Spy × Family

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ SPY×FAMILY)
SPY×FAMILY
Bìa manga Spy × Family tập 1 thuộc nhà xuất bản Kim Đồng.jpg
Bìa tập 1 phiên bản tiếng Việt với Loid Forger.
Thể loạiHành động viễn tưởng
Hài hước
Điệp viên
Manga
Tác giảEndo Tatsuya
Nhà xuất bảnShueisha
Nhà xuất bản tiếng ViệtNhà xuất bản Kim Đồng
Nhà xuất bản khác
Đối tượngShōnen
Ấn hiệuJump Comics+
Tạp chíShōnen Jump+
Đăng tải25 tháng 3 năm 2019 – nay
Số tập10 (danh sách tập)
Anime truyền hình
Spy × Family logo.png
Đạo diễnFuruhashi Kazuhiro
Kịch bảnFuruhashi Kazuhiro
Âm nhạcMiyazaki Makoto ([K]NoW_NAME)
Mutsuki Shuhei ([K]NoW_NAME)
Hãng phimWit Studio
CloverWorks
Cấp phépCrunchyroll
Kênh gốcTV Tokyo, TVO, TV Aichi, TSC, TVh, TVQ, ux, TV Shizuoka, RCC, BS TV Tokyo
Phát sóng 9 tháng 4 năm 2022
Số tập17 (danh sách tập)
Wikipe-tan face.svg Cổng thông tin Anime và manga

SPY×FAMILY (スパイファミリー Supai Famirī?, đọc như Spy-Family)[a] là một bộ manga Nhật Bản được viết và minh họa bởi Endo Tatsuya. Bộ truyện được đăng tải mỗi 2 tuần trên tạp chí trực tuyến Shōnen Jump+ kể từ ngày 25 tháng 3 năm 2019. Tính đến nay, đã có tổng cộng 10 tập tankōbon được phát hành bởi Shueisha. Viz Media mua bản quyền và xuất bản phiên bản tiếng Anh tại thị trường Bắc Mỹ. Tại Việt Nam, bộ truyện được phát hành bởi Nhà xuất bản Kim Đồng. Phiên bản anime truyền hình chuyển thể gồm hai phần được sản xuất bởi xưởng phim Wit StudioCloverWorks, bắt đầu phát sóng từ tháng 4 năm 2022.[1]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện kể vể một điệp viên của "Tây Quốc" Westalis (西国 (ウェスタリス) Wesutarisu?) có mật danh là "Twilight", cố gắng xây dựng một "gia đình kiểu mẫu" nhằm thu thập thông tin tình báo tại nước đối địch, "Đông Quốc" Ostania (東国 (オスタニア) Osutania?).

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Forger[sửa | sửa mã nguồn]

Loid Forger (ロイド・フォージャー Roido Fōjā?)
Lồng tiếng bởi: Eguchi Takuya (tiếng Nhật), Lê Nguyễn Tuấn Anh (tiếng Việt)[2]
Một điệp viên đến từ Westalis với mật danh Hoàng hôn (黄昏 Tasogare?), có khả năng chiến đấu, trí nhớ và xử lý thông tin phi thường. Anh sử dụng nhiều khuôn mặt và tên khác nhau cho mỗi nhiệm vụ khác nhau (Loid Forger cũng là tên giả). Nhiệm vụ gần đây nhất của anh là Chiến dịch Strix, yêu cầu anh đăng ký cho một đứa trẻ vào ngôi trường danh tiếng cần "cả bố lẫn mẹ đều có mặt" để tiếp cận mục tiêu. Thế nên, anh tạo ra một gia đình giả bằng cách nhận nuôi Anya và kết hôn với Yor, ngụy trang thành một bác sĩ tâm thần tại Bệnh viện Đa khoa Berlint. Anh khéo nấu ăn và dọn dẹp. Vốn là trẻ mồ côi trong chiến tranh, anh quyết định trở thành một điệp viên để tạo ra một "thế giới nơi trẻ em không phải khóc".
Yor Forger (ヨル・フォージャー Yoru Fōjā?)
Lồng tiếng bởi: Hayami Saori (tiếng Nhật), Nguyễn Vũ Minh Chuyên (tiếng Việt)[2]
Một nữ sát thủ chuyên nghiệp với mật danh Công chúa gai (いばら姫 Ibara Hime?), ẩn thân phận thành nhân viên tại Tòa thị chính Berlin. Họ của Yor trước khi kết hôn là Briar (ブライア Buraia?). 27 tuổi. Cô đồng ý kết hôn mà không cần biết lý lịch thực sự của Loid và tin rằng Anya là con gái ruột của anh từ cuộc hôn nhân trước. Là một sát thủ, Yor giỏi dọn dẹp, nhưng không biết làm việc nhà , đặc biệt là nấu ăn. Vì vậy, Loid làm hầu hết các công việc nấu nướng, mặc dù gần đây cô ấy đã bắt đầu học nấu ăn từ đồng nghiệp. Cô có một người em trai tên là Yuri, là một công chức và rất gắn bó với chị mình.
Anya Forger (アーニャ・フォージャー Ā'nya Fōjā?)
Lồng tiếng bởi: Tanezaki Atsumi (tiếng Nhật), Cao Thụy Thanh Hồng (tiếng Việt)[3]
Một cô bé có thể đọc được suy nghĩ của người khác, Anya là người duy nhất biết được tình hình chung của gia đình mình. Cô bé nhìn giống khoảng 4 hoặc 5 tuổi, nhưng lại nói là 6 tuổi vì Loid cần nhận nuôi một đứa trẻ sáu tuổi. Ban đầu, cô bé là một đối tượng thử nghiệm trên người được đặt tên là "Vật thí nghiệm 007" (被検体007?), cô đã trốn đi bởi vì ở đó cô phải học mà không được chơi. Sau đó tự đặt tên là "Anya." Do năng lực ngoại cảm, Anya không khỏe khi đi vào đám đông. Ngoài ra, vì không chịu học hành đàng hoàng nên Anya học không giỏi và bù lại bằng cách đọc suy nghĩ của những người khác để tìm câu trả lời. Tuy nhiên, có vẻ như cô không thể sử dụng khả năng ngoại cảm của mình trong thời kỳ trăng non. Cô bé thích anime "Spy Wars" và nghĩ rằng bất cứ điều gì liên quan đến "bí mật" và "nhiệm vụ" đều thú vị.
Bond Forger (ボンド・フォージャー Bondo Fōjā?)
Con vật cưng của gia đình, thuộc giống Chó núi Pyrenees, vốn là đối tượng chó thử nghiệm của Dự án Apple có tên "Số 8" (8号?). Chú có thể nhìn thấu tương lai mà chỉ Anya biết bằng cách sử dụng thần giao cách cảm. Chú gặp Anya và gia đình Forger khi bị lợi dụng trong một vụ đánh bom khủng bố và sau đó được gia đình nhận nuôi. Chú chó sợ lúc Yor nấu ăn (chú thấy trong tương lai chú sẽ bị giết chết vì chuyện này) và cố gắng hết sức để tránh điều đó. Chú được đặt tên theo nhân vật hoạt hình yêu thích của Anya, Bondman.

Nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Damian Desmond (ダミアン・デズモンド Damian Dezumondo?)
Lồng tiếng bởi: Fujiwara Natsumi[4]
Một người bạn cùng lớp táo tợn của Anya có bố là người có quyền lực vượt trội, nhưng cậu vẫn học hành chăm chỉ để được bố chú ý và chấp thuận. Bố của cậu, Donovan Desmond (ドノバン・デズモンド Donoban Dezumondo?), là mục tiêu chính của Chiến dịch Strix. Cậu thường đối xử một cách hung hăng đối với Anya và không nhận ra rằng cậu thích cô. Cậu có một người anh trai hết sức nhiệt tình tên là Demetrius Desmond (ディミトリアス・デズモンド Dimitoriasu Dezumondo?) và một chú chó tên là Max. Cậu ở chung ký túc xá với hai người bạn thân nhất của mình, Emile (エミールゥ Emīrū?) và Ewen (ユーイン Yūin?).
Becky Blackbell (ベッキー・ブラックベル Bekkī Burakkuberu?)
Lồng tiếng bởi: Katō Emiri[4] (tiếng Nhật), Nguyễn Vũ Minh Chuyên (tiếng Việt)
Bạn thân của Anya ở trường. Bố cô là một nhà sản xuất quân sự lớn. Sau cuộc gây lộn giữa Anya và Damian vào ngày đầu tiên đi học, cô trở thành bạn của Anya. Cô đối xử với Anya rất tử tế, mặc dù mọi bạn học khác đều xa lánh cả hai. Cô cũng phải lòng Loid.
Yuri Briar (ユーリ・ブライア Yūri Buriaru?)
Lồng tiếng bởi: Ono Kenshō,[5] Kumagai Mirei (khi còn nhỏ) (tiếng Nhật), Đặng Hoàng Khuyết (tiếng Việt)
Em trai Yor 20 tuổi. Rõ ràng là một quan chức tại Bộ Ngoại giao, nhưng đây là lớp cải trang che đậy cho thân phận thật là một trung úy của Sở An ninh Nhà nước - có nhiệm vụ săn lùng "Hoàng hôn" và các nhóm nổi dậy, khủng bố và tình báo ở nước ngoài khác. Anh hơi quá thân thiết với chị gái mình, phản đối cuộc hôn nhân của Yor và Loid dù không biết công việc sát thủ của Yor hay danh tính thực sự của Loid. Cả Loid và Anya đều biết về nghề nghiệp thực sự của anh trong khi Yor vẫn không biết gì.
Franky (フランキー Furankī?)
Lồng tiếng bởi: Yoshino Hiroyuki[6]
Một người cung cấp thông tin từ WISE, cơ quan gián điệp của Westalis, người cung cấp thông tin cho Loid và thường làm người trông trẻ cho Anya. Anh làm việc ở cửa hàng thuốc lá để che giấu thân phận. Anh ta đang vô vọng trong việc tìm bạn gái.
Sylvia Sherwood (シルヴィア・シャーウッド Shiruvuia Shāuddo?)
Lồng tiếng bởi: Kaida Yūko[6] (tiếng Nhật), Cao Thụy Thanh Hồng (tiếng Việt)
Người điều khiển và liên lạc của Loid tại WISE, người giao cho anh các nhiệm vụ và giám sát Chiến dịch Strix. Cô làm tùy viên và thư ký trong đại sứ quán như một bình phong cho hoạt động tình báo của mình. Cô được các điệp viên gọi là Fullmetal Lady (鋼鉄の淑女 (フルメタル・レディ) (Cương thiết Thục nữ) Furumetaru Redi?, n.đ: Cô gái thép) do khả năng và tính cách đặc biệt của mình. Cô từng có một cô con gái nhỏ, nhưng không biết chuyện gì đã xảy ra với cô bé ấy.
Fiona Frost (フィオナ・フロスト Fiona Furosuto?)
Một nhân viên tình báo có mật danh Màn đêm (夜帷 Tobari?). Đồng nghiệp của Loid trong cả hoạt động gián điệp và tại Bệnh viện Đa khoa Berlint, nơi cô làm việc bí mật với tư cách là một thư ký. Thường không biểu lộ cảm xúc, nhưng cô có tình cảm mạnh mẽ đối với Loid và nghĩ rằng Yor không xứng đáng với anh. Chỉ có Anya mới biết bản chất thật và cảnh giác cô.

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ manga được viết và minh họa bởi Endo Tetsuya. Bộ truyện được đăng tải mỗi 2 tuần trên tạp chí điện tử Shōnen Jump + kể từ ngày 25 tháng 3 năm 2019. Shueisha đồng thời cũng xuất bản bộ truyện với phiên bản tiếng Anh miễn phí trên trên ứng dụng và trang web Manga Plus.[7] Viz Media cũng tiến hành xuất bản bộ truyện phiên bản tiếng Anh miễn phí trên nền tảng kĩ thuật số vào ngày 22 tháng 9 năm 2019.[8] Bản in đầu tiên được phát hành vào mùa xuân năm 2020.[9] Tại Việt Nam, bộ truyện được mua bản quyền bởi Nhà xuất bản Kim Đồng với tập đầu tiên được xuất bản vào ngày 30 tháng 10 năm 2020.[10]

Danh sách tập truyện[sửa | sửa mã nguồn]

#Phát hành Tiếng NhậtPhát hành tiếng Việt
Ngày phát hànhISBNNgày phát hànhISBN
1 4 tháng 7 năm 2019[11]ISBN 978-4-08-882011-830 tháng 10 năm 2020ISBN 978-604-2-21556-5
  • Nhiệm vụ: 1–5
2 4 tháng 10 năm 2019[12]ISBN 978-4-08-882120-725 tháng 12 năm 2020ISBN 978-604-2-21557-2
  • Nhiệm vụ: 6–11
  • Nhiệm vụ phụ: 1
3 4 tháng 1 năm 2020[13]ISBN 978-4-08-882183-219 tháng 2 năm 2021ISBN 978-604-2-22067-5
  • Nhiệm vụ: 12–17
  • Nhiệm vụ phụ: 2
4 13 tháng 5 năm 2020[14]ISBN 978-4-08-882229-79 tháng 4 năm 2021ISBN 978-604-2-22068-2
  • Nhiệm vụ: 18–23
  • Nhiệm vụ ngắn: 1–2
5 4 tháng 9 năm 2020[15]ISBN 978-4-08-882463-525 tháng 6 năm 2021ISBN 978-604-2-22069-9 (bản thường)
ISBN 978-604-2-22778-0 (bản đặc biệt)
  • Nhiệm vụ: 24–30
  • Nhiệm vụ ngắn: 3
6 28 tháng 12 năm 2020[16]ISBN 978-4-08-882545-829 tháng 10 năm 2021ISBN 978-604-2-23202-9 (bản thường)
ISBN 978-604-2-23098-8 (bản đặc biệt)
  • Nhiệm vụ: 31–37
  • Nhiệm vụ ngắn: 4
7 4 tháng 7 năm 2021[17]ISBN 978-4-08-882669-110 tháng 6 năm 2022ISBN 978-604-2-23515-0 (bản thường)
ISBN 978-604-2-23516-7 (bản đặc biệt)
  • Nhiệm vụ: 38–44
  • Nhiệm vụ ngắn: 5
8 4 tháng 11 năm 2021[18]ISBN 978-4-08-882843-5ISBN 978-604-2-23517-4
  • Nhiệm vụ: 45-53
  • Nhiệm vụ ngắn: 6
9 4 tháng 4 năm 2022[19]ISBN 978-4-08-883076-6ISBN 978-604-2-23518-1
  • Nhiệm vụ 54-61
10 4 tháng 10 năm 2022[20]ISBN 978-4-08-883127-5ISBN 978-604-2-23519-8
  • Nhiệm vụ: 62-68
  • Nhiệm vụ ngắn: 7-8
Mã ISBN tiếng Việt được lấy từ Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ thông tin và truyền thông.[21]

Các chương chưa được đưa vào tập tankōbon[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các chương chưa được đưa vào tập tankōbon mà đã được đăng trên Shōnen Jump +.

  • Nhiệm vụ: 67-71
  • Nhiệm vụ ngắn: 9

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết Spy x Family: Bức chân dung gia đình (SPY×FAMILY 家族の肖像 Spy × Family: Kazoku no Shōzō?), tiểu thuyết này bao gồm 4 truyện ngắn và 1 "tiểu thuyết ngắn" dài bảy trang do Aya Yajima viết, được xuất bản vào ngày 2 tháng 7, 2021[22] tại Nhật Bản. Tại Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành cuốn tiểu thuyết này vào ngày 22 tháng 8, 2022.[23]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 1 tháng 11 năm 2021, một website đã được mở để thông báo việc bộ manga sẽ được chuyển thể thành một loạt anime truyền hình, được sản xuất bởi Wit StudioCloverWorks.[24] Loạt anime này được đạo diễn bởi Furuhashi Kazuhiro, thiết kế nhân vật bởi Shimada Kazuaki, và âm nhạc sản xuất bởi [K]NoW_NAME.[24] Phiên bản anime truyền hình chuyển thể gồm hai phần. Phần đầu tiên ra mắt vào ngày 9 tháng 4 năm 2022 trên kênh TV Tokyo và một số kênh truyền hình khác tại Nhật Bản.[3][25] Ca khúc mở đầu là "Mixed Nuts" (ミックスナッツ Mikkusu Natsu?) do Official Hige Dandism trình bày, và ca khúc kết thúc là "Kigeki" (喜劇 (Hỷ kịch)? "Kịch hài") do Hoshino Gen trình bày.[26] Crunchyroll sở hữu bản quyền phát sóng bên ngoài Châu Á.[27] Muse Communication sở hữu bản quyền phát hành tại Đài Loan, Nam ÁĐông Nam Á[28] và phát sóng nó trên hệ thống kênh YouTube trực thuộc trong một khoảng thời gian nhất định[b] trong khi Netflix, iQIYI, bilibili phát sóng trên các nền tảng trực tuyến.[29][30]

Phần thứ hai sẽ lên sóng trở lại vào tháng 10 năm 2022.[31]

Danh sách tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Số tập Tiêu đề[c] Đạo diễn Biên kịch Ngày phát sóng gốc
Phần 1
1 "Chiến dịch Strix"
"Operation Strix" (オペレーション〈ストリクス〉) 
Furuhashi KazuhiroKawaguchi Tomomi9 tháng 4, 2022
2 "Kiếm vai người vợ nào"
"Tsuma-yaku o kakuho seyo" (妻役を確保せよ) 
Harada TakahiroYamazaki Rino16 tháng 4, 2022
3 "Đối phó với kỳ thi nào"
"Juken taisaku o seyo" (受験対策をせよ) 
Harada TakahiroTanimura Daishirō23 tháng 4, 2022
4 "Bài thi phỏng vấn của trường danh tiếng"
"Meimonkō mensetsu shiken" (名門校面接試験) 
Masui KentoYamazaki Rino30 tháng 4, 2022
5 "Đỗ hay trượt đây"
"Gōhi no yukue" (合否の行方) 
Takahashi KenjiKawaguchi Tomomi7 tháng 5, 2022
6 "Chiến dịch kết thân"
"Nakayoshi sakusen" (ナカヨシ作戦) 
Yamamoto YōsukeTanimura Daishirō14 tháng 5, 2022
7 "Mục tiêu là con trai thứ"
"Hyōteki (Target) no jinan" (標的 (ターゲット)の次男) 
Kazuki HoriguchiTomomi Kawaguchi21 tháng 5, 2022
8 "Chiến dịch ngụy trang đối phó cảnh sát mật"
"Taihimitsu keisatsu gisō sakusen" (対秘密警察偽装作戦) 
Imai YukikoYamazaki Rino28 tháng 5, 2022
9 "Thể hiện tình yêu thăm thiết nào"
"Love Love o misetsukeyo" (ラブラブを見せつけよ) 
Katagiri TakashiKatō Honoka4 tháng 6, 2022
10 "Chiến dịch lớn Bóng Né"
"Dogdeball Daisakusen" (ドッジボール大作戦) 
Takahashi KenjiTanimura Daishirō11 tháng 6, 2022
11 "Ngôi sao"
"Stella" (〈ステ〉) 
Akai ToshifumiYamazaki Rino18 tháng 6, 2022
12 "Công viên chim cánh cụt"
"Pengin Pāku" (ペンギンパーク) 
Kitagawa TomoyaTanimura Daishirō25 tháng 6, 2022
Phần 2
13 "Dự án Trái Táo"
"Purojekuto <Appuru>" (プロジェクト〈アップル〉) 
Yūsuke KuboHonoka Katō1 tháng 10, 2022
14 "Vô hiệu hóa bom hẹn giờ"
"Jigen Bakudan o Kaijo Seyo" (時限爆弾を解除せよ) 
Takahiro HaradaTomomi Kawaguchi8 tháng 10, 2022
15 "Thành viên mới của gia đình"
"Atarashii Kazoku" (新しい家族) 
Kenji TakahashiDaishirō Tanimura15 tháng 10, 2022
16"Bếp ăn của Yor"
Chuyển ngữ: "Yoruzu Kitchin" (ヨル's キッチン)
"Đại chiến dịch tình ái của dân buôn tin"
Chuyển ngữ: "Jōhō-ya no Ren'ai Dai Sakusen" (情報屋の恋愛大作戦)
Haruka TsuzukiHonoka Katō22 tháng 10 năm 2022 (2022-10-22)
17"Thực thi chiến dịch Điểu Sư"
Chuyển ngữ: "Gurihon Sakusen o Kekkō Seyo" (ぐりほんさくせんを決行せよ)
"Quý bà thép"
Chuyển ngữ: "Furumetaru Redi" (〈鋼鉄の淑女フルメタルレディ〉)
"Cơm chiên trứng♡"
Chuyển ngữ: "Omuraisu♡" (オムライス♡)
Shū HonmaHonoka Katō29 tháng 10 năm 2022 (2022-10-29)
18"Nhờ cậu làm gia sư"
Chuyển ngữ: "Kateikyōshi no Oji" (家庭教師の叔父)
"Rạng đông"
Chuyển ngữ: "<Shinonome>" (〈東雲しののめ〉)
Ryō KodamaDaishirō Tanimura5 tháng 11 năm 2022 (2022-11-05)
19"Kế hoạch phục thù Desmond"
Chuyển ngữ: "Dezumondo e no Fukushū Keikaku" (デズモンドへの復讐計画)
"Mẹ, hóa thành gió"
Chuyển ngữ: "Haha, Kaze ni Naru" (母、風になる)
Hidekazu HaraRino Yamazaki (Nửa đầu tập phim)
Ayumu Hisao (Nửa sau tập phim)
12 tháng 11 năm 2022 (2022-11-12)
20"Điều tra bệnh viện đa khoa"
Chuyển ngữ: "Sōgō Byōin o Chōsa Seyo" (総合病院を調査せよ)
"Giải mật mã khó"
Chuyển ngữ: "Nankai na Angō o Kaidoku Seyo" (難解な暗号を解読せよ)
Yukiko ImaiRino Yamazaki (Nửa đầu tập phim)
Ayumu Hisao (Nửa sau tập phim)
19 tháng 11 năm 2022 (2022-11-19)
21"Nightfall <Hoàng hôn>"
Chuyển ngữ: "<Tobari>" (〈夜帷とばり〉)
"Lần đầu ghen tuông"
Chuyển ngữ: "Hajimete no Shitto" (はじめての嫉妬)
Teruyuki ŌmineKawaguchi Tomomi
Tanimura Daishirō
26 tháng 11 năm 2022 (2022-11-26)
22"Giải quần vợt Campbelldon dưới mặt đất"
Chuyển ngữ: "Chika Tenisu Taikai Kyanberuton" (地下テニス大会 キャンベルトン)
Takahiro HaradaHonoka Katō3 tháng 12 năm 2022 (2022-12-03)
23"Quỹ đạo bất biến"
Chuyển ngữ: "Yuruganu Kidō" (揺るがぬ軌道)
TBATBA10 tháng 12 năm 2022 (2022-12-10)

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

SPY×FAMILY đã có 800.000 bản được phát hành (bao gồm cả doanh số vật lý và kĩ thuật số) tại thị trường Nhật Bản sau khi phát hành tập thứ 2. Con số này lần lượt là 2 triệu và 3 triệu bản sau khi phát hành tập 3 và 4.[32] Theo Oricon, tập 3 và 4 của bộ truyện là một trong 30 manga bán chạy nhất năm 2020.[33] Vào tháng 12 năm 2020, đã có 8 triệu bản (bao gồm cả sách giấy và kĩ thuật số)[34] và đến tháng 5 năm 2021, con số này đạt 10 triệu bản tại thị trường Nhật Bản.[35] Tính đến tháng 3 năm 2022, có tổng cộng 15 triệu bản đã được phát hành.[36]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả Ref.
2019 Tsugi ni kuru Manga Taishō Web Manga Đoạt giải [37]
Apple Books Awards Shōnen Manga hay nhất [38]
2020 Tsutaya Comic Taishō lần thứ 4 Grand Prize [39][40]
Ridibooks Comic Award Giải đặc biệt [41]
Konishi Prize Bộ Manga được dịch hay nhất Đề cử [42]
Kodansha Manga Award lần thứ 44 Shōnen Manga hay nhất [43]
Tezuka Osamu Cultural Prize lần thứ 24 Cultural Prize [44]
Manga Taishō lần thứ 13 Manga Taishō Thứ hạng 2 [45][46]
Da Vinci 20th Annual Book of the Year Cuốn sách của năm Thứ hạng 3 [47]
2021 Manga Taishō lần thứ 14 Manga Taishō Thứ hạng 10 [48][49]
Eisner Award Best U.S. Edition of International Material—Asia Đề cử [50]
Harvey Award Manga hay nhất [51]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ × trong tên truyện chỉ là một ký tự mang tính cách điệu với vai trò giống như dấu gạch nối.
  2. ^ Các quốc gia: Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Philippines sẽ không bị giới hạn thời gian khả dụng trên YouTube trong khi tại các nước Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, SingaporeThái Lan sẽ chỉ khả dụng trong 3 giờ đầu kể từ khi phim phát hành trực tuyến. Riêng tại Việt Nam, phim chỉ khả dụng trong ba ngày đầu kể từ khi phim được phát sóng. Tuy nhiên, phim đã được phát sóng trở lại trên kênh YouTube tại Việt Nam từ ngày 15 tháng 8 năm 2022 và lần này không bị giới hạn thời gian khả dụng cho đến khi có yêu cầu từ phía Nhật Bản.[29]. Ngoài ra, phiên bản lồng tiếng Việt cũng được phát sóng trên kênh YouTube tại Việt Nam từ ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  3. ^ Tiêu đề tiếng Việt lấy từ kênh YouTube Muse Việt Nam, tiêu đề Tiếng Việt mùa 2 lấy từ Netflix

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Spy×Family Domestic Spy Comedy Manga Gets TV Anime in 2022”. Anime News Network. Ngày 31 tháng 10, 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 31 Tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 11, 2021.
  2. ^ a b “Spy×Family Domestic Spy Comedy Manga Gets TV Anime in 2022”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 Tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 19 Tháng 1 năm 2022.
  3. ^ a b Pineda, Rafael Antonio (18 Tháng 12 năm 2021). “Spy×Family Anime's Video Reveals Cast, April 2022 Premiere, Half-Year Run”. Anime News Network. Truy cập ngày 18 Tháng 12 năm 2021.
  4. ^ a b TVアニメ「SPY×FAMILY」ダミアン役を藤原夏海、ベッキー役を加藤英美里が担当. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. 7 Tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 7 Tháng 5 năm 2022.
  5. ^ Hodgkins, Crystalyn (16 Tháng 4 năm 2022). “Spy×Family Anime Adds 6 Cast Members Including Kensho Ono as Yuri”. Anime News Network. Truy cập ngày 7 Tháng 5 năm 2022.
  6. ^ a b Loo, Egan (17 Tháng 3 năm 2022). “Spy×Family Anime Casts Hiroyuki Yoshino, Yuko Kaida, Kazuhiro Yamaji”. Anime News Network. Truy cập ngày 17 Tháng 3 năm 2022.
  7. ^ Pineda, Rafael Antonio (4 Tháng 4 năm 2019). “Shueisha's Manga Plus Adds 2 New Manga in English”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 Tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 23 Tháng 9 năm 2019.
  8. ^ Pineda, Rafael Antonio (23 Tháng 9 năm 2019). “Viz Adds Tatsuya Endō's Spy x Family Manga”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 Tháng 10 năm 2019.
  9. ^ Pineda, Rafael Antonio (4 Tháng 10 năm 2019). “Viz Licenses New Bleach, Naruto, One Piece Novels”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 Tháng 10 năm 2019.
  10. ^ Nhà xuất bản Kim Đồng. “SPY X FAMILY - TẬP 1”. nxbkimdong.com.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 Tháng 11 năm 2021.
  11. ^ SPY×FAMILY 1 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 Tháng 10 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  12. ^ SPY×FAMILY 2 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 12 Tháng 10 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  13. ^ SPY×FAMILY 3 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 23 Tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 Tháng 10 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  14. ^ SPY×FAMILY 4 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 23 Tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 5 Tháng 4 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  15. ^ SPY×FAMILY 5 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 30 Tháng 8 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  16. ^ SPY×FAMILY 6 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 1 Tháng 12 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  17. ^ SPY×FAMILY 7 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 28 Tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 Tháng 4 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  18. ^ SPY×FAMILY 8 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 7 Tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 Tháng 8 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  19. ^ SPY×FAMILY 9 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 6 Tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 Tháng 8 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  20. ^ SPY×FAMILY 10 (bằng tiếng Japanese). Shueisha. Lưu trữ bản gốc ngày 13 Tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 26 Tháng 8 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  21. ^ “Spy X Family - Cục Xuất Bản”. ppdvn.gov.vn. Truy cập ngày 3 Tháng 3 năm 2022.
  22. ^ “SPY×FAMILY 家族の肖像”. Shueisha (bằng tiếng Japanese). Lưu trữ bản gốc ngày 28 Tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 11 Tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  23. ^ Nhà xuất bản Kim Đồng. “LỊCH PHÁT HÀNH SÁCH ĐỊNH KÌ THÁNG 8/2022”. nxbkimdong.com.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 4 Tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 Tháng 10 năm 2022.
  24. ^ a b Hodgkins, Crystalyn (31 Tháng 10 năm 2021). “Spy×Family Domestic Spy Comedy Manga Gets TV Anime in 2022”. Anime News Network. Truy cập ngày 31 Tháng 10 năm 2021.
  25. ^ Loo, Egan (6 Tháng 3 năm 2022). “Spy×Family Anime Reveals More Staff, April 9 Premiere, Visual”. Anime News Network. Truy cập ngày 6 Tháng 3 năm 2022.
  26. ^ Pineda, Rafael Antonio (17 Tháng 3 năm 2022). “Spy×Family Anime's Video Reveals, Previews Theme Songs”. Anime News Network. Truy cập ngày 17 Tháng 3 năm 2022.
  27. ^ Pineda, Rafael (20 Tháng 11 năm 2021). “Crunchyroll Streams Spy×Family, Tomodachi Game, In/Spectre, A Couple of Cuckoos More 2022 Anime”. Anime News Network. Truy cập ngày 20 Tháng 11 năm 2021.
  28. ^ “【MUSE ASIA 2022 DISTRIBUTION ANNOUNCEMENT】 《SPY x FAMILY》 One happy family...?”. Facebook. 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 Tháng 11 năm 2021.
  29. ^ a b Muse Asia (6 Tháng 4 năm 2022). “《SPYxFAMILY》Distribution Platforms: Muse Asia YouTube (Bangladesh, Bhutan, India, Nepal, Pakistan, Philippines, Vietnam; Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thailand [*Only available for the first three hours]), MeWATCH, CATCHPLAY+, Sushiroll, Genflix, UPSTREAM, POP TV, iQIYI, NETFLIX”. YouTube. Truy cập ngày 7 Tháng 4 năm 2022.
  30. ^ “Muse Asia Streams Spy x Family Anime in India”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 Tháng 4 năm 2022.
  31. ^ “Spy×Family Anime Previews October Return in Teaser Video”. Truy cập ngày 26 Tháng 6 năm 2022.
  32. ^ SPY×FAMILY:第4巻で累計300万部突破 ハイペースで部数増. Mantan-web. 4 Tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 8 Tháng 10 năm 2020.
  33. ^ Loo, Egan (29 Tháng 11 năm 2020). “Top-Selling Manga in Japan by Volume: 2020”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 30 Tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 29 Tháng 11 năm 2020.
  34. ^ Hodgkins, Crystalyn (19 Tháng 12 năm 2020). “6th Volume of Tatsuya Endō's Spy x Family Manga Gets 1-Million 1st Print Run”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 Tháng 12 năm 2020.
  35. ^ “漫画『SPY×FAMILY』累計1000万部突破へ アニメ化なしで異例のヒット”. Oricon (bằng tiếng Nhật). 17 Tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 17 Tháng 5 năm 2021.
  36. ^ “『SPY×FAMILY』アニメ化記念イラスト公開! コミックス最新刊も(マグミクス)”. Yahoo!ニュース (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 16 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 16 Tháng 11 năm 2021.
  37. ^ Loveridge, Lynzee (22 Tháng 8 năm 2019). “SPY × FAMILY, Kusuriya no Hitorigoto Win Tsugi ni Kuru Manga Award 2019”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 Tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 23 Tháng 9 năm 2019.
  38. ^ “アップルがBest of Books 2019公開 『どうしても生きてる』など選出”. ascii.jp (bằng tiếng Nhật). 27 Tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 Tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 12 Tháng 10 năm 2022.
  39. ^ “みんなが選ぶTSUTAYAコミック大賞2020 結果発表”. Culture Convenience Club (bằng tiếng Japanese). Lưu trữ bản gốc ngày 30 Tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 17 Tháng 6 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  40. ^ Loveridge, Lynzee (17 Tháng 6 năm 2020). “Spy×Family, A Man and His Cat Win 4th Annual Tsutaya Comic Awards”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 13 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 Tháng 11 năm 2021.
  41. ^ “2020 RIDIBOOKS COMIC & WEBTOON AWARD 대상 발표 - 리디”. ridibooks.com (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 Tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 12 Tháng 10 năm 2022.
  42. ^ “Édition 2021 – Prix Konishi pour la traduction de manga japonais en français”. Konishi Foundation for International Exchange (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 19 Tháng 11 năm 2022.
  43. ^ Pineda, Rafael (2 Tháng 4 năm 2020). “44th Annual Kodansha Manga Awards' Nominees Announced”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 21 Tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 2 Tháng 4 năm 2020.
  44. ^ Pineda, Rafael (27 Tháng 2 năm 2020). “24th Tezuka Osamu Cultural Prize Nominees Announced”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 28 Tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 Tháng 2 năm 2020.
  45. ^ Pineda, Rafael (19 Tháng 1 năm 2020). “13th Manga Taisho Awards Nominate 12 Titles”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 2 Tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 Tháng 2 năm 2020.
  46. ^ “マンガ大賞2020は山口つばさ「ブルーピリオド」に決定”. Natalie (bằng tiếng Japanese). 16 Tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 22 Tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 22 Tháng 3 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  47. ^ Hodgkins, Crystalyn (5 Tháng 12 năm 2020). “Demon Slayer Tops Da Vinci Manga Ranking”. Anime News Network. Truy cập ngày 19 Tháng 11 năm 2022.
  48. ^ Pineda, Rafael Antonio (24 Tháng 1 năm 2021). “14th Manga Taisho Awards Nominate 10 Titles”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 25 Tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 25 Tháng 1 năm 2021.
  49. ^ マンガ大賞2021、大賞は山田鐘人・アベツカサ「葬送のフリーレン」. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. 16 Tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 23 Tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 16 Tháng 3 năm 2021.
  50. ^ Hazra, Adriana (24 Tháng 7 năm 2021). “Junji Ito's Remina, Venus in the Blind Spot Manga Win Eisner Awards”. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 21 Tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 24 Tháng 7 năm 2021.
  51. ^ Grunenwald, Joe (16 Tháng 7 năm 2021). “2021 Harvey Awards nominees revealed, and voting is now open”. Comics Beat. Lưu trữ bản gốc ngày 17 Tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 26 Tháng 7 năm 2021.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]