng 1 năm 2013. Vào ngày 4 tháng 1 năm 2013, các trang web Pokémon phiên bản tiếng Nhật và tiếng Anh đều xác nhận rằng một thông báo sẽ được đưa ra vào ngày 8 tháng 1. Ngày 7 tháng 1 năm 2013, trang web tiếng Nhật thông báo rằng Chủ tịch Nintendo là Iwata Satoru sẽ chủ trì một buổi phát sóng trực tuyến kéo dài 10 phút mang tên "Pokémon Direct" để công bố tin tức quan trọng về Pokémon. Vào ngày 8 tháng 1 năm 2013, Iwata Satoru đã công bố thế hệ Pokémon thứ sáu cùng hai tựa trò chơi mới là "Pokémon X" và "Y"; các trò chơi này đã được phát hành trên hệ máy Nintendo 3DS vào ngày 12 tháng 10 năm 2013 trên toàn thế giới.[48] Các tựa "X" và "Y" được hiển thị dưới dạng 3D hoàn toàn;[49] tuy nhiên, chỉ một số phần nhất định của trò chơi mới có thể hiển thị ở chế độ 3D lập thể.[50] Video đã giới thiệu các nhân vật người chơi và các Pokémon khởi đầu; hệ Cỏ.Chespin (tiếng Nhật: Harimaron (ハリマロン Harimaron?), hệ Lửa Fennekin (tiếng Nhật: Fokko (フォッコ Fokko?), và hệ Nước Froakie (tiếng Nhật: Keromatsu (ケロマツ Keromatsu?), và hai Pokémon khác, chưa được nêu tên cho đến về sau; một Pokémon giống chim có tên là Yveltal (イベルタル Iberutaru?) có hình dạng giống chữ Y và một Pokémon giống hươu có tên là Xerneas (ゼルネアス Zeruneasu?) với đôi mắt có tròng mắt hình chữ X. Một tháng sau, Sylveon (tiếng Nhật: Nymphia (ニンフィア Ninfia?), công bố một dạng tiến hóa mới của Eevee thuộc hệ Tiên và hiện là dạng tiến hóa cuối cùng của Eevee.[51][52] Vào ngày 7 tháng 5 năm 2014, Nintendo đã công bố các tựa Pokémon Omega Ruby và Alpha Sapphire thông qua một đoạn video giới thiệu; đây là các phiên bản làm lại của những tựa trò chơi thuộc thế hệ thứ ba là Pokémon Ruby và Sapphire. Các trò chơi này đã được phát hành trên toàn cầu vào tháng 11 năm 2014.[53]

Thế hệ này đã giới thiệu tổng cộng 72 Pokémon mới, hệ Tiên mới, cơ chế Tiến hóa Mega (Mega Evolution), vùng đất Kalos, tính năng tùy biến Nhà huấn luyện, Super Training, cùng ba chế độ chiến đấu mới: Sky Battles, Horde Encounters và Inverse Battle. Đây cũng là thế hệ đầu tiên tương thích với Pokémon Bank.

Greninja – dạng tiến hóa cuối cùng của Froakie – sau đó đã trở thành đại diện cho thế hệ Pokémon thứ sáu trong tựa trò chơi đối kháng đình đám Super Smash Bros. cho Nintendo 3DS và Wii U. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2014, công bố Pokkén Tournament; trò chơi này ra mắt tại các trung tâm trò chơi điện tử ở Nhật Bản vào ngày 16 tháng 7 năm 2015 và phát hành trên toàn cầu cho hệ máy Wii U vào ngày 18 tháng 3 năm 2016. Tựa trò chơi này do Bandai Namco Entertainment phát triển.[54] Vào tháng 7 năm 2016, Niantic và Nintendo đã phát hành một tựa trò chơi thực tế tăng cường miễn phí có tên là Pokémon Go dành cho các thiết bị chạy hệ điều hành Android và iOS.[55]

2016–2018: Thế hệ thứ bảy

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong buổi thuyết trình Nintendo Direct diễn ra vào ngày 26 tháng 2 năm 2016, hai tựa trò chơi Pokémon mới mang tên Pokémon Sun và Moon đã được công bố. Các trò chơi này được phát hành trên hệ máy Nintendo 3DS vào ngày 18 tháng 11 năm 2016 tại Nhật Bản, Bắc Mỹ và Úc, và vào ngày 23 tháng 11 năm 2016 tại châu Âu.[56] Đây là những tựa trò chơi đầu tiên kể từ thế hệ thứ hai có khả năng tương thích ngược với các tựa khác, bao gồm Pokémon X và Y; Pokémon Omega Ruby và Alpha Sapphire; cùng các phiên bản phát hành lại trên Virtual Console của Pokémon Red, Blue và Yellow. Vào ngày 6 tháng 6 năm 2017, công bố Pokémon Ultra Sun và Ultra Moon Hai tựa trò chơi này mang đến những nội dung mới bổ sung cho cốt truyện của Pokémon Sun và Moon, cũng như các tính năng mới, và đã phát hành toàn cầu trên hệ máy Nintendo 3DS vào ngày 17 tháng 11 năm 2017.[57] Vào ngày 29 tháng 5 năm 2018, công bố hai tựa trò chơi mới thuộc dòng chính của thương hiệu Pokémon là Pokémon: Let's Go, Pikachu! và Pokémon: Let's Go, Eevee!. Đây là các phiên bản làm lại của Pokémon Yellow với cơ chế lối chơi được kế thừa từ Pokémon Go, và đã phát hành trên toàn cầu cho hệ máy Nintendo Switch vào ngày 16 tháng 11 năm 2018.

Tổng cộng, thế hệ này đã giới thiệu 88 loài Pokémon mới, các dạng Alola, các thử thách, chiêu thức Z, Poké Pelago và Festival Plaza. Đây cũng là thế hệ đầu tiên giới thiệu thêm Pokémon ở giai đoạn giữa chu kỳ, với năm loài Pokémon mới ra mắt trong Pokémon Ultra Sun và Ultra Moon, cùng hai loài Pokémon mới khác ,xuất hiện lần đầu trong Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee!.

2019–2022: Thế hệ thứ tám

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại sự kiện E3 2017, Nintendo và The Pokémon Company đã thông báo Game Freak đang phát triển một tựa trò chơi nhập vai Pokémon mới thuộc dòng chính, dự kiến ​​sẽ phát hành trên hệ máy Nintendo Switch[58] khoảng "năm 2018 hoặc trễ hơn."[59][60] Trò chơi này thuộc thế hệ thứ tám của dòng Pokémon.[61] Cùng với việc công bố Pokémon: Let's Go, Pikachu! và Pokémon: Let's Go, Eevee! cũng xác nhận rằng một tựa trò chơi nhập vai Pokémon thuộc dòng chính khác sẽ được phát hành vào cuối năm 2019. Đồng thời, thông tin cũng được làm rõ rằng tựa trò chơi năm 2019 này chính là dự án từng được đề cập tại sự kiện E3 2017, chứ không phải là các tựa Let's Go. Masuda Junichi cho biết tựa trò chơi này cũng sẽ "tiếp nối truyền thống của Pokémon X và Y và Pokémon Sun và Moon".[62][63] Giám đốc điều hành của The Pokémon Company, Ishihara Tsunekazu, cũng xác nhận trò chơi chính sắp ra mắt sẽ không chịu ảnh hưởng từ Pokémon Go như Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee! had.[64][65] Vào ngày 27 tháng 2 năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 23 năm của thương hiệu, Pokémon Sword và Shield đã được xác nhận cho Nintendo Switch và được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 15 tháng 11 năm 2019.[66][67] Pokémon Sword và Shield lấy bối cảnh tại vùng Galar, giới thiệu các Pokémon mới, các dạng Galarian, Champion Cup, Dynamax, các dạng Gigantamax, các trận đấu Max Raid và Pokémon Camp. Vào ngày 9 tháng 1 năm 2020, công bố hai gói mở rộng mang tên The Isle of Armor và The Crown Tundra. The Isle of Armor phát hành vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, và The Crown Tundra phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2020.[68] Vào ngày 26 tháng 2 năm 2021, công bố Brilliant Diamond và Shining Pearl đây là các phiên bản làm lại của Pokémon Diamond và Pearl (thuộc thế hệ thứ tư), do ILCA phát triển và dự kiến ​​ra mắt vào cuối năm đó. Cũng trong cùng ngày, hãng công bố Pokémon Legends: Arceus, là phần tiền truyện của Brilliant Diamond và Shining Pearl. Brilliant Diamond và Shining Pearl phát hành ngày 19 tháng 11 năm 2021, trong khi Pokémon Legends: Arceus ra mắt ngày 28 tháng 1 năm 2022.

Thế hệ này đã giới thiệu tổng cộng 96 Pokémon mới, với 81 loài xuất hiện trong Sword và Shield, 8 loài trong các bản mở rộng và 7 loài trong Pokémon Legends: Arceus.

Vào ngày 6 tháng 3 năm 2020, phiên bản làm lại của các tựa Mystery Dungeon, Red và Blue Rescue Team đã được phát hành với tên gọi Pokémon Mystery Dungeon: Rescue Team DX. Vào ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại cuộc diễu hành Lễ Tạ ơn của Macy's, thương hiệu Pokémon đã hé lộ logo kỷ niệm 25 năm (diễn ra vào năm 2021) cũng như thông tin chi tiết về sự kiện kỷ niệm đặc biệt sẽ sớm được công bố.[69]

2022–2026: Thế hệ thứ chín

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 27 tháng 2 năm 2022, Pokémon Scarlet và Violet đã được công bố cho hệ máy Nintendo Switch, với thời điểm phát hành dự kiến ​​vào cuối năm 2022.[70] Các trò chơi được phát hành vào ngày 18 tháng 11 năm 2022. Vào ngày 27 tháng 2 năm 2023, một gói mở rộng gồm hai phần đã được công bố với tựa The Hidden Treasure of Area Zero. Phần một, The Teal Mask, phát hành vào ngày 13 tháng 9 năm 2023. Phần hai, The Indigo Disk, phát hành vào ngày 14 tháng 12 năm 2023.[71] Một phần kết mang tên Mochi Mayhem phát hành vào ngày 11 tháng 1 năm 2024.[72]

Tính đến nay, thế hệ này đã giới thiệu tổng cộng 120 Pokémon mới, bao gồm 103 loài được công bố trong Scarlet và Violet, 2 loài trong các sự kiện Tera Raid đặc biệt, 7 loài trong The Teal Mask, 7 loài trong The Indigo Disk và 1 loài trong Mochi Mayhem, nâng tổng số lượng Pokémon lên con số 1025.

Vào ngày 27 tháng 2 năm 2024, Pokémon Legends: Z-A đã được công bố sẽ phát hành trên hệ máy Nintendo Switch vào năm 2025.[73] Sau đó, có thông báo rằng trò chơi cũng sẽ có mặt trên Nintendo Switch 2.[74] Trò chơi được phát hành cho cả hai hệ máy dưới cả hai hình thức kỹ thuật số và vật lý vào ngày 16 tháng 10 năm 2025. Tựa trò chơi đánh dấu sự trở lại của Thành phố Lumiose thuộc vùng Kalos(từng xuất hiện trong Pokémon X và Y) và là lần đầu tiên cơ chế Mega Evolution xuất hiện trở lại trong một trò chơi Pokémon kể từ Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee![75]

2027–nay: Thế hệ thứ mười

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 27 tháng 2 năm 2026, Pokémon Winds và Waves đã được công bố cho Nintendo Switch 2, với thời điểm phát hành vào năm 2027.[76]

Trò chơi

[sửa | sửa mã nguồn]

Đón nhận

[sửa | sửa mã nguồn]
Doanh số và điểm đánh giá tổng hợp
Tính đến Ngày 3 tháng 2 năm 2026.
Trò chơi Năm Số lượng bán ra
(tính bằng triệu)
GameRankings Metacritic
Pokémon Aka và Ao 1996 31.38[77] 88%[78][79] –
Pokémon Yellow 1998 14.64[77] 85%[80] –
Pokémon Gold và Silver 1999 23.70[81] 90%[82][83] –
Pokémon Crystal 2000 6.30[77] 80%[84] –
Pokémon Ruby và Sapphire 2002 16.22[85] 84%[86][87] 82/100[88]
Pokémon FireRed và LeafGreen 2004 16[d] 81%[90][91] 81/100[92][93]
Pokémon Emerald 2004 7.06[94] 77%[95] 76/100[96]
Pokémon Diamond và Pearl 2006 17.67[97] 85%[98][99] 85/100[100][101]
Pokémon Platinum 2008 7.69[102] 83%[103] 84/100[104]
Pokémon HeartGold và SoulSilver 2009 12.72[97] 88%[105][106] 87/100[107][108]
Pokémon Black và White 2010 15.64[97] 86%[109][110] 87/100[111][112]
Pokémon Black 2 và White 2 2012 8.25[113] 81%[114][115] 80/100[116][117]
Pokémon X và Y 2013 16.78[118] 87%[119][120] 87/100[121][122]
Pokémon Omega Ruby và Alpha Sapphire 2014 14.67[118] 84%[123][124] 83/100[125]
Pokémon Sun và Moon 2016 16.33[118] 88%[126][127] 87/100[128][129]
Pokémon Ultra Sun và Ultra Moon 2017 9.26[118] 83%[130][131] 84/100[132][133]
Pokémon: Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee! 2018 15.07[134] 78%[135][136] 79/100 (Pikachu)[137]
80/100 (Eevee)[138]
Pokémon Sword và Shield 2019 27.08[134] 83%[139] 80/100[140][141]
Pokémon Brilliant Diamond và Shining Pearl 2021 15.06[134] – 73/100[142]
Pokémon Legends: Arceus 2022 15[134] – 83/100[143]
Pokémon Scarlet và Violet 2022 28.08[134] – 72/100 (Scarlet)[144]
71/100 (Violet)[145]
Pokémon Legends: Z-A 2025 12.79[89] – 78/100[146]

Sau năm tháng đầu tiên phát hành, các tựa trò chơi trên hệ máy Game Boy đã bán được gần 3 triệu bản.[147] Chúng được ghi nhận là một yếu tố giúp Game Boy duy trì doanh số mạnh mẽ tại Nhật Bản, vượt xa vòng đời thông thường của một hệ máy chơi trò chơi.[148]Tính đến ngày 29 tháng 2 năm 2016, loạt trò chơi này đã bán được hơn 279 triệu bản (bao gồm cả các tựa trò chơi ngoại truyện; 210 triệu bản thuộc về các tựa Pokémon chính).[149] giúp nó trở thành một trong những loạt trò chơi điện tử bán chạy nhất trong lịch sử.[150] Sách Kỷ lục Guinness đã trao cho dòng Pokémon 8 kỷ lục trong Guinness World Records: Gamer's Edition 2008, bao gồm "Loạt RPG thành công nhất mọi thời đại", "Loạt trò chơi có nhiều phần phim phụ nhất" và "Các cơn động kinh nhạy cảm nhất do một chương trình truyền hình gây ra".[151] Tính đến tháng 3 năm 2026, loạt đã bán ra hơn 515 triệu sản phẩm.[9]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ tiếng Nhật: ポケットモンスター, Hepburn: Poketto Monsutā
  2. ↑ Một cặp phiên bản làm lại, Pokémon Brilliant Diamond và Shining Pearl, là do ILCA phát triển.
  3. ↑ Việc bắt Pokémon hoang dã bằng cách làm suy yếu chúng trong trận chiến không được sử dụng trong Pokémon: Let's Go, Pikachu! và Let's Go, Eevee!,[20] và những Pokémon yếu hơn hoặc bị phân tâm có thể được bắt trước khi trận chiến bắt đầu trong Pokémon Legends: Arceus và Legends: Z-A.[21]
  4. ↑ bao gồm 12 triệu bản GBA và 4 triệu bản Nintendo Switch.[89]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ "Iwata Asks". iwataasks.nintendo.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
  2. ↑ "Inside the Minds behind Pokémon! | News | Pokemon.com". ngày 4 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
  3. ↑ MacDonald, Keza (ngày 16 tháng 2 năm 2011). "Pokemon's Master Speaks". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
  4. ↑ "Pokémon Companies - Serebii.net". www.serebii.net. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  5. ↑ Baird, Scott (ngày 3 tháng 2 năm 2021). "Who Owns The Pokémon Franchise". ScreenRant (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  6. ↑ "Who Actually Owns Pokemon?". GamerBraves (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2022.
  7. ↑ Webster, Andrew (ngày 28 tháng 2 năm 2019). "Pokémon Go spurred an amazing era that continues with Sword and Shield". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019.
  8. ↑ "『ポケットモンスター』 関連ゲームソフトの世界累計出荷本数が3億本を突破!". ngày 24 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
  9. 1 2 "Pokémon in Figures". The Pokémon Company. tháng 3 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2026.
  10. 1 2 Ramos, Jeff (ngày 16 tháng 11 năm 2019). "Pokémon Sword and Shield type strength and weakness chart". Polygon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2022.
  11. ↑ Padilla, Raymond. "Pokémon Ruby/Sapphire". GameSpy. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006.
  12. ↑ O'Connor, James. "Pokemon Rivals Are Always Better When They're Assholes". Fanbyte (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  13. ↑ Hovermale, Christopher (ngày 18 tháng 2 năm 2018). "Why Pokemon's evil teams rarely take over the whole story". Destructoid (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  14. ↑ Allison, Anne (tháng 5 năm 2006). Millennial Monsters: Japanese Toys and the Global Imagination. University of California Press. tr. 192–197. ISBN 9780520938991.
  15. ↑ Hướng dẫn Pokémon Chính thức – Phiên bản Diamond và Pearl, trang 277
  16. ↑ "Pokemon Scarlet and Violet: The Fastest Ways to Farm Exp. Points". CNET (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  17. ↑ King, Austin (ngày 14 tháng 10 năm 2025). "Pokémon Legends: Z-A Review – A Fresh Take on Battles and Mega Evolution". Screen Rant. Valnet. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  18. ↑ Ingram, Michael Brandon (ngày 1 tháng 3 năm 2025). "Pokemon Legends: Z-A Won't Have Abilities". Game Rant. Valnet. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  19. ↑ Rahaman, Reyadh (ngày 22 tháng 9 năm 2021). "Pokemon: Everything You Need To Know About Paralysis (Status Condition)". Game Rant (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
  20. ↑ Frank, Allegra (ngày 30 tháng 5 năm 2018). "Pokémon: Let's Go! is the series' big Switch debut, and it's targeting newcomers". Polygon. Vox Media. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  21. 1 2 Wood, Rhys (ngày 26 tháng 2 năm 2021). "Nintendo reveals Pokémon Legends: Arceus, a 'new approach' for the game series". TechRadar. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  22. ↑ Valentine, Rebekah (ngày 5 tháng 3 năm 2022). "Pokémon Violet and Scarlet Might Return to Traditional Catching Mechanics". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022.
  23. ↑ Greenbaum, Aaron (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "Why Eevee Is the Most Realistic Pokémon Ever". Den of Geek (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2024.
  24. ↑ Jones, Camden (ngày 16 tháng 11 năm 2019). "Pokemon Sword and Shield online trading | Can you trade for specific Pokemon on the GTS?". GameRevolution (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2022.
  25. ↑ Frank, Allegra (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "Trading Pokémon in Pokémon Go guide: How it works, who you can trade and more". Polygon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2022.
  26. ↑ Carpenter, Nicole (ngày 2 tháng 2 năm 2022). "Pokémon Legends Arceus guide: How to trade Pokémon". Polygon (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2022.
  27. ↑ Hernandez, Patricia (ngày 2 tháng 2 năm 2016). "One Man's Five-Year Quest To Find A Shiny Pokémon". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  28. ↑ Lee, Julia (ngày 16 tháng 10 năm 2025). "All Z-A Royale promotion match battles in Pokémon Legends: Z-A". Polygon. Valnet. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2025.
  29. ↑ "Pokemon Green Version". IGN (bằng tiếng Anh). News Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2019.
  30. ↑ Super Smash Bros., Nintendo, ASIN B00000J2W7
  31. ↑ Nintendo. (Nintendo Power 1998) Pokemon Yellow Special Pikachu Edition (bằng tiếng English).{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  32. ↑ Super Smash Bros. Melee Unlockable character guide Nintendo.com. Retrieved April 19, 2006.
  33. ↑ Pokemon In 2005 – IGN (bằng tiếng Anh), ngày 30 tháng 12 năm 2004, lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021, truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2021
  34. ↑ "Pokémon ships 100 million worldwide". GameSpot (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2021.
  35. ↑ "New Pokémon to Make Diamond-and-Pearl-Studded Debut" Lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine. Retrieved February 7, 2007.
  36. ↑ Vore, Bryan (tháng 4 năm 2009). "Pokémon Platinum review". Game Informer. Số 192. tr. 90.
  37. ↑ "Pokemon Platinum revealed, set for fall release in Japan – Joystiq". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  38. ↑ Gifford, Kevin (ngày 3 tháng 9 năm 2008). "Running the Gamut of Famitsu RPG Reviews". 1UP.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
  39. ↑ "Pokémon Platinum Version". pokemon.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2008.
  40. ↑ "Pokémon Platinum Version". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009.
  41. ↑ "Pokemon Platinum hits Australia this May". GoNintendo. ngày 24 tháng 3 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2009.
  42. ↑ East, Tom (ngày 2 tháng 12 năm 2009). "News: Pokemon Platinum Release Date Confirmed". Official Nintendo Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009.
  43. ↑ Tanaka, John (ngày 7 tháng 5 năm 2009). "New Pokemon Games Confirmed". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009.
  44. ↑ "Nintendo unveils its video game lineup for early 2010". Nintendo Canada. ngày 14 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009.
  45. ↑ "Pokémon HeartGold Version và Pokémon SoulSilver Version release date announced!". Nintendo of Australia. ngày 22 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010.
  46. ↑ "News: Pokémon HeartGold/SoulSilver UK release date revealed". Official Nintendo Magazine. ngày 12 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010.
  47. ↑ "Cubed3 Pokémon Battle Revolution Confirmed for Wii Lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2007 tại Wayback Machine" Cubed3.com. Retrieved June 7, 2006.
  48. ↑ Goldfarb, Andrew (ngày 11 tháng 6 năm 2013). "E3 2013: Pokemon X & Y Release Date Announced". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2026.
  49. ↑ "Pokémon X and Pokémon Y announcement on Nintendo Direct". nintendo.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2016.
  50. ↑ Quillen, Dustin (ngày 4 tháng 10 năm 2013). "Pokémon X & Y Versions Revie". US Gamer. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  51. ↑ CoroCoro Comic, March 2013 Issue, Shogakukan.
  52. ↑ "Meet Sylveon, Pokémon X và Pokémon Y's Eighth Eeevee Evolution". Siliconera. ngày 14 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2013.
  53. ↑ Scullion, Chris (ngày 7 tháng 5 năm 2014). "Pokemon Ruby & Sapphire remakes coming to 3DS". CVG Online. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2014.
  54. ↑ "Pokkén Tournament, A Pokémon Fighting Game, Announced For Arcades". Siliconera. ngày 26 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014.
  55. ↑ Statt, Nick (ngày 5 tháng 7 năm 2016). "Pokémon Go is now rolling out for iOS and Android". The Verge (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.
  56. ↑ Frank, Allegra (ngày 26 tháng 2 năm 2016). "Pokémon Sun và Moon officially unveiled, out later this year". Polygon. Vox Media. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2016.
  57. ↑ "Pokémon Ultra Sun và Pokémon Ultra Moon | Pokémon Video Games". www.pokemon.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.
  58. ↑ Gartenberg, Chaim (ngày 13 tháng 6 năm 2017). "A proper Pokémon game is coming to the Nintendo Switch". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2017.
  59. ↑ "Pokémon on Nintendo Switch is Due '2018 or Later', But That's No Surprise". ngày 26 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2018.
  60. ↑ "Nintendo Still Lists Pokemon Switch Release Date as "2018 or Later"". ngày 26 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2018.
  61. ↑ Craddock, Ryan (ngày 16 tháng 4 năm 2018). "Official Nintendo Magazine Confirms Pokémon On Switch Will Be 'Generation Eight'". Nintendo Life. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2018.
  62. ↑ Farokhmanesh, Megan (ngày 29 tháng 5 năm 2018). "Another Pokémon game is still coming in 2019". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  63. ↑ DeFreitas, Casey (ngày 29 tháng 5 năm 2018). "Core Pokemon RPG Coming to Nintendo Switch 2019". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  64. ↑ "Pokèmon 2019 won't be influenced by Pokémon GO". Amino. ngày 31 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  65. ↑ "Core RPG Pokemon Switch 2019 Game 'Will NOT Be Influenced by Pokemon Go'". Gaming INTEL. ngày 31 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  66. ↑ Webster, Andrew (ngày 27 tháng 2 năm 2019). "Pokémon Sword and Shield are coming to the Switch this year". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2019.
  67. ↑ Webster, Andrew (ngày 5 tháng 6 năm 2019). "Pokémon Sword and Shield will launch on November 15th". The Verge (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2019.
  68. ↑ Bonifacic, Igor (ngày 9 tháng 1 năm 2020). "'Pokémon Sword' and 'Shield' are getting an expansion pass". Engadget. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
  69. ↑ Pokémon [@Pokemon] (ngày 26 tháng 11 năm 2020). "Need one more thing to be thankful for today, Trainers? Our Pokémon 25th Anniversary celebration kicks off in 2021! Stay tuned for more details 😉 #Pokemon25" (Tweet) (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020 – qua Twitter.
  70. ↑ "Pokemon Scarlet and Pokemon Violet Announced for Late 2022". IGN. ngày 27 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2022.
  71. ↑ "New ways to play and more exciting details announced for the Hidden Treasure of Area Zero Part 2: The Indigo Disk – News – Nintendo Official Site". www.nintendo.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2023.
  72. ↑ Hagues, Alana (ngày 15 tháng 1 năm 2024). "Pokémon Scarlet & Violet: How To Start Mochi Madness Epilogue & Catch The New Mythical Pokémon". NintendoLife. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2024.
  73. ↑ Bailey, Kat (ngày 27 tháng 2 năm 2024). "New Pokémon Legends Announced for 2025 – Pokémon Presents 2024". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  74. ↑ Yin-Poole, Wesley (ngày 28 tháng 5 năm 2025). "Pokémon Legends: Z-A and Pokémon Legends: Z-A – Nintendo Switch 2 Edition Have a Release Date, Pokémon Presents Set for July". IGN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2025.
  75. ↑ Michael, Cale (ngày 27 tháng 2 năm 2024). "Pokémon Legends: Z-A coming 2025, features return to Kalos and Mega Evolution". Dot Esports (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  76. ↑ Moreau, Jordan (ngày 27 tháng 2 năm 2026). "'Pokémon' Reveals New Games, 'Winds' and 'Waves,' 2027 Release Date and 10th Generation Starters". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2026.
  77. 1 2 3 Top 10 of Everything 2017. London, England: Hachette UK. ngày 6 tháng 10 năm 2016. tr. 115. ISBN 978-0600633747. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.
  78. ↑ "Pokemon Red Version for Game Boy - GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.
  79. ↑ "Pokemon Blue Version for Game Boy – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.
  80. ↑ "Pokemon Yellow Version: Special Pikachu Edition for Game Boy – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.
  81. ↑ "約4年ぶり! ポケモン完全新作が2010年内発売へ|ライフ関連ニュース|オリコン顧客満足度ランキング". ORICON NEWS (bằng tiếng Nhật). ngày 29 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2021.
  82. ↑ "Pokemon Gold Version for Game Boy Colour – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  83. ↑ "Pokemon Silver Version for Game Boy Colour – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  84. ↑ "Pokemon Crystal Version for Game Boy Colour – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  85. ↑ Rose, Mike (ngày 15 tháng 10 năm 2013). "Pokemon X & Y sell 4M copies in first weekend". Gamasutra. Think Services. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  86. ↑ "Pokemon Ruby Version for Game Boy Advance – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  87. ↑ "Pokemon Sapphire Version for Game Boy Advance – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  88. ↑ "Pokemon Ruby Version for Game Boy Advance Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  89. 1 2 Manchester, Austin (ngày 8 tháng 5 năm 2026). "Two classic Pokémon games are selling just as fast as Pokopia, Nintendo confirms". Polygon.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2026.
  90. ↑ "Pokemon FireRed Version for Game Boy Advance – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  91. ↑ "Pokemon LeafGreen Version for Game Boy Advance – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  92. ↑ "Pokemon FireRed Version for Game Boy Advance Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  93. ↑ "Pokemon LeafGreen Version for Game Boy Advance Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  94. ↑ "Million-Seller Titles of NINTENDO Products" (pdf). Nintendo Co. Ltd. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  95. ↑ "Pokemon Emerald Version for Game Boy Advance – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  96. ↑ "Pokemon Emerald Version for Game Boy Advance Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  97. 1 2 3 "Top Selling Software Sales Units – Nintendo DS Software". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020.
  98. ↑ "Pokemon Diamond Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  99. ↑ "Pokemon Pearl Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  100. ↑ "Pokemon Diamond Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  101. ↑ "Pokemon Pearl Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  102. ↑ "Financial Results Briefing for Fiscal Year Ended March 2010" (PDF). Nintendo. ngày 7 tháng 5 năm 2010. tr. 10. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  103. ↑ "Pokemon Platinum Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  104. ↑ "Pokemon Platinum Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  105. ↑ "Pokemon HeartGold Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  106. ↑ "Pokemon SoulSilver Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  107. ↑ "Pokemon HeartGold Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  108. ↑ "Pokemon SoulSilver Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  109. ↑ "Pokemon Black Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  110. ↑ "Pokemon White Version for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  111. ↑ "Pokemon Black Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  112. ↑ "Pokemon White Version for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  113. ↑ Phillips, Tom (ngày 30 tháng 1 năm 2013). "Nintendo cuts Wii U sales forecast by 1.5 million, says console having "a negative impact on profits"". Eurogamer. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2018.
  114. ↑ "Pokemon Black Version 2 for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  115. ↑ "Pokemon White Version 2 for DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  116. ↑ "Pokemon Black Version 2 for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  117. ↑ "Pokemon White Version 2 for DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  118. 1 2 3 4 "Top Selling Software Sales Units – Nintendo 3DS Software". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020.
  119. ↑ "Pokemon X for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  120. ↑ "Pokemon Y for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  121. ↑ "Pokemon X for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  122. ↑ "Pokemon Y for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  123. ↑ "Pokemon Omega Ruby for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  124. ↑ "Pokemon Alpha Sapphire for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  125. ↑ "Pokemon Omega Ruby for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  126. ↑ "Pokemon Sun for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  127. ↑ "Pokemon Moon for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  128. ↑ "Pokemon Sun for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  129. ↑ "Pokemon Moon for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  130. ↑ "Pokemon Ultra Sun for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  131. ↑ "Pokemon Ultra Moon for 3DS – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  132. ↑ "Pokemon Ultra Sun for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  133. ↑ "Pokemon Ultra Moon for 3DS Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  134. 1 2 3 4 5 "Top Selling Software Sales Units – Nintendo Switch Software". Nintendo. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
  135. ↑ "Pokemon Let's Go, Pikachu! for Nintendo Switch – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  136. ↑ "Pokemon Let's Go, Eevee! for Nintendo Switch – GameRankings". www.gamerankings.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  137. ↑ "Pokemon Let's Go, Pikachu! for Nintendo Switch Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  138. ↑ "Pokemon Let's Go, Eevee! for Nintendo Switch Reviews – Metacritic". www.metacritic.com. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  139. ↑ "Video Game Reviews, Articles, Trailers and more – Metacritic". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2019.
  140. ↑ "Pokemon Sword for Switch Reviews". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  141. ↑ "Pokemon Shield for Switch Reviews". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  142. ↑ "Pokemon Brilliant Diamond for Switch Reviews". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
  143. ↑ "Pokemon Legends: Arceus for Switch Reviews". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
  144. ↑ "Pokemon Scarlet". Metacritic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2022.
  145. ↑ "Pokemon Violet". Metacritic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2022.
  146. ↑ "Pokemon Legends: Z-A Reviews". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
  147. ↑ "Pikachu out of pocket". Next Generation. Số 43. Imagine Media. tháng 7 năm 1996. tr. 33.
  148. ↑ "Tidbits...". Electronic Gaming Monthly. Số 101. Ziff Davis. tháng 12 năm 1997. tr. 27.
  149. ↑ "The Total Sales for Pokémon Are Staggering". Kotaku. ngày 17 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2016.
  150. ↑ Whitehead, Thomas (ngày 18 tháng 3 năm 2016). "The Pokémon Company Confirms Outstanding Lifetime Sales For The Franchise". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016.
  151. ↑ Clodfelter, Tim (ngày 17 tháng 4 năm 2008). "Record Book Focused on the Gamers". Winston-Salem Journal. tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]