Tổng cục II, Bộ Quốc phòng (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tổng cục Tình báo
Hoạt động từ ngày 25 tháng 10 năm 1945

đến nay được &0000000000000068.00000068 năm, &0000000000000327.000000327 ngày

Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phân loại Khối Tổng cục trực thuộc Bộ
Chức năng Là cơ quan Tình báo đầu ngành
Quy mô 30.000 người
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Bộ chỉ huy đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Các tư lệnh
Tổng cục trưởng Lưu Đức Huy
Chính ủy Dương Xuân Vinh
Chỉ huy
nổi tiếng
Các tướng lĩnh tiêu biểu:

Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng Việt Nam tức Tổng cục Tình báo quốc phòng được thành lập trên cơ sở Cục Tình/Quân báo (Cục 2), Bộ Quốc phòng năm 1995 và hoạt động theo Pháp lệnh tình báo do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký ngày 14 tháng 12 năm 1996 và nghị định 96/CP do Thủ tướng Võ Văn Kiệt kí ngày 11 tháng 9 năm 1997.

  • Trụ sở chính: đường Phạm Hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Tình báo quân sự bắt nguồn từ phòng Tình báo Quân ủy hội do Hoàng Minh Đạo phụ trách, thành lập ngày 25 tháng 10, 1945 (được lấy làm ngày truyền thống của Tình báo Quốc phòng Việt Nam). Hoàng Minh Đạo (tên thật là Đào Phúc Lộc) được coi là thủ trưởng đầu tiên của ngành tình báo quân sự.

Theo sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 34 ngày 25 tháng 4 năm 1946, Điều thứ 10: "Tình báo cục" có nhiệm vụ trinh sát tình hình quân địch, tình hình quân đội của mình, và thu thập các tin tức lợi cho việc hành binh.

Tháng 9 năm 1946, Phòng Tình báo Quân ủy hội mở một lớp huấn luyện nghiệp vụ tại Sơn Tây, do đại tá Lâm Sơn (người Nhật), làm giảng viên về nghiệp vụ tình báo.

Cục Tình báo được thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1947, thuộc Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tháng 4 tháng 1950, Cục Tình báo giải thể.

Ngày 15 tháng 7 năm 1951, Cơ quan Tình báo Chiến lược của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tên gọi Nha Liên lạc thuộc Thủ tướng Phủ được thành lập.

Ngày 10 tháng 6 năm 1957, Nha Liên lạc hợp nhất với Cục Quân báo - Bộ Tổng tham mưu thành Cục Tình báo - Cơ quan Tình báo Chiến lược toàn diện của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kĩ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội, thu thập và xử lí tin liên quan đến lợi ích quan trọng, sống còn của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, góp phần tham mưu cho ĐảngNhà nước hoạch định đường lối, sách lược đối nội, đối ngoại và các chủ trương, kế hoạch, biện pháp, quyết sách để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược..." (Điều 1 chương 1 của nghị định 96/CP).
  • "Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ Quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe dọa chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam." (Điều 11, chương 2 của nghị định 96/CP).

Lãnh đạo Tổng cục II[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng Tổng cục
  • Thanh tra Tổng cục
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Thông tin KHQS
  • Phòng Điều tra hình sự
  • Phòng Kinh tế
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Chính trị
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Cục 11
  • Cục 12
  • Cục 16
  • Cục 25
  • Cục 71
  • Cục 72
  • Cục 80

Đơn vị cơ sở trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện Cơ cấu chiến lược
  • Viện nghiên cứu chiến lược kỹ thuật thông tin viễn chinh
  • Viện B26
  • Viện 70
  • Viện 78
  • Viện 501
  • Trung tâm 75
  • Trung tâm 701
  • Đoàn Trinh sát - Đặc nhiệm K3
  • Lữ đoàn 74
  • Lữ đoàn 94
  • Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại

Hệ thống cơ quan Tình báo trong Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Phòng quân báo thuộc các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và tương đương.

Tổng cục trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Minh Đạo (Đào Phúc Lộc, Năm Đời): Thủ trưởng đầu tiên của ngành tình báo quân sự Việt Nam, nguyên là trưởng phòng Tình báo Quân Ủy Hội (thành lập ngày 25 tháng 10, 1945).
  • Trần Hiệu (tên thật là Vũ Văn Địch): Cục trưởng Cục Tình báo thuộc Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam[1]; Cục trưởng đầu tiên của Cục Quân báo 1952 - 1960. [2]
  • Lê Trọng Nghĩa: Đại tá, Cục trưởng Cục Quân báo 1960 - 1962
  • Phan Bình (Ba Hùng) (1934-1987): Trung tướng, Cục trưởng Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu (1962-1986)
  • Nguyễn Như Văn (Tư Văn): Trung tướng, Cục trưởng (1986-1994).
  • Đặng Vũ Chính (Vũ Đăng Chinh, Đặng Văn Chung): Trung tướng, Tổng cục trưởng (1994-2002).
  • Nguyễn Chí Vịnh (Đàm Nhắc): Trung tướng, Tổng cục trưởng (2002-8/2009).
  • Trung tướng Lưu Đức Huy

Những điệp viên nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Thời kì Đổi mới:[3]
  • Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 4 tháng 3 năm 2008);
  • Cục 11, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 1 tháng 2 năm 2002);
  • Phòng 73, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 31 tháng 8 năm 2004);
  • Phòng 76, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 31 tháng 8 năm 2004);
  • Phòng 70, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 3 tháng 11 năm 2004);
  • Phòng 79, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 3 tháng 11 năm 2004);
  • Cục 16, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 21 tháng 12 năm 2005);
  • Đoàn K3, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 21 tháng 12 năm 2005);
  • C98, Cục 12, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 29 tháng 12 năm 2006).
  • Lữ đoàn 74, Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng (ngày 13 tháng 12 năm 2013);

Chú dẫn nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ SẮC LỆNH SỐ: 108 NGÀY 20 THÁNG 1 NĂM 1948 CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ Việt Nam DÂN CHỦ CỘNG HOÀ.
  2. ^ Tham khảo nguồn ghi trên bia mộ ở Nghĩa Trang Liệt Sĩ TP HCM
  3. ^ Những Chiến công Thầm lặng - Tổng Cục Tình báo, Bộ Quốc phòng - Hà Nội, tháng 8 năm 2008.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]