Sân vận động Camp Nou

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sân vận động Camp Nou
Camp Nou aerial (cropped).jpg
Sân vận động loại 4 của UEFA
Tên đầy đủ Estadi Camp Nou
Tên cũ Estadio del FC Barcelona (1957–2000)
Vị trí Barcelona, Catalonia, Tây Ban Nha
Tọa độ 41°22′51″B 2°07′22″Đ / 41,38087°B 2,122802°Đ / 41.38087; 2.122802
Xây xong 1954–1957
Khánh thành 24 tháng 9 năm 1957[1]
Sửa chữa 1995, 2008
Mở rộng 1982
Chủ sở hữu FC Barcelona
Sử dụng FC Barcelona
Mặt sân Cỏ
Bảng điểm
Kiến trúc sư Silda VIP
Josep Soteras
Giulio
Giám đốc dự án Jonathan Ackroyd
Sức chứa 93,053 (1957–1980)
121,749 (1980–1993)
115,000 (1993–1999)
98,772 (2005–2010)
99,354 (2010–2012)
Phòng điều hành 23
Kích thước 106 m × 70 m (116 yd × 77 yd)[1]
Sử dụng
FC Barcelona (1957–nay)
Olympic mùa hè 1992
Đội tuyển quốc gia Catalonia
Sơ đồ sân Camp Nou

Camp Nou (thường được phát âm theo tiếng Anh là Nou Camp[2][3]) là sân vận động tọa lạc tại thành phố Barcelona, Catalonia, Tây Ban Nha. Đây là sân nhà của câu lạc bộ bóng đá FC Barcelona từ năm 1957. Cái tên này có nghĩa là "Sân mới của CLB bóng đá Barcelona".

Camp Nou có sức chứa 99.786 chỗ ngồi,[4] và được giảm xuống còn 96.336 chỗ theo tiêu chuẩn các trận đấu của UEFA,[5] khiến cho nó là sân vận động lớn nhất châu Âu và lớn thứ 11 trên thế giới. Sân vận động đã tổ chức nhiều trận đấu cũng như các sự kiện quốc tế quan trọng, bao gồm hai trận chung kết UEFA Champions League và các trận đấu thuộc bộ môn bóng đá tại Thế vận hội mùa hè năm 1992. Nổi tiếng với kiến trúc và kích thước khổng lồ của mình, Camp Nou là một trong những điểm du lịch được tham quan nhiều nhất ở thành phố Barcelona. Mới chỉ có gần 50 năm lịch sử, nhưng đây đã là một trong những thánh đường nổi tiếng nhất của bóng đá châu Âu.

Sự ra đời của một huyền thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Camp Nou lúc ban đầu

Với sự có mặt của Ladislao Kubala vào thập niên 1950, Barça đã đạt đến những thành công lớn, họ giành được tất cả các danh hiệu về cho sân Les Corts cũ kỹ. Nổi tiếng và thống trị các giải đấu, Barça không thể tiếp tục ở lại sân bóng Les Corts cũ kỹ và thiếu tiện nghi nữa, mặc cho sức chứa của sân là 60.000 chỗ. Barça phải "dọn nhà". Một mảnh đất đã được chọn lựa để xây sân mới ngay từ thời của chủ tịch Agustí Montal Galobart, trong quận Maternitat, không xa sân Les Corts. Nhưng ủy ban chuyên trách vấn đề này của CLB đã tư vấn nên chọn một mảnh đất khác để xây dựng sân mới vào tháng 2 năm 1951, và vị trí mới đã bị "kẹt" đến hơn hai năm. Người ta phải chờ đến quyết định của Fransesc Miró-Sans, chủ tịch Barça lúc đó, vào ngày 14 tháng 11 năm 1953 để dự án bắt đầu được đưa vào guồng. Và chính Fransesc Miró-Sans đã đặt viên gạch đầu tiên khởi công công trình vào ngày 28 tháng 3 năm 1954 trước 60.000 cổ động viên nhà. Kiến trúc sư công trình là Francesc Mitjans Miró, một bà con của ngài chủ tịch Miró-Sans, và Josep Soteras Mauri, cùng sự hợp tác của kiến trúc sư Lorenzo García Barbón. Sau đó một năm công trình được chuyển giao cho công ty Ingar Sa và công việc phải hoàn thành trong 18 tháng, kinh phí đã bị dội lên gấp bốn lần so với sự kiến ban đầu và đạt đến con số 288 triệu pesetas. Với sự cầm cố và vay mượn các nguồn khác nhau, CLB cũng đã hoàn thành công trình, tất nhiên đi cùng với nó là khoảng nợ kếch xù gánh trên vai đội bóng trong nhiều năm.

Cuốn cùng vào ngày 24 tháng 9 năm 1957 sân Nou Estadi del Futbol Club Barcelona (Sân mới của Câu lạc bộ bóng đá Barcelona), hay Camp Nou, được khánh thành với sự chứng kiến của hơn 90.000 người. Trận đấu khai trương sân là cuộc so tài giữa Barça: Ramallets, Olivella, Brugué, Segarra, Vergés, Gensana, Basora, Villaverde, Martínez, Kubala, Tejada với đội tuyển các cầu thủ xuất sắc của thành phố Warszawa (Ba Lan). Barça đã giành được chiến thắng đầu tiên trên sân mới: 4-2 trong đó cầu thủ ghi bàn khai sân là Eulogio Martínez ở phút 11.

Những thành công đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn cảnh sân Camp Nou

Sức chứa chính xác của sân Camp Nou vào lúc khai trương là 93.053 chỗ ngồi, giảm khoảng 50.000 chỗ so với dự kiến ban đầu, kích thước mặt sân là 107 × 72 m. Và với sân mới Camp Nou, Barça tiếp tục gặt hái những thành công. Với HLV Helenio Herrera, Barça khai trương sân mới bằng hai chức vô địch quốc gia liên tiếp mùa bóng 1958-1959 và mùa bóng 1959-1960 cùng với hai chiếc cúp hội chợ năm 1958 và 1960 (tiền thân của cúp UEFA ngày nay). Sân cũng khai trương hệ thống chiếu sáng vào ngày 23 tháng 9 năm 1959 nhân trận đấu trong khuôn khổ cúp châu Âu với CDNA Sofia.

Thập niên 1960 trôi qua khá trầm lặng đối với Barça, họ chỉ giành được ba danh hiệu. Ngày 23 tháng 6 năm 1963 sân Camp Nou chứng kiến các cầu thủ nhà nâng cao chiếc cúp Tây Ban Nha (còn gọi là cúp Thống chế vào thời đó) sau khi họ thắng Real Zaragoza. Vào năm 1966 Barça đoạt được chiến cúp hội chợ thứ ba trong lịch sử, một lần nữa là trước Real Zaragoza. Cuối cùng vào ngày 11 tháng 7 năm 1968 Barça giành chiến thắng trước Real Madrid ngay tại sân Santiago Bernabeu và đem về một chiếc cúp Tây Ban Nha nữa cho CLB.

Trở lại đỉnh cao[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc khán đải của Camp Nou, với 2 màu xanh-đỏ truyền thống của FC Barcelona.

Ngày 24 tháng 5 năm 1972 sân Camp Nou tổ chức lần đầu tiên một trận chung kết cúp châu Âu: cúp các đội đoạt cúp (cúp C2). Tuy không có Barça nhưng với sự góp mặt của Glasgow RangersDinamo Moscow trận đấu vẫn diễn ra sôi nổi và kết thúc với phần thắng 3-2 nghiêng về đội bóng đến từ Scotland. Thập niên 1970 chứng kiến sự tỏa sáng của Johan Cruyff, một trong những cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử CLB. Vào thời kỳ này sân Camp Nou được đầu tư hoàn chỉnh về cơ sở hạ tầng: xây dựng một sân trượt băng, xây Mini Estadi (sân nhỏ) cho đội Barça B, bảng điện tử (1975)... Và đội bóng tiếp tục tìm kiếm vinh quang ở các giải đấu: cúp Tây Ban Nha 1978 (chung kết thắng Las Palmas 3-1), 1979 thắng Fortuna Düsseldorf (4-3 sau hai hiệp phụ) tại chung kết cúp C2 tại Bâle trước 58.000 cổ động viên (30.000 của Barça). Sau đó tiếp tục là cúp Tây Ban Nha (1981, 1983), nhưng Barça phải chờ đến năm 1985 để giành được danh hiệu vô địch Liga (dưới thời HLV Terry Venables).

Cúp Thế giới 1982[sửa | sửa mã nguồn]

Noucamp1.jpg

Sân Camp Nou đã trải qua một đợt sửa chữa qui mô lớn để tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 1982: xây dựng phòng VIP, phòng họp báo, biển báo mới, và nhất là nâng thêm sức chứa của sân lên thêm 22.150 chỗ (tổng cộng gần 120.000 chỗ). Nhưng trận đấu quan trọng đầu tiên của năm lại không phải là trong khuôn khổ World Cup 82 mà đó là trận chung kết cúp C2 vào ngày 12 tháng 5 giữa đội chủ nhà và Standard Liège. Kết quả Barça thắng 2-1 trong niềm vui sướng tột cùng của hơn 100.000 cules. Ngày 13 tháng 6, thì cúp thế giới cũng mở màn tại Camp Nou, hơn 100.000 người đã theo dõi lễ khai mạc và trận đấu đầu tiên giữa ArgentinaBỉ với phần thắng 1-0 nghiêng về người Bỉ. Sau đó Camp Nou là nơi diễn ra ba trận đấu bảng A vòng 2: Ba Lan-Bỉ ngày 28 tháng 6, Bỉ-Liên Xô ngày 1 tháng 7 và Liên Xô-Ba Lan ngày 4 tháng 7. Ba Lan tiếp tục được thi đấu tại Camp Nou trong trận bán kết gặp Ý ngày 8 tháng 7 (thua 0-2).

"Dream Team" của Johan Cruyff[sửa | sửa mã nguồn]

Noucamp4.jpg

Trong thời kỳ này sân Camp Nou tiếp tục có những chỉnh trang mới: xây dựng một bảo tàng bên trong sân (1984), một số phòng chức năng bên dưới các khán đài... Không kể những trận đấu của Barça, sân Camp Nou bắt đầu tổ chức các buổi biểu diễn ca nhạc lớn vào thập niên 1980: Bruce Springsteen, Michael Jackson, Julio Iglesias... Nhưng quan trọng hơn hết là chuyến viếng thăm sân của Giáo hoàng quá cố John Paul II ngày 17 tháng 11 năm 1982, đích thân chủ tịch CLB lúc đó, Josep Lluís Núñez, đã trao cho Giáo hoàng tấm thẻ thành viên CLB mang số 108.000. Trở lại lĩnh vực thể thao, sân Camp Nou thời kỳ này đón tiếp trận chung kết cúp C1 ngày 24 tháng 5 năm 1989 giữa A.C, MilanSteaua Bucharest (4-0). Và trong khuôn khổ Thế vận hội Barcelona 92, sân Camp Nou đã tổ chức nhiều trận đấu của môn bóng đá, trong đó có trận chung kết giữa Tây Ban NhaBa Lan ngày 8 tháng 8 (3-2), Ferrer và Guardiola đã cùng Tây Ban Nha đăng quang trên sân nhà Camp Nou.

CLB đặc biệt thu được rất nhiều thành công kể từ khi Johan Cruyff trở lại với đội trên băng ghế huấn luyện. Đến vào năm 1988 khi mà đội vừa giành được một cúp quốc gia, "thánh Johan" đã đưa đội vào một thời kỳ đẹp nhất trong lịch sử CLB. Barça giành được một lần nữa chiếc cúp quốc gia vào năm 1990, và quan trọng hơn là chức vô địch quốc gia bốn lần liên tiếp vào các năm từ 1991 đến 1994. Và còn nữa, chiếc cúp C2 vào năm 1989 và trên hết là chiếc cúp C1 mà đội bóng đã chờ đợi từ rất lâu. Ngày 20 tháng 5 năm 1992 Barça đối đầu với Sampdoria đến từ Ý tại Wembley. Đội hình Barça khi đó: Zubizarreta, Nando, Ferrer, Koeman, Juan Carlos, Bakero, Salinas (được thay thế bởi Goikoetxea vào cuối trận), Stoichkov, Laudrup, Guardiola (được thay thế bởi Alexanko) và Eusebio - "Dream Team" của "thánh Johan". Nhưng Sampdoria khi đó là một đối thủ rất đáng gờm của họ. Và khi hai hiệp chính kết thúc hai đội vẫn hòa nhau 0-0. Chỉ đến phút thứ 113 của trận đấu, Ronald Koeman với cú sút phạt đi vào lịch sử đã đưa Barça lên ngai vàng của bóng đá châu Âu. Điều đó càng được khẳng định khi vào mùa thu năm đó Barça tiếp tục chiến thắng trong trận đấu tranh siêu cúp châu Âu với Werder Bremen (lượt đi trên sân Camp Nou 2-1, lượt về 1-1 tại Đức).

Giai đoạn hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona thi đấu với Bayern Munich tại sân vận động trong khuôn khổ UEFA Champions League 2013

Giai đoạn 1993-1994 bắt đầu cho một chuỗi ngày dài tu sửa và nâng cấp sân. Mặt sân được giảm đi 2,5 m, phá bỏ các hào ngăn cách khán đài và sân thi đấu (điều này cho phép nâng số chỗ ngồi). Trang bị ghế ngồi cho tất cả các chỗ của sân. Mái của tầng thứ ba của sân cũng được sửa lại, những salon cho thành viên CLB được sắp xếp dưới các khán đài, thang máy, một khu vực báo chí mới được xây dựng ở tầng ba. CLB cũng mở rộng khan đài danh dự, tất cả những điều đó được thực hiện vào khoảng thời gian 1995-1996. Rồi hầm để xe được xây dựng dưới khán đài chính những năm 1996-1997. Mặt chính của sân được sửa chữa theo hướng hiện đại hơn năm 1997-1998 với sự thêm vào danh sách tất cả các cầu thủ đã và đang thi đấu cho CLB trong lịch sử. Cuối cùng vào năm 1998-1999 sự tu bổ sân được hoàn chỉnh với việc lắp đặt mới hệ thống chiếu sáng và âm thanh cho sân.

Sân Camp Nou là một trong những sân bóng đẹp và kỳ vĩ nhất châu Âu, là một trong không nhiều sân được dán nhãn năm sao của UEFA. Với sức chứa hiện nay 98.934 chỗ Camp Nou vẫn là sân vận động lớn nhất châu Âu hiện nay. Sân là nơi tổ chức trận chung kết Champions League khó quên trong lịch sử giữa Manchester United F.C.FC Bayern München năm 1999 (2-1). Trận chung kết này được tổ chức cũng nằm trong kế họach tôn vinh CLB trong năm kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Barça, trong đó bao gồm trận giao hữu giữa Barça và Brasil ngày 28 tháng 4 (2-2). Sau kỷ nguyên Johan Cruyff, Barça tiếp tục gặt hái những thành công với HLV Bobby Robson (vô địch Liga 1998, cúp quốc gia 1997 và 1998, cúp C2 và siêu cúp châu Âu 1997) và với HLV Louis Van Gaal (vô địch Liga 1999). Ngày nay một "Dream Team" mới của Barça đã ra đời với Edmilson, Puyol, Deco, Xavi, Van Bronckhorst, Ronaldinho, Eto'o, Messi... họ đã giành được hai chức vô địch Liga liên tiếp năm 2005, 2006, và mới đây nhất là chiếc cúp Champions League thứ hai trong lịch sử CLB vào ngày 17 tháng 5 năm 2006 tại Paris (thắng Arsenal 2-1). Không những vậy "Dream Team" mới của Barça còn làm được hơn thế khi liên tiếp vô địch La Liga từ 2009-2011 và đặc biệt là cú ăn sáu vĩ đại năm 2009. Năm 2011 Barca tiếp tục chu kì thành công khi vô địch Champions League lần thứ 4 sau khi đánh bại đội bóng đến từ Anh M.U và được xem là đội bóng mạnh nhất thế giới ở thời điểm hiện tại.

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc chụp rộng tại sân vận động vào tháng 1 năm 2011

Camp Nou đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau ngoài bóng đá, thường được dùng để tổ chức các buổi hòa nhạc lớn.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tổ chức buổi thánh lễ cho một giáo đoàn hơn 121.000 người tại Camp Nou vào ngày 17 tháng 11 năm 1982, nhân dịp ông được làm công dân danh dự của Barcelona.[6]

Các nghệ sĩ nổi tiếng từng biểu diễn tại Camp Nou phải kể đến: Julio Iglesias, Bruce Springsteen, Sting, U2[7]...Ngày 9 tháng 8 năm 1988, ngôi sao nhạc pop Michael Jackson đã có buổi biểu diễn trước 95.000 người hâm mộ trong khuôn khổ chuyến lưu diễn Bad World Tour.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Information”. FC Barcelona. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ http://www.dailyrecord.co.uk/sport/football/football-news/nou-camp-visit-isnt-to-admire-1393535
  3. ^ Percy, John (19 tháng 12 năm 2012). “Barcelona coach Tito Vilanova steps down from Nou Camp role following relapse of tumour on saliva glands”. The Daily Telegraph (London). 
  4. ^ [1]. www.fcbarcelona.com. Retrieved on 2012-08-22.
  5. ^ http://www.uefa.com/MultimediaFiles/Download/StatDoc/competitions/UCL/01/67/63/78/1676378_DOWNLOAD.pdf
  6. ^ Kelly, Cathal (8 tháng 4 năm 2005). “Pope's team? Myths never had a prayer”. Toronto Star (Pqasb.pqarchiver.com). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ Perrone, Pierre (2 tháng 7 năm 2009). “U2, Camp Nou, Barcelona – Reviews, Music”. The Independent (London). Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ http://www.trekiz.com/standardtour-9771-20411/Camp-Nou-Experience-%28FC-Barcelona%29.html

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ball, Phill (2003). Morbo: The Story of Spanish Football. WSC Books Limited. ISBN 0-9540134-6-8. 
  • Eaude, Michael (2008). Catalonia: a cultural history. Oxford University Press. ISBN 0-19-532797-7. 
  • Farred, Grant (2008). Long distance love: a passion for football. Temple University Press. ISBN 1-59213-374-6. 
  • Murray, Bill; Murray, William J. (1998). The world's game: a history of soccer. University of Illinois Press. ISBN 0-252-06718-5. 
  • Snyder, John (2001). Soccer's most wanted: the top 10 book of clumsy keepers, clever crosses, and outlandish oddities. Brassey's. ISBN 1-57488-365-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]