Tội ác chiến tranh của Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tội ác chiến tranh của Đế quốc Nhật Bản xảy ra ở nhiều nước Châu Á Thái Bình Dương trong thời kỳ chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, chủ yếu trong giai đoạn Chiến tranh Trung-Nhật và Chiến tranh thế giới thứ hai. Những tội ác này đã được mô tả là một cuộc tàn sát người Châu Á.[1] Một số tội ác chiến tranh do quân nhân Đế quốc Nhật BẢn thực hiện vào cuối thế kỷ 19; tuy rằng hầu hết tội ác này xảy ra trong giai đoạn đầu của thời kỳ Chiêu Hòa, tương ứng với triều đại của Hirohito, cho đến khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945.

Một số nhà sử học và chính phủ buộc tội các lực lượng quân sự Nhật Bản, cụ thể là Quân đội Đế quốc Nhật Bản, Hải quân Đế quốc Nhật Bản và gia đình Hoàng gia Nhật Bản, đặc biệt là dưới thời Hoàng đế Hirohito, chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người, ước tính khoảng 3 [2] đến 14 [3]  triệu thường dân và tù nhân chiến tranh thông qua thảm sát, thí nghiệm trên con người, chết đói và lao động cưỡng bức trực tiếp hoặc bị chính phủ và quân đội Nhật Bản ép buộc.[4][5][6][7][8] Một số binh sĩ Nhật Bản đã thừa nhận phạm tội này.[9] Airmen của Đế quốc Nhật Bản Army Air Service và Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản không được tính như là tội phạm chiến tranh vì không có pháp luật nhân đạo quốc tế rõ ràng hay cụ thể mà cấm việc thực hiện trái pháp luật của chiến tranh trên không trước hoặc trong Thế chiến II. Cơ quan Không quân Quân đội Nhật Bản đã tham gia tiến hành các cuộc tấn công hóa học và sinh học vào các quốc gia đối địch trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai và Thế chiến II và việc sử dụng các vũ khí đó trong chiến tranh thường bị cấm bởi các thỏa thuận quốc tế được ký kết bởi Nhật Bản, bao gồm Công ước Hague (1899 và 1907), trong đó cấm sử dụng "vũ khí chất độc hoặc độc hại" trong chiến tranh.[10][11]

Kể từ những năm 1950, các quan chức cao cấp của Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều lời xin lỗi về tội ác chiến tranh của đất nước. Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố rằng nước này thừa nhận vai trò của mình trong việc gây ra "thiệt hại và đau khổ khủng khiếp" trong Thế chiến II, đặc biệt là khi IJA tấn công vào Nam Kinh, trong đó lính Nhật đã giết một số lượng lớn người không tham chiến và tham gia cướp bóc và hiếp dâm.[12] Cũng cần nói là một số thành viên của Đảng Dân chủ Tự do trong chính phủ Nhật Bản như cựu thủ tướng Junichiro Koizumi và Thủ tướng đương nhiệm Shinzō Abe đã cầu nguyện tại Đền Yasukuni, bao gồm những tội phạm chiến tranh hạng A bị kết án trong những tử sĩ được vinh danh. Một số sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản chỉ cung cấp các tài liệu tham khảo ngắn gọn về các tội ác chiến tranh khác nhau,[13] và các thành viên của Đảng Dân chủ Tự do đã phủ nhận một số hành động tàn bạo như sự tham gia của chính phủ trong việc bắt cóc phụ nữ làm " phụ nữ giải khuây" (nô lệ tình dục).[14] Chính quyền các nước Đồng minh nhận thấy rằng người Hàn Quốc và Đài Loan phục vụ trong lực lượng của Đế quốc Nhật Bản cũng phạm tội ác chiến tranh, bên cạnh lực lượng quân đội và dân sự Nhật Bản.[15][16]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The World: Revisiting World War II Atrocities; Comparing the Unspeakable to the Unthinkable”. 
  2. ^ “Rummell, Statistics. Hawaii.edu. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ “Sterling and Peggy Seagrave: Gold Warriors”. 
  4. ^ “Japanese War Criminals World War Two”. The National Archives (U.K.). 
  5. ^ “Japanese War Crimes”. The National Archives (U.S.). 
  6. ^ “Pacific Theater Document Archive”. War Crimes Studies Center, University of California, Berkeley. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  7. ^ Kafala, Tarik (ngày 21 tháng 10 năm 2009). “What is a war crime?”. BBC News. 
  8. ^ “Bibliography: War Crimes”. Sigur Center for Asian Studies, George Washington University. 
  9. ^ Tabuchi, Hiroko. “Japan's Abe: No Proof of WWII Sex Slaves”. Washington Post (The Associated Press). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007. 
  10. ^ 'Japan bombed China with plague-fleas'. BBC News. Ngày 25 tháng 1 năm 2001. 
  11. ^ Tsuneishi Keiichi. “Unit 731 and the Japanese Imperial Army's Biological Warfare Program”. Japan Focus.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  12. ^ “Q8: What is the view of the Government of Japan on the incident known as the "Nanjing Massacre"?”. Foreign Policy Q&A. Ministry of Foreign Affairs of Japan. 
  13. ^ Kasahara, Tokushi. “Reconciling Narratives of the Nanjing Massacre in Japanese and Chinese Textbooks” (PDF). Tsuru Bunka University. 
  14. ^ Shin, Hee-seok (ngày 1 tháng 3 năm 2007). “Japan's Abe Denies Proof of World War II Sex Slaves”. koreatimes (bằng tiếng Hàn). Associated Press. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2007. 
  15. ^ Shin, Hee-seok (ngày 10 tháng 2 năm 2017). “Korean War criminals tried as Japanese”. Telegraph.co.uk (bằng tiếng Hàn) (The Korea Times). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017. 
  16. ^ Ryall, Julian (ngày 11 tháng 11 năm 2014). “British ex-POW in Japanese camp 'disgusted' by guard demands for compensation”. Telegraph.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.