Chân Tử Đan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chân Tử Đan
Donnieyen SHFF.jpg
Chân Tử Đan tại liên hoan phim quốc tế Thượng Hải, phim 2007
Phồn thể 甄子丹
Giản thể 甄子丹
Bính âm Zhēn Zǐdān
Việt bính Jan1 Zi2daan1
Tổ tiên Đài Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc
Nguyên quán Hồng Kông
Ngày sinh 27 tháng 7, 1963 (50 tuổi)
Nơi sinh Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc
Nghề nghiệp Diễn viên, võ sĩ, đạo diễn, nhà chỉ đạo hành động, nhà sản xuất phim
Năm hoạt động 1983 - nay
Hôn nhân Cissy Wang (2003 - nay)
Trang web chính thức http://www.donnieyen.com/
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các Chữ tiếng Trung. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì chữ Trung Quốc.

Chân Tử Đan (chữ Hán: 甄子丹; bính âm: Zhēn Zǐdān; tên Tiếng Anh: Donnie Yen; sinh ngày 27 tháng 6 năm 1963) là một diễn viên người Trung Quốc, ngoài ra anh còn là một đạo diễn, nhà chỉ đạo võ thuật và nhà sản xuất điện ảnh[1]. Anh nổi tiếng trên màn ảnh truyền hìnhmàn ảnh rộng qua những vai diễn có sử dụng võ thuật như một trong những ngôi sao võ thuật hàng đầu châu Á[2]. Về diễn xuất, Chân Tử Đan từng hai lần nhận được đề cử giải Kim Tượng. Anh được coi là người trẻ nhất trong số những nhà chỉ đạo võ thuật xuất sắc nhất thế giới[3], từng nhiều lần được trao giải thưởng về chỉ đạo võ thuật tại các liên hoan phim Hồng Kôngchâu Á[4].

Tại Việt Nam tên anh thường bị phiên âm sai thành Chung Tử Đơn, tên này được sử dụng phổ biến trên báo chí[5][6], áp phích, bìa đĩa, cũng như trong giới hâm mộ.

Thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan sinh ở Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc, là con của nữ danh sư Thái cực quyền Mạch Bảo Thiền (麥寶嬋) và ông Chân Vân Long (甄雲龍), một nhà biên tập báo[7].

Năm hơn 1 tuổi, anh theo ba tới Hồng Kông, trong khi mẹ ở lại Quảng Đông vì lý do thủ tục. Đến năm 9 tuổi mẹ anh mới sang được Hồng Kông, gia đình lại chuyển sang Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, nơi mẹ anh sẽ mở viện nghiên cứu võ thuật Trung Hoa[1]. Bấy giờ anh rất tích cực học võ và đàn dương cầm cổ điển. Người em gái của anh, cô Chân Tử Tinh (甄子菁) cũng có học võ, sau này cũng trở thành diễn viên, sau khi tham gia bộ phim Adventures of Johnny Tao: Rock Around the Dragon.

Từ nhỏ anh rất thích học và nghiên cứu võ thuật, từng là đệ tử của nhiều phái võ khác nhau như Thái Cực Đạo, Wushu. Thần tượng của anh lúc này là Lý Tiểu Long, anh hâm mộ đến mức bắt chước cột một dải lụa ở ống chân để giắt cây côn nhị khúc[1]. Sự say mê võ thuật khiến anh lơ là, chán nản việc học. Anh bỏ học, gia nhập băng đảng và thường tham gia những cuộc đánh lộn, có khi băng đảng của anh đã gây ra án mạng[1]. Điều đó khiến cha mẹ anh lo sợ, họ đưa anh trở về Quảng Đông.

Trở về quê nhà, anh đi theo con đường của một võ sĩ Wushu. Anh đến Bắc Kinh để luyện tập trong đội tuyển Wushu Trung Quốc. Thời gian đầu anh đến Quảng Châu tập luyện với võ sư Lý. Ông Lý là người đã làm cho Chân Tử Đan bỏ đi phong cách Híp-pi lập dị kiểu Mĩ. Thời gian này anh còn học võ với sư phụ Ngô Bân, người từng dạy võ cho Lý Liên Kiệt[8][9][10].

Năm 1983, khi sắp trở về Mĩ, Chân Tử Đan làm một chuyến du lịch ở Hồng Kông. Lúc này đạo diễn Viên Hoà Bình đang quay phim Tiếu Thái Cực, ông đã tìm rất lâu nhưng không ra một nam diễn viên phù hợp cho vai chính. Chị của Viên Hòa Bình, người từng theo học võ của mẹ Chân Tử Đan, đã giới thiệu "con trai của Mạch sư phụ" cho họ Viên, và Viên Hoà Bình đã mời anh thử đóng bộ phim Thiên sư chàng tà của ông, trong vai trò một người đóng thế.

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan trong bộ phim đầu tay Tiếu Thái Cực (笑太極, tên tiếng Anh Drunken Tai Chi), lúc này cặp mí mắt và hàm răng của anh chưa được chỉnh sửa bởi viện thẩm mĩ

Bộ phim đầu tiên mà Chân Tử Đan thủ vai chính là Tiếu Thái Cực, sản xuất năm 1984 khi anh 21 tuổi. Phim này nói về môn võ Tuý quyền. Tiếu Thái Cực chưa phải là một thành công lớn tuy nhiên đã giới thiệu được tên tuổi của Chân đến với khán giả. Trong những ngày đầu đóng phim, Chân Tử Đan đã nhờ đến thẩm mĩ viện để chỉnh sửa lại cặp mắt một mí và hàm răng không mấy ngăn nắp của mình. Sự sửa đổi dung mạo này được thể hiện rõ trong giai đoạn tiếp theo, từ sau phim Lồng Hổ 1. Tuy vậy, từ đó đến năm 1989, anh chỉ được giao những vai phụ.

Năm 1989, bộ phim Tiêu diệt nhân chứng đưa tên tuổi Chân Tử Đan vào hàng ngũ những diễn viên võ thuật ăn khách. Hai năm sau, anh hợp tác với Quan Chí LâmNgô Đại Duy trong bộ phim về đề tài rửa tiền: Lồng Hổ 2. Tiếp theo đó là các phim Con gái quỷ Satan, Nộ hỏa uy long, tuy nhiên không được nhiều người chú ý.

Năm 1992, Chân mang đến một cái nhìn khác cho khán giả nhờ 2 vai phản diện trong Hoàng Phi Hồng 2: Nam nhi đương tự cườngTân Long Môn khách sạn. Nổi bật nhất là vai trong phim Hoàng Phi Hồng 2, đây là lần đầu Chân Tử Đan được hợp tác với các diễn viên gạo cội như Trương Thiết Lâm, Khương Đại Vệ, và diễn viên nổi tiếng thời đó là Lý Liên Kiệt. Trận đấu giữa Nạp Lan Nguyên Thuật (Chân Tử Đan đóng) với Hoàng Phi Hồng (Lý Liên Kiệt đóng), phối hợp vận dụng nhiều loại vũ khí như đao, côn... tạo nên những thế võ đẹp mắt, được liệt vào hàng kinh điển trong lịch sử phim võ thuật[11]. Về sau, Chân Tử Đan còn hợp tác với Lý Liên Kiệt ở phim Anh Hùng (2002), và cuộc giao đấu giữa Trường Không (Chân Tử Đan đóng) với Vô Danh (Lý Liên Kiệt đóng) đã được bầu chọn là một trong những màn đấu võ hay nhất trên màn ảnh từ trước tới nay. Với phim Hoàng Phi Hồng: Nam nhi đương tự cường, Chân Tử Đan được đề cử giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất ở liên hoan phim Hồng Kông.[1][4]

Phim Tân Long Môn khách sạn quy tụ khá nhiều ngôi sao ăn khách thời đó: Trương Mạn Ngọc, Lương Gia Huy, Lâm Thanh Hà. Chân Tử Đan đóng vai thái giám, vai phản diện chính với màn quyết đấu ác liệt cuối phim. Phim gặt hái được nhiều thành công lớn.

Diễn viên ăn khách[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu niên Hoàng Phi Hồng (Iron monkey), sản xuất năm 1993, bộ phim đưa Chân Tử Đan lên hàng ngôi sao

Năm 1993 đánh dấu mốc trong sự nghiệp của Chân Tử Đan, khi vai chính trong bộ phim Thiếu niên Hoàng Phi Hồng của Từ Khắc được hoan nghênh nhiệt liệt. Trong phim này, Chân đóng vai chính Hoàng Kì Anh, cha của Hoàng Phi Hồng. Vai chính còn lại do Du Vinh Quang thể hiện. Trận đấu kết thúc phim diễn ra trên biển lửa giữa Hoàng Kì Anh, Con Khỉ Sắt (Du Vinh Quang đóng) và Ác tăng đã để lại nhiều ấn tượng và trở thành đề tài cho nhiều phim nhái sau này. Thiếu niên Hoàng Phi Hồng là một thành công lớn nối tiếp loạt phim về nhân vật truyền kì Hoàng Phi Hồng, nhưng riêng với Chân Tử Đan, bộ phim đã đưa anh lên hàng những ngôi sao võ thuật trong điện ảnh Hồng Kông. Đến năm 2002, Thiếu niên Hoàng Phi Hồng được trình chiếu tại phương Tây và được hoan nghênh nhiệt liệt, góp phần đưa tên tuổi anh ra ngoài châu Á.

Trong năm này ngoài vai Hoàng Kì Anh, anh còn có một vai phản diện trong Hồ Điệp kiếm và vai Tô Khất Nhi múa tuý quyền trong Tô Khất Nhi.

Năm 1994, đạo diễn nổi tiếng Hollywood Steven Seagal mời Chân Tử Đan vào vai Lý Tiểu Long trong bộ phim Lý Tiểu Long truyền kì, tuy nhiên anh đã chối từ. Trong năm này anh tham gia 3 phim, trong đó có vai chính phim truyền hình Hồng Hi Quan, 2 phim điện ảnh còn lại là Mã Hí cuồng phongVịnh Xuân quyền. Trong Vịnh Xuân quyền, anh đóng vai người tình của Nghiêm Vịnh Xuân do Dương Tử Quỳnh đóng.

Năm 1995, phim Tinh Võ Môn của ATV ra đời, đã gây nên một cơn sốt mới ở các nước nói tiếng HoaĐông Nam Á. Phim dài 18 tập, lấy bối cảnh thời Dân quốc, kể về những giai đoạn quan trọng trong đời nhân vật huyền thoại Trần Chân. Nhân vật Trần Chân từng được thể hiện qua Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt, nay được thể hiện qua Chân Tử Đan và đã tạo nên được nhiều ấn tượng mới. Tại Việt Nam, người ta biết đến anh nhiều bởi vai này và nhiều người gọi anh là Trần Chân. Mặc dù bộ phim thành công, nhưng nhìn về lối trình diễn võ thuật lúc bấy giờ, anh cho thấy sự chịu ảnh hưởng nhiều bởi vai Trần Chân của Lý Tiểu Long, từ cách diễn tả trên nét mặt đến những pha múa võ có lẫn tiếng hét đặc trưng của họ Lý.

Trường Không trong phim Anh Hùng là một trong những vai diễn ấn tượng nhất của Chân Tử Đan, dù anh chỉ xuất hiện trong một cảnh quay

Năm 1997, anh thành lập hãng phim Bullet, đồng thời thử sức trong vai trò đạo diễn với phim Chiến lang truyền thuyết (Legend of the wolf). Trong phim này anh đóng vai chính Văn Hiến, ngoài ra còn có nữ diễn viên đang lên lúc đó là Lý Nhược Đồng. Bộ phim không đặc sắc về nội dung, tuy nhiên lại thành công lớn về mặt doanh thu, với rất nhiều những màn đánh lộn được diễn tả chân thực. Hãng phim tồn tại 2 năm, với các phim Nhật bản bản ('1999) và Nụ hôn sát nhân (1998). Phim Nụ hôn sát nhân có sự tham gia của người đẹp Ngô Thần Quân, do Chân Tử Đan đạo diễn và thủ vai chính, được trao giải "Phim xuất sắc nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý.

Năm 2002, anh tham gia siêu phẩm Anh hùng của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Bộ phim đã đưa tên tuổi của anh ra thế giới. Đạo diễn họ Trương vốn khắt khe, đã tỏ ra rất khâm phục khả năng biểu diễn võ thuật của Chân Tử Đan trong phim này. Vai của Chân Tử Đan chỉ xuất hiện trong một cảnh quay, đạo diễn họ Trương sử dụng như một phương pháp tô điểm. Anh đánh từ đầu tới cuối trong sự xuất hiện của mình, và cảnh quay phải mất tới 20 ngày.[12].

Thời gian này Chân Tử Đan còn nổi lên với vai trò người chỉ đạo, giàn dựng các pha đấu võ thuật. Các phim nổi tiếng nhất được anh chỉ đạo võ thuật là: Code name 2:Puma[13], Thiên cơ biến III, Nụ hôn sát nhân...

Trong công việc, Chân nổi tiếng là người nghiêm túc và khá kén chọn, anh không phải là người sẵn sàng nắm bắt tất cả các cơ hội tiến thân tại Holywood. Từng từ chối đóng vai Lý Tiểu Long trong Truyện Lý Tiểu Long và sau đó là năm 2003, khi anh khước từ lời mời xuất hiện bên cạnh Angelina Jolie trong Tomb Raider II"tôi thích những gì mới mẻ và sáng tạo, còn vai diễn đó lại chẳng khác gì những vai trước đây của tôi". Chân được đạo diễn Guillermo del ToroHollywood mời đóng phim lần thứ ba: Blade I, và lần này anh đã nhận lời. Vai diễn người tuyết tuy chỉ là vai nhỏ, với màn võ thuật tô điểm, nhưng cũng đủ ấn tượng để anh được mời tiếp vào phim Highlander: End game của Douglas Aarniokoski (2000); tuy nhiên phim này không thành công. Vai diễn tiếp theo của Chân Tử Đan tại Hollywood là vai phản diện trong Hiệp sĩ Thượng Hải của Thành Long, vai này ban đầu được giao cho Robin Shou, bạn diễn của Chân trong phim Lồng Hổ 2, nhưng Shou mắc việc không nhận được và vai đã được giao cho Chân Tử Đan.

Một lúc làm nhiều vai trò, nhưng mỗi năm anh vẫn đều đặn đóng xong một bộ phim, các phim Thiên cơ biến 2, Love on the rocks,... cũng tạo nên một số ấn tượng nhất định.

Năm 2005, Chân Tử Đan vào vai Sở Chiêu Nam trong Thất kiếm của Từ Khắc, tuy nhiên bộ phim đã không có được thành công như mong đợi.

Hợp tác với Diệp Vĩ Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Vấn, bộ phim đầu tiên đưa Chân Tử Đan vào danh sách đề cử "nam chính xuất sắc" của giải Kim Tượng

Sau thất bại của Thất Kiếm, Chân Tử Đan đã gặp gỡ đạo diễn trẻ mới nổi Diệp Vĩ Tín. Sự gặp gỡ này đã đánh dấu mốc mới trong sự nghiệp của Chân Tử Đan. Tính cho tới nay, họ đã hợp tác với nhau 4 phim, tất cả đều nổi tiếng, đó là bộ ba Sát phá lang, Long Hổ Môn, Đảo hoả tuyến và gần đây nhất: phim Diệp Vấn.

Trong Sát Phá Lang, Chân Tử Đan vào vai cảnh sát Mã, lạnh lùng, có vẻ cô độc nhưng là một người có tình cảm. Vai diễn mang lại cho Chân nhiều chỗ diễn nội tâm. Trong phim, ấn tượng nhất có đoạn giao đấu đầy máu me, kịch tính giữa Chân Tử Đan - Ngô Kinh và trận đánh trong phòng khách giữa Chân Tử Đan - Hồng Kim Bảo. Tiếp theo thành công của Sát Phá Lang, Chân - Diệp tiếp tục hợp tác làm bộ Long Hổ Môn rồi Đảo hoả tuyến. Những phim này đều nhận được nhiều đề cử và giải thưởng.

2008 là một năm thành công của Chân Tử Đan, khi anh liên tiếp xuất hiện trong các bộ phim "bom tấn": Giang sơn mĩ nhân, Họa bì, và Diệp vấn. Giang sơn mĩ nhân, tuy nhiên không thành công như hứa hẹn. Còn Họa Bì, một phim kinh dị cổ trang đã lập kỉ lục về doanh thu phòng vé, phim cũng nhận được nhiều giải thưởng cũng như đề cử. Tuy vậy, thành công và tạo nên nhiều ảnh hưởng hơn cả là Diệp Vấn.

Phim Diệp Vấn kể về một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của danh sư Diệp Vấn, trong phim này Chân Tử Đan đã trình diễn một phong cách khác trước, đó là không sử dụng những cú đá song phi nổi tiếng của mình mà phần lớn các pha võ thuật đều dùng tay - một nét độc đáo của Vịnh Xuân quyền. Để diễn được các pha võ này, anh đã luyện Vịnh Xuân 8 tháng, cũng như giảm 5 ký để phù hợp với vai Diệp Vấn[14]. Về diễn xuất, vai diễn có chút hài hước và nhiều trường đoạn nội tâm hơn các phim trước đây anh tham gia. Ông Diệp Chuẩn, con trai của Diệp Vấn sau khi xem phim này đã khen ngợi Chân và cho rằng anh là người thích hợp nhất để đóng vai này[14].

Với vai Diệp Vấn, lần đầu tiên Chân Tử Đan được đề cử giải "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" tại liên hoan phim HKFA 2009, ngoài ra phim Diệp Vấn còn nhận được 11 đề cử khác, trong đó có giải "phim xuất sắc", "diễn viên phụ xuất sắc nhất" và "đạo diễn xuất sắc nhất"[15]. Về doanh thu, phim đạt 100 triệu Nhân dân tệ và 25 triệu Đô la Hồng Kông sau 1 tuần khởi chiếu, trở thành phim võ thuật đoạt doanh thu cao nhất từ trước tới giờ[16].[17][18]

Trong thời gian quay bộ phim này, Chân Tử Đan từng bị đưa ra so sánh với ảnh đế Lương Triều Vĩ khi Lương cũng quay một phim mang tên Nhất đại tôn sư Diệp Vấn với Vương Gia Vệ, tuy nhiên sau khi phim công chiếu, Chân Tử Đan đã nhận được nhiều khen ngợi, trong đó có lời khen của Lương Triều Vĩ.[19][20]

Sau Diệp Vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công của Diệp Vấn, bộ đôi Diệp - Chân sẽ thực hiện tiếp phim Diệp Vấn II. Trong một bài phỏng vấn gần đây, Chân Tử Đan nói rằng anh đang cầm trong tay 5 kịch bản, và có thể sẽ phải quay liền 5 phim trong năm 2009.[21].

Năm 2009, Chân Tử Đan tham gia bộ phim Thập nguyệt vi thành (hay còn gọi với cái tên : Sát thủ và vệ sĩ ở Việt Nam) (十月围城) với vai chính là một tay đệ tử của "bác thằng bần", ngoài ra phim còn có sự tham gia của nhiều ngôi sao khác như Lương Gia Huy, Nhậm Đạt Hoa, Tăng Chí Vĩ, Lê Minh, Hồ Quân, Lê Cung..., cùng một vai nhỏ trong bộ phim Kiến quốc đại nghiệp. Sau đó, anh tham gia đóng vai chính trong bộ phim cổ trang Cẩm y vệ (14 Blades) của đạo diễn Lý Nhân Cảng, với sự tham gia của các diễn viên Triệu Vy, Ngô Tôn, Thích Ngọc Vũ, Từ Tử San, Hồng Kim Bảo.

Sắp tới vào ngày 1 tháng 10 năm 2010, Chân Tử Đan sẽ cho ra mắt 1 bộ phim mới Tinh Võ Phong Vân (Legend of the Fist: The Return of Chen Zhen) của đạo diễn Lưu Vĩ Cường, trong phim có sự góp mặt của nữ diễn viên Thư Kỳ. Hiện anh đang tiếp tục tham gia 2 dự án phim khác là Quan Vân Trường (The Lost Bladesman, đạo diễn Trang Văn Cường, Mạch Triệu Huy, Chân Tử Đan thủ vai chính Quan Vân Trường) và Độc tí đao (One Armed Swordsman, đạo diễn Trần Khả Tân, làm lại từ bộ phim cùng tên năm 1967). [22][23]

Công việc ngoài diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ đạo võ thuật, hành động[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài diễn xuất, Chân Tử Đan còn làm đạo diễn hành động và nhà chỉ đạo võ thuật. Đây là nghề tay trái của Chân nhưng lại mang lại cho anh bộ sưu tập giải thưởng đáng nể: 7 giải thưởng và 2 đề cử, trong đó có 3 Kim Tượng và 2 Kim Mã[4]. Anh làm công việc chỉ đạo võ thuật từ những năm đầu của sự nghiệp, với phim ăn khách Lồng Hổ 1. Những phim nổi tiếng nhất do anh chỉ đạo các pha hành động và đấu võ là: Lồng Hổ 2, Vịnh Xuân quyền, Chiến Lang truyền thuyết, Code name 2:Puma, Thiên cơ biến III, Nụ hôn sát nhân, Blade II, Sát phá lang, Long Hổ Môn,...

Năm 2008, khi làm phim Diệp Vấn, do đã đảm nhận nhiều công việc (tập võ, diễn xuất), vai trò đạo diễn võ thuật của Chân đã được giao lại cho Hồng Kim Bảo.

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Trở thành đạo diễn từ năm 34 tuổi với phim Chiến lang truyền thuyết (Legend of the wolf), cho đến nay, Chân Tử Đan đã đạo diễn 6 phim, trong đó cũng có những phim thành công. Phim Nụ hôn sát nhân năm 1997 đã được trao giải "một trong những phim hay nhất năm 1998" bởi hội phê bình điện ảnh Hồng Kông và tại Liên hoan phim Udine của Ý. Các phim Thiên cơ biến, Chiến lang truyền thuyết, Tân Đường Sơn đại huynh đều được xếp vào loại ăn khách.

Anh là ứng cử viên duy nhất (trong số 6 ứng cử viên) của Hồng Kông đạt được giải thưởng "Đạo diễn trẻ xuất sắc nhất" tại Liên hoan phim Yubari, Nhật Bản.

Nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan từng đóng vai trò nhà sản xuất và đồng sản xuất cho 5 phim: Họa bì, Đảo hỏa tuyến, Long Hổ Môn, Nụ hôn sát nhân, Chiến lang truyền thuyết. Năm 1997 anh từng mở hãng phim tên là Bullet nhưng nay đã giải tán.

Làm mẫu cho nhân vật trong game[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Chân Tử Đan lần đầu tham gia trong ngành công nghiệp Game, với game nổi tiếng Onimusha III của hãng Capcom. Anh giữ vai trò quan trọng trong game hành động nổi tiếng này, khi đảm nhận công việc chỉ đạo võ thuật và biểu diễn mẫu cho nhân vật. [2] Năm 2006, Game Long Hổ Môn ra đời dựa theo bộ phim anh thủ vai chính. Chân cũng làm mẫu cho chuyển động của nhân vật chính trong Game này.

Phong cách võ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan thường được coi là diễn viên có phong cách biểu diễn võ thuật đặc biệt. Jung Sang Kyo, một ký giả của tờ tạp chí võ thuật Mookas có lời nhận xét: "Lý Tiểu Long thuộc nhóm diễn viên chuyên dùng các thế võ hiện đại, Lý Liên Kiệt thuộc nhóm chuyên dùng võ thuật truyền thống Trung Hoa. Còn Chân Tử Đan thì thuộc nhóm của riêng anh."[24] Võ thuật của anh, cũng theo cây bút này, "là sự kết hợp, dung hoà giữa các thế võ hiện đại và truyền thống, giữa việc sử dụng binh khí truyền thống, với sử dụng các đòn quyền cước hiện đại"[24]. Võ công trên màn ảnh của Chân được các nhà phân tích chia làm hai dòng, một là dòng võ thuật Trung Hoa chính thống với sự điêu luyện trong việc sử dụng binh khí, hai là dòng võ thuật chỉ sử dụng các đòn chân, tay thông thường như Thái Cực Đạo Hàn Quốc, Muay Thái, Quyền Anh,…[24]. Ngón võ nổi tiếng của anh là các đòn chân, các thế đá chẻ, đá móc, lái xốc đặc trưng của Taekwondo được Chân sử dụng rất nhiều trong phim của mình[25]. Bên cạnh đó anh cũng không ngừng thay đổi và bổ sung vào phong cách biểu diễn, trong những bộ phim gần đây như Sát phá lang, Long Hổ Môn, Giang sơn mỹ nhân, Đảo hỏa tuyến, anh thường sử dụng những ngón đòn của vật tự do; gần đây nhất là trong Diệp Vấn, khi Chân Tử Đan đã biểu diễn Vịnh Xuân quyền (môn võ chủ yếu dùng tay) một cách điêu luyện. Anh đã luyện tập 8 tháng trước thời gian quay phim. Võ công của anh trong phim này được Diệp Chuẩn, con trai Diệp Vấn cho rằng rất giống Diệp Vấn.[26].

Vì có một phong cách đánh võ độc đáo và đẹp mắt, Chân Tử Đan thường được mời vào các phim ở tư cách khách mời nhằm câu khách, như trong Thánh bài II, anh đóng vai cảnh sát và chỉ xuất hiện ở đoạn loạn đả cuối phim, ngoài ra có thể kể đến những màn trình diễn võ thuật ngắn ngủi trong Hiệp sĩ thượng hải, Anh hùng, Love on the Rocks, Thiên cơ biến II, gần đây (2009) thì có All's Well, Ends Well 2009.

Chuyện tình cảm[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Tử Đan đã từng đính hôn với 2 người, người đầu tiên là nữ diễn viên Vạn Ỷ Văn, từng đóng cặp với anh trong Tinh Võ Môn (phim 1995) (vai Võ Điền Du Mĩ). Năm 2003, anh đã tổ chức đám cưới với cô Uông Thi Thi, hoa hậu Hoa kiều Toronto năm 2000, kém anh 19 tuổi[27]. Hôn lễ tổ chức tại Toronto, Canada. Đến nay họ đã có với nhau hai con, một gái tên là Jasmin và trai tên James. Chân Tử Đan còn có con riêng, tên là Man Cheuk Yen[28].

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa phim Tên gốc Vai Chú thích
1983 Thiên sư chàng tà 天師撞邪 đóng thế hay Miracle Fighters 2
1984 Quỷ mã thiên sư 鬼馬天師 đóng thế
Tiếu Thái Cực 笑太極 "Ching Do" hay Drunken Tai Chi Master
1985 Tình phùng địch thủ 情逢敵手 "Eddie" hay The Mismatched Couple
1988 Lồng Hổ 1 特警屠龍 "Terry"
đạo diễn võ thuật
1989 Tiêu diệt nhân chứng 皇家師姐IV直擊證人 Đội trưởng "Donnie Yan" hay In the Line of Duty IV: Witness
hay Yes, Madam 4
1990 Lồng Hổ 2 洗黑錢 "Dragon Yau"
đạo diễn võ thuật
hay Rửa tiền đẫm máu
hay Đồng tiền đen
1991 Con gái quỷ satan 魔唇劫 "Shiang Chin-Fei"
Nộ hỏa uy long 怒火威龍 "Lương" / "Trần"
1992 Liệp báo hành động 獵豹行動 "Ronnie" / "Roano"
Hoàng phi hồng II: Nam nhi đương tự cường 黃飛鴻之二男兒當自強 "Nạp Lan Nguyên Thuật"
Tân Long Môn khách sạn 新龍門客棧 "Ngụy Trung Hiền"
1993 Thiếu niên Hoàng Phi Hồng 少年黃飛鴻之鐵馬騮 "Hoàng Kỳ Anh" hay Iron Monkey
hay Con khỉ sắt
hay Thiết mã lưu
Tân lưu tinh hồ điệp kiếm 新流星蝴蝶劍 "Yip Cheung"
Túy quyền Tô Khất Nhi 蘇乞兒 Ăn mày "Tô Sáng" hay Hồng Long truyền thuyết
hay Tô Khất Nhi
1994 Vịnh Xuân quyền 詠春 Lương Bác Trù
đạo diễn võ thuật
Mã hí cuồng phong 馬戲小子 "Danton Lee" hay Mã hí tiểu tử
1995 Con khỉ sắt II 街頭殺手
Thánh bài 2 賭聖2街頭賭聖 "Lone Seven" (cameo)
1996 Satan trở lại 666魔鬼復活 "Nam"
đạo diễn võ thuật
hay Shaolin vs. The Devil's Omen
1997 Chiến Lang truyền thuyết 戰狼傳說 "Văn Hiến"
đạo diễn
nhà sản xuất
chỉ đạo võ thuật
đồng viết kịch bản
hay Truyền thuyết của sói
Cảnh sát á châu 亞洲警察之高壓線 "Chiang Ho-Wa"
đạo diễn võ thuật
Black Rose 2 黑玫瑰義結金蘭 hiệu trưởng trường dạy võ hay The Black Rose
hay 97 Legendary La Rose Noire
1998 Nụ hôn sát nhân 殺殺人、跳跳舞 "người mèo"
đạo diễn
nhà sản xuất
chỉ đạo võ thuật
Tân Đường Sơn đại huynh 新唐山大兄 "Đường Sơn"
đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
1999 Nhật Bản bản 日本版 "Ozone" hay Black City
2000 Highlander: Endgame "Jin Ke"
chỉ đạo võ thuật
2001 The Princess Blade 修羅雪姫 chỉ đạo võ thuật hay Shurayuki Hime
2002 Blade II "người tuyết"
chỉ đạo hành động
Anh hùng 英雄 Trường Không hay Người hùng
2003 Hiệp sĩ Thượng Hải "Vũ Châu"
Thiên cơ biến 千機變 đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
hay Song sát ma cà rồng
2004 Thiên cơ biến II 千機變II花都大戰 "General Lone" hay Hoa Đô đại chiến
Protege de la Rose Noire 見習黑玫瑰 đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
hay Black Rose Academy
Tình yêu trong Rock 戀情告急 ông "Từ"
2005 Sát Phá Lang 殺破狼 Cảnh sát "Mã Quân"
chỉ đạo hành động
Thất kiếm 七劍 "Sở Chiêu Nam"
2006 Stormbreaker chỉ đạo hành động
Long Hổ môn 龍虎門 "Long"
đạo diễn võ thuật
đồng sản xuất
2007 Đảo hỏa tuyến 導火線 Cảnh sát "Mã"
đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
nhà sản xuất
hay Flashpoint
hay Thành phố không khoan nhượng
2008 Giang sơn mĩ nhân 江山美人 "Mộ Dung Trạch Hổ"
Họa bì 畫皮 "Bàng Dũng"
nhà sản xuất
Diệp Vấn 葉問 "Diệp Vấn"
2009 Nhà có chuyện vui 家有喜事2009 khách dự đám cưới
2010 Huyền thoại Trần Chân 精武風雲 Trần Chân
2010 Diệp Vấn 葉問 "Diệp Vấn"
2010 Cẩm Y Vệ 錦衣衛 加強版預告片 Thanh Long
2011 Võ hiệp 武侠 Liu Jinxi - Tang Long
2012 Bát tinh bão hỷ 八星抱喜
2013 Mãi bên nhau Together Cảnh sát lạnh lùng
2013 Thân phận đặc biệt Special ID Đại ca Trần Tử Long
2014 Đại náo thiên cung The Monkey King Tôn Ngộ Không

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Tên gốc Vai Kênh Chú thích
1987 Hình cảnh bản sắc 刑警本色 "Dick Kwan"  Hồng Kông - TVB
1988 Vô miện cấp tiên phong 無冕急先鋒  Hồng Kông - TVB
1989 Phi Hổ quần anh 飛虎群英 "Trương Hạo Nam"  Hồng Kông - TVB
1991 Cuộc đời mới 命運迷宮 "Jun"  Hồng Kông - TVB
Cán thám quần anh 幹探群英 "Dan" hay "Bomb"  Hồng Kông -TVB
1994 Hồng Hi Quan 洪熙官: 決戰螳螂拳 "Hồng Hi Quan"  Hồng Kông - ATV hay The Kungfu master
1995 Tinh Võ Môn 精武門
Jing Wu Men
"Trần Chân"  Hồng Kông - ATV
1999-2000 Báo đen La Puma - Kämpfer mit Herz đồng đạo diễn
chỉ đạo võ thuật
 Đức - RTL
2001 Tinh Võ Môn 精武門
Jing Wu Men
"Trần Chân"  Hồng Kông - ATV hay Tục Tinh Võ Môn

[29][30][31][32]

Game[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Bài giới thiệu Chân Tử Đan - trên phimanh.net
  2. ^ Chung Tử Đơn vẫn là ngôi sao võ thuật hàng đầu châu Á - thuonghieuviet.com
  3. ^ Chân Tử Đan: Phát huy tinh thần Lý Tiểu Long - báo Mực tím online
  4. ^ a ă â Imdb.com
  5. ^ Chung Tử Đơn vào vai đại tông sư Diệp Vấn của phái Vịnh Xuân-thethaovanhoa.vn
  6. ^ Phim mới của Chung Tử Đơn sắp ra mắt-baovietnam.vn
  7. ^ Donnie Yen Biography (1963-) - filmreference.com
  8. ^ Lý Liên Kiệt: Thuở chưa là ảnh đế - 60s.com.vn
  9. ^ Donnie Yen, Hong Kong action star
  10. ^ Ngô Bân cũng là sư phụ của Triệu Văn Trác và Ngô Kinh sau này [1]
  11. ^ Once Upon a Time in China II -lovehkfilm.com
  12. ^ Phỏng vấn Chân Tử Đan về phim "Anh Hùng"-moviesboom
  13. ^ Phim này từng được chiếu trên kênh HTV9Việt Nam với tên Báo đen
  14. ^ a ă Chân Tử Đan giảm cân vì Diệp Vấn - kenh14.vn
  15. ^ 28th Hong Kong Film Awards - donnieyen.com
  16. ^ Diệp Vấn trở thành phim võ thuật ăn khách nhất Trung Quốc - vtc.vn
  17. ^ China Box Office January 12-18, 2009- boxofficemojo.com
  18. ^ Hong Kong Box Office, December 18–21, 2008 - boxofficemojo.com
  19. ^ Chân Tử Đan đụng độ Lương Triều Vĩ - tin247.com
  20. ^ Củng Lợi kết đôi cùng Lương Triều Vĩ - thegioidienanh.vn
  21. ^ Phỏng vấn Chân Tử Đan-trên sina.com.cn
  22. ^ 甄子丹谢霆锋黎明等聚集《十月围城》 - sina.com.cn
  23. ^ 九帝一后《十月围城》 超强阵容期待四亿票房 -xinhuanet.com
  24. ^ a ă â Welcome to The World of Donnie Yen's Martial Art - mookas.us
  25. ^ Đoạn phim này trong Chiến lang truyền thuyết có chỗ cho thấy Chân Tử Đan đã đá hơn chục phát liên tiếp, trong đoạn này anh cũng biểu diễn những thế đá chẻ, đá móc, lái xốc đặc trưng của Taekwondo
  26. ^ Tôi thấy mình trong Diệp Vấn - bài trên tintuc.timnhanh.com
  27. ^ Chân Tử Đan bị vợ cắm sừng ? - vtc.vn
  28. ^ Chân Tử Đan có con thứ 3 - phimanh.vnexpress.net
  29. ^ “Chân Tử Đan trên Imdb”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  30. ^ “Chân Tử Đan (Donnie Yen Ji-Dan) trên HKMDb”. Hong Kong Movie Database. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  31. ^ “Chân Tử Đan trên Hong Kong Cinemagic”. Hong Kong Cinemagic. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  32. ^ “Chân Tử Đan - 甄子丹”. Cinemasie.com. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web, blog[sửa | sửa mã nguồn]