Bước tới nội dung

Quan Kế Huy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Quan Kế Huy
Quan Kế Huy vào năm 2023
Sinh20 tháng 8, 1971 (52 tuổi)
Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa
Tên khácJonathan Ke Huy Quan
Học vịĐại học Nam California
Nghề nghiệpDiễn viên, chỉ đạo đóng thế
Năm hoạt động1984–2004, 2019–nay
Tên tiếng Trung
Phồn thể關繼威[1]
Giản thể关继威
Tên tiếng Việt
Tiếng ViệtQuan Kế Huy[2]

Quan Kế Huy (tên tiếng Trung: 關繼威, Hán Việt: Quan Kế Uy; tên tiếng Anh Ke Huy Quan; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1971), hay còn được biết đến với nghệ danh Jonathan Ke Quan (/kˈkwɑːn/), là một nam diễn viên người Mỹ, một thuyền nhân Việt Nam, xuất thân từ một gia đình người Việt gốc Hoa.[3][4] Từ thuở nhỏ ông đã tham gia vào các vai diễn như Short Round trong Indiana Jones and the Temple of Doom (1984), Data trong The Goonies (1985). Sau khi hoàn tất các bộ phim sitcom Head of the Class (1991) và Encino Man (1992), ông đã tạm ngừng diễn xuất.

Sau gần 20 năm gián đoạn kể từ vai diễn cuối cùng của mình, Huy đã trở lại diễn xuất vào năm 2021 trong bộ phim hài – chính kịch – khoa học viễn tưởng Cuộc chiến đa vũ trụ được giới phê bình đánh giá cao. Diễn xuất của ông đã nhận được sự hoan nghênh lớn và mang về cho ông Giải OscarsGiải Quả cầu vàng cho nam diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất. Ông là một trong hai diễn viên gốc Á đã đoạt Giải Oscar cho nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, người còn lại là Haing S. Ngor. Ngoài ra, với chiến thắng tại Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh 2023, ông cũng đã trở thành người gốc Á đầu tiên giành chiến thắng ở hạng mục nam diễn viên phụ điện ảnh.[5][6] Ông là diễn viên sinh ra tại Việt Nam đầu tiên giành giải Oscar[7] và giành hạng mục Nam phụ cho giải thưởng Quả cầu Vàng.[8][2]

Xuất thân và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Kế Huy sinh ngày 20 tháng 8 năm 1971 tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa.[9][10] Cha mẹ của ông là người Việt gốc Hoa[11] có 9 người con, ông là một trong số đó.[12] Đến năm 1978, ông và gia đình đã vượt biên bằng thuyền ra khỏi Việt Nam và đến một trại tị nạn ở Hồng Kông, trong khi mẹ ông cùng ba anh chị em khác chạy sang Malaysia.[3][13][14] Cả gia đình ông sau đó đã được tái định cư tại Hoa Kỳ thông qua các chương trình dành cho người tị nạn vào năm 1979.[13]

Tại Hoa Kỳ, Huy đã học tại trường Trung học Mount Gleason ở Tujunga, California và trường Phổ thông Alhambra ở Alhambra, California.[15] Vào năm 1999, ông đã tốt nghiệp Trường Nghệ thuật Điện ảnh của Đại học Nam California (en).[13] Bấy giờ, ông đã sản xuất ghi hình một bộ phim ngắn Voodoo và nhận được nhiều giải thưởng; người bạn của ông, Gregg Bishop đã viết kịch bản và làm đạo diễn bộ phim.[16] Nhiều bộ phim ngắn đoạt giải của ông như Electronic Labyrinth THX 1138 4EB của George LucasThe Lift của Robert Zemeckis hiện đang được sử dụng để định hướng cho sinh viên điện ảnh khi mới nhập học vào Đại học Nam California.[17][18]Sau khi tốt nghiệp, ông đã sang Hồng Kông thực hiện nhiều dự án cùng đạo diễn Nguyên Khuê (zh).[14]

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sean Astin, Quan Kế Huy và Corey Feldman tại buổi giao lưu phim The Goonies.

1984–1997: Đột phá trong sự nghiệp với Indiana Jones[sửa | sửa mã nguồn]

Kế Huy đã bắt đầu bước vào sự nghiệp diễn xuất từ khi 12 tuổi khi vào vai Short Round trong bộ phim Indiana Jones and the Temple of Doom cùng với nam diễn viên gạo cội Harrison Ford.[19] Giám đốc cho các buổi tuyển diễn viên đã thử vai một số đứa trẻ tại trường tiểu học Castelar, bao gồm cả em trai của Huy.[12][14] Năm 1985, ông đã vào vai chính trong The Goonies với vai trò là thành viên trong một nhóm trẻ cùng tên phim. Ngoài ra, vào năm 1986 ông cũng đã vào vai một đứa trẻ mồ côi chuyên đi cướp bóc trong một bộ phim Đài Loan It Takes a Thief. Đến năm 1987, ông đã xuất hiện trong bộ phim Nhật Bản Passengers (Passenjā Sugisarishi Hibi (ja)) cùng với nữ ca sĩ Honda Minako. Ông cũng từng tham gia vai Sam trong sê-ri phim ngắn Together We Stand (1986–1987) hay vai Jasper Kwong trong sitcom Head of the Class từ năm 1990 đến năm 1991.[20]

Năm 1991, ông đã tham gia vào bộ phim Breathing Fire và có một vai nhỏ những năm sau đó. Ông đã tham gia đóng chính trong bộ phim truyền hình tiếng Quan Thoại The Big Eunuch and the Little Carpenter kéo dài 40 tập.[1] Hay vào năm 1996, ông đã vào vai trong một bộ phim với sự hợp tác sản xuất giữa Hồng KôngViệt Nam Hồng hải tặc. Kế Huy còn đã học Taekwondo dưới sự hướng dẫn Philip Tan cho tác phẩm Indiana Jones and the Temple of Doom; sau đó thì Đàm Đáo Lương (zh) là người hướng dẫn cho ông.[20]

1998–2018: Chuyển sang vai trò sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Khi trưởng thành, Kế Huy bắt đầu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm công việc diễn xuất tại Hoa Kỳ. Cuối cùng ông đã từ bỏ vai trò diễn xuất và đăng ký vào chương trình điện ảnh tại Đại học Nam California (USC).[10][13] Sau khi hoàn tất chương trình tại USC, Huy đã được Nguyên Khuê (en) đề nghị đến Toronto, Ontario, Canada để hỗ trợ dàn dựng các phân cảnh chiến đấu cho bộ phim X-Men (2000).[9][10][14] Trong thập kỷ tiếp theo, ông làm những công việc hậu trường cho nhiều tác phẩm khác nhau ở châu Á lẫn Hoa Kỳ.[14] Ông đã tiếp tục tham gia vai vào đội ngũ sản xuất giúp Khuê thực hiện dự án The One (2001).[21] Ngoài ra, ông còn từng làm trợ lý đạo diễn cho Vương Gia Vệ trong bộ phim 2046 (2004).[14]

2018–nay: Trở lại vai trò diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Kế Huy được cho là đã lấy lại cảm hứng diễn xuất nhờ thành công của bộ phim Con nhà siêu giàu châu Á vào năm 2018.[22] Cùng năm đó, bộ đôi Daniels (en) đã bắt đầu tuyển chọn diễn viên cho bộ phim Cuộc chiến đa vũ trụ. Bộ đôi này được cho là đã gặp phải khó khăn khi tìm kiếm vai diễn cho nhân vật Waymond Wang – một người xuất hiện với ba thân phận khác nhau trong phim. Sau đó, họ đã tình cờ gặp được Kế Huy trên Twitter. Hai tuần sau khi nhận được lời mời từ người đại diện, nam diễn viên đã chính thức bắt đầu thử vai cho bộ phim.[13] Vào tháng 1 năm 2020, Quan Kế Huy được xác nhận là một diễn viên trong phim Cuộc chiến đa vũ trụ.[23]

Bộ phim đã được khởi chiếu vào tháng 3 năm 2022 và nhận được nhiều sự ủng hộ mạnh mẽ, nhờ diễn xuất mà Kế Huy đã nhận được nhiều lời khen cũng như chú ý của giới truyền thông. Chính vai diễn trong bộ phim Cuộc chiến đa vũ trụ, ông đã giành được giải Quả cầu vàng, giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnhgiải Oscar. Chiến thắng tại Giải thưởng của Nghiệp đoàn Diễn viên Màn ảnh đã đưa ông trở thành người gốc Á đầu tiên chiến thắng hạng mục Nam diễn viên phụ.[24][25][26][27] Chiến thắng từ bộ phim đã giúp ông tái hợp với Steven SpielbergHarrison Ford.[28]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Kế Huy là một người gốc Hán và là người Hoa, thuộc nhóm dân tộc thiểu số của Việt Nam. Ông thông thạo tiếng Anh, tiếng Quảng Châu, tiếng Trungtiếng Việt.[29] Hiện ông đã kết hôn[13] với Corinna Ke Quan và đang sinh sống cùng vợ mình tại Woodland Hills, Los Angeles.[10] Đồng hành cùng ông là người bạn thân, kiêm bạn diễn trong phim The Goonies Jeff Cohen, đồng thời cũng là luật sư cá nhân cho ông.[14]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tác phẩm điện ảnh
Năm Tựa phim Vai diễn
1984 Indiana Jones and the Temple of Doom Short Round
1985 The Goonies Richard "Data" Wang
1986 It Takes a Thief Little Guan
1987 Passenger Rick
1991 Breathing Fire Charlie Moore
1992 Encino Man Kim
1996 Red Pirate Kwan Chia Chiang
2002 Second Time Around Sing Wong
2021 Finding ʻOhana George Phan
2022 Cuộc chiến đa vũ trụ [a] Waymond Wang
2024 The Electric State Dr Amherst
Kung Fu Panda 4 Han

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tác phẩm truyền hình
Năm Tựa phim Vai trò Ghi chú
1986–1987 Together We Stand Sam 19 tập
1990–1991 Head of the Class Jasper Kwong Nhân vật chính (mùa 4–5)
1991 Tales from the Crypt Josh Tập: "Undertaking Palor"
1993 The Big Eunuch and the Little Carpenter Ba Dajia Nhân viên chính; bản truyền hình của Đài Loan, 40 tập
2023 Loki Ouroboros Mùa hai.
2023 American Born Chinese Freddy Wong Sê-ri chưa ra mắt.[30]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các dự án khác
Năm Tựa phim Vai trò
2000 X-Men Trợ lý hành động, phiên dịch
2001 The One Trợ lý
2004 2046 Trợ lý đạo diễn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bộ phim đã giành giải Oscar, giải SAGgiải Quả cầu Vàng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b 蕭采薇. “獨/季芹17歲第一個緋聞對象是他! 關繼威:看到她現在很幸福”. ETtoday (bằng tiếng Trung). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
  2. ^ a b “Diễn viên gốc Việt Quan Kế Huy: Từ bị 'thất sủng' thành Nam diễn viên phụ xuất sắc ở Quả cầu vàng”. Báo điện tử VTV. 11 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2023.
  3. ^ a b “Quan Kế Huy, tài tử gốc Việt, đoạt giải Oscar nam diễn viên phụ hay nhất”. Người Việt. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2023.
  4. ^ “Tranh cãi Quan Kế Huy 'gốc Việt', 'gốc Hoa' hay 'gốc Á' nói lên điều gì?”. BBC. 15 tháng 3 năm 2023.
  5. ^ Rosenbloom, Alli (27 tháng 2 năm 2023). “Ke Huy Quan makes history with SAG award win for 'Everything Everywhere All at Once'. CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
  6. ^ Hoang Nguyen. “Vietnamese-born American actor Ke Huy Quan wins SAG Award”. VnExpress (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2023.
  7. ^ “Oscars 2023: Ke Huy Quan becomes 1st Vietnam-born actor to win an Oscar”. The Times of India. ISSN 0971-8257. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2023.
  8. ^ Stolworthy, Jacob (11 tháng 1 năm 2023). “Ke Huy Quan makes emotional Golden Globes speech 30 years after child actor role”. The Independent (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2023.
  9. ^ a b “Jonathan Ke Quan”. Movies & TV Dept. The New York Times. 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  10. ^ a b c d Ito, Robert (5 tháng 4 năm 2022). “Ke Huy Quan: From Short Round to Romantic Lead in Just Four Long Decades”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  11. ^ Tamagawa, Emiko (8 tháng 4 năm 2022). “Actor Ke Huy Quan returns in front of the camera in 'Everything, Everywhere, All at Once'. www.wbur.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  12. ^ a b Ke Huy Quan (Goonies, Temple of Doom) Niagara Falls Comic Con 2019 Q&A Panel (bằng tiếng Anh), Convention Junkies, 17 tháng 6 năm 2019, lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2021, truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2020
  13. ^ a b c d e f Collis, Clark (24 tháng 2 năm 2022). “What Short Round did next: The strange journeys of Ke Huy Quan”. Entertainment Weekly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
  14. ^ a b c d e f g Ebiri, Bilge (11 tháng 3 năm 2022). “In Another Life, Ke Huy Quan Was a Star”. Vulture (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  15. ^ “Jonathan Ke Quan”. Empire (bằng tiếng Anh). 22 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2020.
  16. ^ “Slamdance Announces Winners”. Film Threat. 28 tháng 1 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2001.
  17. ^ “Making a $15,000 feature film”. The Bitter Script Reader. 22 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.
  18. ^ “Voodoo trivia”. IMDB. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2023.
  19. ^ Canby, Vincent (23 tháng 5 năm 1984). “Indiana Jones and the Temple of Doom”. The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2020.
  20. ^ a b Nick Mamatas (14 tháng 12 năm 2012). “10 reasons we still love The Goonies 25 years later”. Syfy Wire. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
  21. ^ “The kid from Indiana Jones: What does he look like now?”. Now (1996–2019 magazine). 8 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
  22. ^ McEvoy, Colin (8 tháng 3 năm 2023). “Oscar Frontrunner Ke Huy Quan Had Quit Acting for Good. 'Crazy Rich Asians Brought Him Back”. Biography.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2023.
  23. ^ Fleming, Mike Jr. (23 tháng 1 năm 2020). “A24 Reunites With 'Swiss Army Man' Directors; Finance & Distribute AGBO's 'Everything Everywhere All At Once'. Deadline (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2022.
  24. ^ Dresden, Hilton (26 tháng 2 năm 2023). "Look At Us Now": 'Everything Everywhere All at Once' Cast Celebrates Asian Talent with SAG Awards win”. The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  25. ^ Thomas, Carly (26 tháng 2 năm 2023). “Michelle Yeoh Makes History with SAG Awards win: "This is for Every Single Girl That Looks Like Me". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  26. ^ Dresden, Hilton (26 tháng 2 năm 2023). “Ke Huy Quan Makes History with SAG Award win: "This Moment Belongs to Everyone Who Has Asked for Change". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
  27. ^ Rosenbloom, Alli (27 tháng 2 năm 2023). “Ke Huy Quan makes history with SAG award win for 'Everything Everywhere All at Once'. CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2023.
  28. ^ ANN MARIE BALDONADO (27 tháng 2 năm 2023). “In 'Everything Everywhere,' Ke Huy Quan found the role he'd been missing”. NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2023.
  29. ^ “Ke Huy Quan News & Biography - Empire”. www.empireonline.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2023.
  30. ^ Fleming, Mike Jr. (7 tháng 2 năm 2022). 'Shang-Chi's Michelle Yeoh & Destin Daniel Cretton Reunite For Disney+ Series 'American Born Chinese;' Chin Han, Yeo Yann Yann & Daniel Wu Also Star”. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]