Trịnh Công Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Công Sơn
Trinhcongson.jpg
Trịnh Công Sơn, hình chụp in trong sách "Trịnh Công Sơn, Một người thơ ca, Một cõi đi về"
Sinh 28 tháng 2, 1939(1939-02-28)
Thống Nhất, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Nguyên quán Thừa Thiên - Huế
Mất 1 tháng 4, 2001 (62 tuổi)
Tiểu đường
Thành phố Hồ Chí Minh
Nghề nghiệp Nhạc sĩ
Thể loại Tình khúc 1954-1975
Nhạc Trịnh
Nhạc cụ Ghi-ta
Năm 1958-2001
Ca khúc tiêu biểu Diễm xưa, Biển nhớ, Tuổi đá buồn, Một cõi đi về, Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Ca sĩ trình bày thành công Khánh Ly

Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 19391 tháng 4 năm 2001), được coi như một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc),[1] phần lớn là tình ca. Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản-chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và phần lớn bị cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa cấm đoán.[2] Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ không chuyên.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế [3]. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây[3].

Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế.[4] Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy".[4]

Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi[3]. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959[5] và qua giọng ca Thanh Thúy.

Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính) nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi của ông được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966.[7][8] Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Ông kể: "Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly"[4], còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 60 ấy: "Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn".[4][9]

Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như "Diễm Xưa" (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhậttiếng Việt), "Ca dao Mẹ", "Ngủ đi con". Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa.[4] Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông[10]. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành cách nhìn phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính "chủ hòa, ủy mị", vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc "chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước". Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người gạt ông sang bên lề vì coi ông là "thiếu lập trường chính trị"[11], có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ "xử tử" ông.[12]

Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn", bài hát kêu gọi và nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968[13]. Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh [14]: "Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được..."

Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại Học tập cải tạo[15]. Nhưng cũng có những nguồn tin khác như theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi làm kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo[16] hay là ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên[13]. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975, ông trở về Huế và "thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào "Vệ Binh Ðỏ" của Trung Quốc đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: "Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn" trước trường Đại học Sư phạm Huế"[4] và "tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội "Trịnh Công Sơn có công hay có tội" tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Hôm ấy có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa..."[4] và Trịnh Công Sơn cũng được đưa đi lao động sản xuất trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.[4]

Một thời gian dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm ở tại Việt Nam hay bị một số người kêu gọi tẩy chay ở hải ngoại. Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn tiếp tục hát và phát hành không ngưng nghỉ những băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại.

Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.

Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ[17]. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do "có tính phản chiến" [18][19]. Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam[20]. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân[21]. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.

Cuối đời, ông bị bệnh gan, thậntiểu đường. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12giờ45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ)[22], hàng ngàn người đã đến viếng tang và "có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn".[23] Ông được an táng tại Nghĩa trang chùa Quảng Bình (phường Bình Chiểu - quận Thủ Đức. Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.[24]

Sự nghiệp sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức họa trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác lẫn hồn thơ, nghe lãng đãng, mơ hồ, khó phân định cho đúng nghĩa.

Phạm Duy, nói về nhạc Trịnh Công Sơn[25]

Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra.

Nguyễn Xuân Khoát

Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc[26], những tác phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng triết. Tuy nhiên, còn một đánh giá khá phổ biến cho rằng phần nhạc của nhạc Trịnh Công Sơn quá đơn điệu. Đánh giá này trùng khớp với lời lý giải của ông về sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..."[27]. Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người.

Nhạc tình[sửa | sửa mã nguồn]

Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...

Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm mang sầu ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ... Ngoài ra còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...

Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.

Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ".

Nhạc về thân phận con người[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người. Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm màu sắc hiện sinh của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus,... Tiêu biểu là các ca khúc Cát bụi, Đêm thấy ta là thác đổ, Chiếc lá thu phai, Một cõi đi về, Phôi pha,.... Trong đó nhiều bài mang hơi hướng thiền như Một cõi đi về, Giọt nước cành sen.

Nhạc phản chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 60. Những ca khúc da vàng thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ (nhược tiểu) bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giựt ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).

Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trờiPhụ khúc da vàng[28]. Trong các băng nhạc Hát cho Quê hương Việt Nam của Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc trữ tình. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam trước 1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của ông được phổ biến khá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh - sinh viên miền Nam.

Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, ủy mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp[cần dẫn nguồn].

Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát "da vàng" của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam hiện nay dù đã từng rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Gia tài của mẹ, Cho một người vừa nằm xuống , Đi tìm quê hương, Chính chúng ta phải nói hòa bình[29], Chưa mất niềm tin, Chờ nhìn quê hương sáng chói, Hát trên những xác người[30], Ta đi dựng cờ[31], Ta quyết phải sống[32])

Nhạc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương như Chiều trên quê hương tôi, những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị rõ hơn như Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Việt Nam ơi hãy vùng lên (1970), Nối vòng tay lớn, Chưa mất niềm tin (1972)... trong đó có những bài rời được sáng tác ngay trong những cuộc xuống đường biểu tình cùng thanh niên, sinh viên, học sinh[33], hoặc viết cho trẻ em (trong tập nhạc Cho Con[34]) như Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, "Em đến cùng mùa xuân", "Tiếng ve gọi hè", "Tuổi đời mênh mông", "Mùa hè đến", "Tết suối hồng", "Khăn quàng thắp sáng bình minh", "Như hòn bi xanh", "Đời sống không già vì có chúng em".

Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài nhạc cách mạng như Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ, Ánh sáng Mạc Tư Khoa[35], Ra chợ ngày thống nhất[36]...

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn lưu giữ lại 1 số bài thơ tự sáng tác[37], và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự hài cú của Ngô Văn Tao.

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích. Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc - Việt Nam, từ 14.01.1989 đến 24.01.1989 cùng với 2 họa sĩ Đinh CườngĐỗ Quang Em, triển lãm tại nhà khách Ritz, và Trang viện Con Nai Vàng, Thủ Đức, từ 15.12.1990 đến 20.01.1991 cùng với 2 họa sĩ Trịnh CungĐỗ Quang Em.[38]

Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán.[39]

Lời còn mãi[sửa | sửa mã nguồn]

Ông để lại khá nhiều bút tích ghi chép về suy tưởng từ cuộc đời.

Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời.[40]
Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi.[41]
Nếu có người nào đó thách thức tôi một trò chơi nghịch ngợm thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e, không ai dám tự xưng mình am tường hết nội dung phong phú và quá phức tạp của tình yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu.[42]
Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọn g và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa...[43]
Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung. Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu...[44]

Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu đĩa) ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con"[45] (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản[46].
  • Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng"
  • Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới"
  • Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ"
  • Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường"
  • Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho ông vì "lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại".[47]
  • Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Les Million.[48]
  • Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế [49][50][51].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có con.

Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp và lãng mạn với những phụ nữ nổi tiếng không những ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc. Theo lời của người em gái Hoàng Diệu, lý do lớn nhất ông không kết hôn là: "Anh Sơn luôn ngại làm phiền người sẽ ở cùng phòng với mình, bởi anh cực kỳ ít ăn và ít ngủ và có giờ giấc làm việc chẳng giống ai. Anh thường xuyên thức dậy giữa khuya khi nghĩ ra được ý nào đó và ngồi viết lại hoặc vẽ đến sáng. Bởi vậy mà khi lần đầu tiên có ý định cưới vợ - một Việt kiều Pháp (sáu tháng ở Pháp, sáu tháng ở Việt Nam), anh đã có những dự định rất rõ ràng: Anh và chị sẽ có hai căn phòng nằm cạnh nhau chứ không phải lúc nào cũng ở chung phòng để có thể giữ được sự riêng tư cần thiết." Và rồi, vì nhiều lý do, mối duyên ấy không thành.[52]

Mối tình đầu, thực chất chỉ là 1 tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly [53], rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn. Hai người cũng đã tiến xa đến một kế hoạch đám cưới nhưng rồi cũng không thành vì anh Sơn không chấp nhận một vài nguyên tắc của gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể.[52] Và Dao Ánh (người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967[54]); em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm. Đây chính là "bóng hồng" trong nhạc phẩm Diễm xưa. Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không thành.

Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của ông là với VA..., khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông [cần dẫn nguồn][55].

Sau 1975, đã có hai lần ông định lập gia đình. Lần đầu vào năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ quận 18, Paris, bà C.N.N [56][57]

Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, Trịnh Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là "Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!"... Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.[58]

Một người khác cũng từ Hà Nội kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá... già!"[58]

Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh Công Sơn nói về tình yêu đối với ông: "Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh Công Sơn trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn trọng thế giới riêng của tôi"'.[59].

Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia đình cho được để tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một phụ nữ nào [60]. Tài năng của ông luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông còn đóng phim, hội họa[38]. Nhưng ông nhìn nhận cuộc đời và dành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn với không hề tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về cuộc đời: Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống.[61]

Ca sĩ thể hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn là Khánh Ly, Khánh Ly đã thể hiện hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn và được cho là thành công nhất. Nhưng Khánh Ly không phải người đầu tiên hát nhạc này, trước đó đã có Thanh Thúy, Hà Thanh giới thiệu những sáng tác đầu tay của Trịnh Công Sơn ra công chúng.

Ngoài ra, một số ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn theo phong cách khác cũng được đánh giá cao như Lệ Thu, Thái Thanh[62], Lan Ngọc. Giọng nam thì có Tuấn Ngọc, Quang Dũng. Tuấn Ngọc được Trịnh Công Sơn đánh giá rất cao khi hát nhạc của ông.[cần dẫn nguồn]

Việt Nam sau 1975 cũng có những người hát nhạc Trịnh Công Sơn như Hồng Nhung, Trịnh Vĩnh Trinh, Cẩm Vân theo phong cách mới và cũng được một số lớp khán giả đón nhận.[63][64]

Cũng nên kể đến những ca sĩ trẻ muốn dấn thân vào hát nhạc Trịnh Công Sơn bằng phong cách "mới" và "lạ", để rồi hầu hết đều nhận lấy thất bại, tiêu biểu là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng sau khi trình bày các ca khúc đã gặp phải sự phản đối của dư luận.[65][66]

Bản thân nhạc sỹ Trịnh Công Sơn cũng đã tự mình thể hiện một số ca khúc của mình và được đánh giá là thành công.

Hiện nay, bản quyền các tác phẩm của ông thuộc quyền thừa kế và sở hữu bởi Trịnh Vĩnh Trinh (em gái ông, sống tại Việt Nam) và Trịnh Xuân Tịnh (anh trai ông, sống tại Mỹ), mỗi người giữ một nửa quyền sở hữu với các tác phẩm của Trịnh Công Sơn [67]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Lời ca trong ca khúc Trịnh Công Sơn đã tạo nên tên tuổi Trịnh Công Sơn[68]

Bửu Ý

...Nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc nói về QUÊ HƯƠNG, TÌNH YÊU, và THÂN PHẬN CON NGƯỜI.... (...) Trước tiên, người ta biết tới anh nhờ Quán VĂN. Quán do nhóm sinh viên mang tên KHAI HÓA chủ trương...(..cắt một đoạn...)

Tình khúc Trịnh Công Sơn ra đời, từ giàn phóng là Quán VĂN được hỏa tiễn Khánh Ly đưa vút vào phòng trà, rồi vào băng cassette và chỉ trong một thời gian ngắn chinh phục được tất cả người nghe. So với tình khúc của ba bốn chục năm qua, ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn rất mới, chất chứa những hình ảnh lạ lùng, quyến rũ như cơn mưa hồng, thuở hồng hoang, dấu địa đàng, cánh vạc bay...

Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù lòa, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng... Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không. Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi... Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn... Buồn tủi cho thân phận con người nên nhánh cỏ cũng xót xa, phiến đá cũng ưu phiền, và chỉ còn những mưa và mưa để xoa dịu vết thương mở lớn! (...)... Trịnh Công Sơn nói lên nỗi bàng hoàng của con người khi thấy cái chết nằm ngay trong sự sống (...) Nguyễn Đình Toàn gọi nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho quê hương đổ vỡ. Cũng là phản ứng của người đau đớn trước hoàn cảnh đất nước, nhưng nó là sự chịu đựng và chết lịm hơn là sự nổi sùng và chửi bới. (...)

Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại. Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hòa âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này.

Từ nhạc tình yêu, thân phận con người, Trịnh Công Sơn chuyển qua nhạc thần thoại quê hương. Âm nhạc ở miền Nam trong thời gian này thật phong phú...(...) Và có thêm những bài hát phản ứng trước cảnh tang thương của đất nước. (...) Sống cùng thời với những người đi vào quê hương qua nẻo tâm cadu ca, Trịnh Công Sơn cũng nhận diện lại quê hương. Đi tìm quê hương, phải sống những ngày dài trên quê hương thì phải hát bài quê hương, phải nhỏ giọt nước mắt cho quê hương khi thấy quê hương hình hài nát dấu bom với xác người chết hai lần... (...)

Nhạc thần thoại quê hương, nhạc tình yêu và thân phận con người của Trịnh Công Sơn có một tư tưởng chỉ đạo khá rõ, dù toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức họa trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác chữ lẫn hồn thơ, nghe bảng lảng, mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng nếu nghe kỹ cũng tìm ra ý chính: Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mơ. Anh ca tụng tình yêu và -cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này- anh chống bạo lực và chống chiến tranh.

Một, hai năm trước biến cố 30-4-1975, nhạc Trịnh Công Sơn đi vào Thiền, có lẽ cũng giống như tôi đi vào Đạo Ca, vì lũ chúng tôi, khi nhập cuộc khi xuất thế... như thể sống lửng lơ giữa thiên đường và địa ngục....[69]

Phạm Duy, 1991

Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ... Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra[70]

Văn Cao

..., tình ca Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là 1 bông hồng dâng tặng- nó chứa đựng tất cả tâm trạng lo âu của con người nhìn ra thế giới hiện đại [71]

Hoàng Phủ Ngọc Tường, 1991

Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại. Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mến.[72]

Trần Đăng Khoa

Anh yêu nhạc Trịnh Công Sơn, như thế có nghĩa anh là người tử tế...

...Nhạc anh Sơn rất đặc biệt. Bài nào cũng chỉ phất phơ có mấy nét thôi, cứ như là nhạc của trẻ con ấy. Nhưng nghe là nhớ ngay. Trịnh Công Sơn đã đạt được đến độ cao nhất của nghệ thuật. Đó là sự giản dị... Người hát hay nhất nhạc Trịnh chính là Trịnh Công Sơn. Sau Trịnh mới đến Khánh Ly. Sau Khánh Ly là không còn ai nữa. Hồng Nhung chỉ hát tàm tạm được một đôi bài....

...Mặc dù nhạc Cách mạng của các anh rất hay. Hầu nh­ư bài nào cũng hay. Khoẻ khoắn, hùng tráng. Nhưng đó là nhạc hội hè, nhạc vui. Nhạc cho tất cả mọi người. Hầu hết nhạc sĩ các anh đều viết cho đám đông. Người ta hát khi vui, hát ở chỗ đông người. Còn nhạc anh Sơn là nhạc chỉ dành cho một người. Khi nào buồn, khi nào cô đơn đến tuyệt vọng mà không còn biết bấu víu vào đâu nữa, ngư­ời ta tìm về với Trịnh. Trịnh sẽ đón họ, nâng đỡ an ủi họ. Vì thế, tôi mới bảo Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Việt Nam....

...Tôi rất yêu nhạc Trịnh. Yêu như một tín đồ của anh ấy. Nhưng cũng phải thành thật mà nói rằng, nhạc Trịnh nghe lẻ từng bài thì hay. Nhưng nghe cả một cuộn băng thì lại thấy mệt vì đơn điệu. Ông Văn Cao của các anh đa dạng hơn nhiều, phong phú hơn nhiều, mặc dù so với Trịnh Công Sơn, ông ấy viết rất ít...[72]

Frank Gerke

Đóng góp cho điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Diễn viên: phim "Đất khổ", phim năm 1974
  • Viết nhạc và bài hát cho phim:
  1. Cánh đồng hoang[73] 1979
  • Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim
  1. Tội lỗi cuối cùng, phim chiếu năm 1980 của đạo diễn Trần Phương, nghệ sỹ Phương Thanh đóng vai Hiền cá sấu: bài "Đời gọi em biết bao lần"[74]
  2. Cho cả ngày mai, phim năm 1981 của đạo diễn Long Vân: bài "Em là bông hồng nhỏ"[74]
  3. Bãi biển đời người, phim 1983 của đạo diễn Hải Ninh: bài "Quê hương"[74]
  4. Thị xã trong tầm tay, phim 1983 của đạo diễn Đặng Nhật Minh[74]
  5. Cho đến bao giờ, phim 1985 của đạo diễn Huy Thành[74]
  6. Cầu Rạch Chiếc, phim 1986 của đạo diễn Hoàng Lê[74]
  7. Cô gái trên sông, phim năm 1987 của đạo diễn Đặng Nhật Minh[74]
  8. Mùa hè chiều thẳng đứng, phim năm 2000: "Cuối cùng cho một tình yêu", "Nắng thủy tinh", "Rừng xưa đã khép"
  9. Áo lụa Hà Đông năm 2006 của hàng phim Phước Sang: "Bài ca dành cho những xác người"
  10. Công chúa teen và ngũ hổ tướng năm 2010 (bài "Để gió cuốn đi")
  • Phim về Trịnh Công Sơn:
  1. Trịnh Công Sơn - sống và yêu của đạo diễn Lê Dân (Lê Hữu Phước)
  2. Em còn nhớ hay em đã quên: đạo diễn Nguyễn Hữu PhầnPhi Tiến Sơn, với sự tham gia của cố diễn viên Lê Công Tuấn Anh vai Quang Sơn (Trịnh Công Sơn thời trẻ), Hoàng Hồng Nhị vai Huyền My (hình ảnh ca sĩ Khánh Ly), Nguyễn Huỳnh vai chồng Huyền My (hình ảnh Nguyễn Hoàng Đoan, chồng ca sĩ Khánh Ly) và Trương Ngọc Ánh vai Diễm.[75]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ NXB Trẻ ấn hành năm 2001, sau ngày mất của nhạc sỹ
  • Trịnh Công Sơn - cuộc đời. âm nhạc. thơ. hội họa & suy tưởng NXB-Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
  • Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người - NXB Phụ nữ
  • Trịnh Công Sơn cát bụi lộng lẫy - NXB Thuận hoá - Tạp chí Sông Hương
  • Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng tử bé - Hoàng Phủ Ngọc Tường - NXB Trẻ
  • John C. Schafer, "Hiện tượng Trịnh Công Sơn", Journal of Asian Studies 66 (Aug., 2007): 597-643

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban Mai, sách đã dẫn, tr 8
  2. ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 31
  3. ^ a ă â , nhưng sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao, nay là phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk) Sách Trịnh Công Sơn Một người thơ ca Một cõi đi về trang 97
  4. ^ a ă â b c d đ e Ban Mai, Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng (Phần I) , 2009
  5. ^ Phần lời ngỏ trong Trịnh Công Sơn, Một người thơ ca, Một cõi đi về do Nhà xuất bản âm nhạc
  6. ^ Sách Trịnh Công Sơn Một người thơ ca Một cõi đi về trang 98
  7. ^ Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Quán Văn, Thy Nga, RFA, 09/04/2007
  8. ^ Trịnh Công Sơn và Quán Văn Sài Gòn Hoàng Xuân Sơn, trích đoạn hồi ký sắp xuất bản
  9. ^ Khánh Ly công bố sự thật về "mối tình" với Trịnh Công Sơn báo Thể tháo & Văn hóa 05/04/2012 13:48 theo Vương Hà, báo Người đưa tin 27.12.2012 | 23:51
  10. ^ BBC (4 tháng 4 năm 2001). “Vietnam mourns its 'Dylan'”. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 29
  12. ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 24
  13. ^ a ă Sách Trịnh Công Sơn Một người thơ ca Một cõi đi về trang 104
  14. ^ “Buổi phát thanh lịch sử tại Sài Gòn trưa 30/4/1975” (Thông cáo báo chí). Tiến Dũng - VnExpress. 30/4/2011. Truy cập 30/4/2011. 
  15. ^ "After the end of the war, he spent four years in a "re-education camp" after his family fled to the US." Vietnam mourns its 'Dylan' BBC, 4-4-2001
  16. ^ "Bùi Đức Lạc Tình nghĩa TRỊNH CÔNG SƠN" [1][nguồn không đáng tin?][[]][liên kết hỏng]
  17. ^ Trích đoạn phim
  18. ^ “"Đất Khổ", một bộ phim bị bỏ quên”. RFA. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2008. 
  19. ^ Giới thiệu phim "Đất Khổ" — Trinh Cong Son theo customflix.com
  20. ^ “"Đất Khổ", một bộ phim bị bỏ quên được chọn tham dự liên hoan phim Á-Mỹ năm 1996” (Thông cáo báo chí). Minh Thùy, đài RFA. 25/2/2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  21. ^ Trịnh Công Sơn từng làm diễn viên cập nhật Thứ năm, 20/3/2008, 09:24 GMT+7, từ báo Thể Thao Văn Hóa
  22. ^ Sách Trịnh Công Sơn Một người thơ ca Một cõi đi về trang 357
  23. ^ Sài Gòn tiễn đưa Trịnh Công Sơn về nơi cuối cùng H.N, VnExpress 04/04/01 14:33 GMT+7
  24. ^ 2002: “Các đêm nhạc tưởng nhớ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn” (Thông cáo báo chí). VnExpress. 30/3/2002. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2003: “Hồng Nhung và đêm độc diễn nhạc Trịnh” (Thông cáo báo chí). Lao Động. 13/3/2003. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2004: “Đạo diễn Lê Dân và bộ phim về Trịnh Công Sơn” (Thông cáo báo chí). Người Lao Động. 4 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. “Ca sĩ Thái Hoà với 'Đồng dao hòa bình'” (Thông cáo báo chí). Thái Hòa. 4 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2005: “Đêm nhạc tưởng nhớ Trịnh Công Sơn” (Thông cáo báo chí). Thái An. 30/3/200. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2006: “Ngọn sóng bạc đầu’ Trịnh Công Sơn trẻ mãi giữa trần gian” (Thông cáo báo chí). Anh Vân. 4 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2007: “2.000 vé tặng cho đêm nhạc Trịnh 'Nhẹ nhàng như mây'” (Thông cáo báo chí). Thoại Hà. 27/3/2007. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2008: “10.000 khán giả 'Ngồi bên hiên nhà' nhớ Trịnh” (Thông cáo báo chí). Thoại Hà. 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2009: “Đêm 'Dã tràng ca' không nhiều cảm xúc” (Thông cáo báo chí). Nhiêu Huy. 4 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2010: “Thái Hòa rưng rưng nhớ Trịnh” (Thông cáo báo chí). Ngọc Trần. 4 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2011: “Đêm nhạc Trịnh ấm cúng ở phố núi” (Thông cáo báo chí). Quốc Dũng. 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
    2012: “Dòng người đến viếng Trịnh Công Sơn trong mưa” (Thông cáo báo chí). Ngát Ngọc. 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập 28/2/2013. 
  25. ^ - Phạm Duy, Hồi ký, tập III, Mỹ, 1991, tr. 285.
  26. ^ Theo như bài giới thiệu in ở bìa tập nhạc "Em còn nhớ hay em đã quên", xuất bản năm 1997
  27. ^ Trịnh Công Sơn: Cuộc sống không thể thiếu tình yêu
  28. ^ Về Những Ca Khúc Phản Chiến Của TCS
  29. ^ bài "Chính chúng ta phải nói" trong album "Ca khúc da vàng", thu âm trước 1975
  30. ^ Hát trên những xác người - Khánh Ly
  31. ^ Ta đi dựng cờ - Trịnh Công Sơn & Hoàng Xuân Sơn, Vân Quỳnh, V Hòa, V Khanh
  32. ^ Ta quyết phải sống (Trịnh Công Sơn) - Trịnh Công Sơn & Hoàng Xuân Sơn, Vân Quỳnh, V Hòa, V Khanh
  33. ^ Dang Tien -Tieng Hat Hoa Binh
  34. ^ 16 - Cho con — Trinh Cong Son
  35. ^ Hội hữu nghị Việt Nam - Cộng hòa Séc
  36. ^ http://www.tcs-home.org/songs/titles/que-huong/view?set_language=en
  37. ^ Thơ Trịnh Công Sơn
  38. ^ a ă Phạm Văn Đỉnh. “Triển lãm tranh, 1989”. 
  39. ^ Linh Hương (Thứ tư, 3/10/2007). “Hội Ngộ quán của Trịnh Công Sơn”. 
  40. ^ tcs-home.org. “Sống giữa đời này” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  41. ^ tcs-home.org. “Khi bạn hát” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  42. ^ tcs-home.org. “Cuộc sống không thể thiếu tình yêu” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  43. ^ tcs-home.org. “Nỗi lòng của tên tuyệt vọng” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  44. ^ tcs-home.org. “Tôi đã mơ thấy chuyến đi của mình” (bằng Tiếng Việt). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  45. ^ “Film pays tribute to war-singer Son”. Thông tấn xã Việt Nam. 24/4/2004. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  46. ^ Trinh Cong Son, Bob Dylan Who's who, 1/4/2008
  47. ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 22
  48. ^ Ban Mai, sách đã dẫn trang 23
  49. ^ Báo Tuổi Trẻ ra thứ Năm ngày 17 tháng 3 năm 2011 Chính thức đặt tên đường Trịnh Công Sơn ở Huế
  50. ^ Trịnh Công Sơn được đặt tên đường ở thành phố Huế
  51. ^ Đặt tên đường Trịnh Công Sơn và Đặng Thùy Trâm tại thành phố Huế
  52. ^ a ă “Trịnh Công Sơn & Mẹ qua những câu chuyện của Trịnh Hoàng Diệu”. Thể Thao và Văn hóa. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
    Theo [2]
  53. ^ Trịnh Công Sơn nói về người bạn tri kỷ Khánh Ly: Mối tình có một không hai trong nghệ thuật báo Dân Trí cập nhật 28/08/2006 - 16:29 theo Đàn ông, truy cập 28/2/2013
  54. ^ Sắp phát hành 300 bức thư tình của Trịnh Công Sơn Thoại Hà, VnExpress, 22/01/11 12:23 GMT+7
  55. ^ “Những người phụ nữ yêu Trịnh”. Báo Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2008. 
    Theo Diễm cuối cùng: Mãi yêu Trịnh Công Sơn. Thông tin của Dương Thúy thì "người cuối cùng Trịnh Công Sơn cầm tay vẫn là Hoàng Anh"
  56. ^ Hoạ sĩ Trịnh Cung nói về người tình Vân Anh của Trịnh Công Sơn: Tôi ngồi đợi ở phòng uống rượu, Sơn và V.A từ trên phòng ngủ bước xuống. Tôi chợt thấy V.A đẹp quá trong màu chiều tà của ánh trời rơi trên màu tóc đen huyền của một nhan sắc từng được phong là á hậu VN, tôi buột miệng nói với Sơn: Giá mà có một chiếc khăn lụa của Nina de Ricci quàng lên tóc và cổ của V.A thì tuyệt quá. Sơn mỉm cười và đi trở lại căn phòng riêng mang xuống một chiếc khăn màu hổ phách có sọc đen choàng lên tóc và cổ của nàng. Đó không ngờ là hình ảnh cuối cùng của một cuộc tình mà Sơn thật sự muốn cưới V.A làm vợ. Địa chỉ URL được truy cập 2008-06-27Trịnh Cung accessdate = 2/4/2011 (Thứ hai, 28 Tháng hai 2005, 10:14 GMT+7). “Người tình cuối cùng của Trịnh Công Sơn là ai?” (Thông cáo báo chí). Việt Báo (Theo VietNamNet). 
  57. ^ Một chút Trịnh Công Sơn và tôi Tâm sự của họa sĩ Trịnh Cung - người bạn tri giao của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - viết nhân ngày 28-2, kỷ niệm ngày sinh của người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh. Báo Tuổi Trẻ 28/02/2005 19:32 (GMT + 7), theo báo Vietnamnet
  58. ^ a ă Trịnh Công Sơn, Người Hát Rong Trên Cõi Tạm Nguyễn Hồng Lam, Đactrung.net cập nhật 9/9/2003, truy cập 28/2/2013
  59. ^ Mãi yêu Trịnh Công Sơn, Ngoisao.net: Gần đây, có dư luận, hai đứa con đầu của chị là con của Trịnh Công Sơn nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo. Chị giải thích thế nào về điều đó? Hoàng Anh: Không phải con anh Sơn, anh Sơn làm gì có con. Mà để tang anh Sơn một năm, một năm sau tôi mới quyết định có con. Địa chỉ URL được truy cập 2008-06-27
  60. ^ Gia đình kể về TCS lưu trữ 27/3/2002
  61. ^ Hà Vũ Trọng; Hoàng Trúc Ly (27/6/2008). “Trịnh Công Sơn - Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do - Phần 2” (bằng Tiếng Việt). Sưu Tập dot Com. Bản gốc lưu trữ 28/2/2005. ‘"74. Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của sự sống" 
    Lê Hữu. “Ảo giác Trịnh công Sơn. Phần III: Ảo giác tình yêu, sống và chết” (Tân Niên tháng 02-03/2004). Báo Văn học. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2010. “TCS, trả lời phỏng vấn, Tạp chí Thế Giới Mới, TP.HCM, 2/1999” 
  62. ^ Tôn trọng sáng tạo và nỗ lực của người nghệ sĩ - Đỗ Tăng Bí
  63. ^ Nhạc Trịnh: có thể phá cách đến đâu?, Tuổi trẻ, Truy cập ngày 1/4/2008
  64. ^ Đào xới trong nhạc Trịnh, Phong Dật - Giai điệu Xanh, 1/4/2008
  65. ^ Ca sĩ Thanh Lam:Tôi không "phá phách" nhạc Trịnh, Tuổi Trẻ, Truy cập ngày 1/4/2008
  66. ^ Phá cách trong nhạc Trịnh nói riêng và..., Vietnamnet, 28/9/2005
  67. ^ Khúc mắc về quyền tổ chức hai đêm nhạc Trịnh
  68. ^ Lời tựa cho tập sách Trịnh Công Sơn Những bài ca đi cùng năm tháng. Nhà xuất bản Âm nhạc 1995
  69. ^ Trích trong hồi ký Phạm Duy III, chương 20, thời phân chia Quốc - Cộng, phần viết về Trịnh Công Sơn [3][4]
  70. ^ Lời bạt cho tập sách Trịnh Công Sơn Những bài ca đi cùng năm tháng. Nhà xuất bản Âm nhạc 1995
  71. ^ Lời tựa cho tập nhạc Em còn nhớ hay em đã quên. Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh 1991
  72. ^ a ă http://vov.vn/Home/Tran-Dang-Khoa-Thang-Tu-roi-nho-Trinh-Cong-Son/20124/204933.vov Trần Đăng Khoa: Tháng Tư rồi, nhớ Trịnh Công Sơn
  73. ^ IMDB
  74. ^ a ă â b c d đ Đoàn Tuấn (1 tháng 4/2009). “Thêm một phát hiện: Trịnh Công Sơn và Điện ảnh” (html) (bằng Tiếng Việt). Thế giới Điện ảnh. Truy cập 23/2/2011. 
  75. ^ “Em còn nhớ hay em đã quên - Bộ phim đậm nét nhạc Trịnh” (Thông cáo báo chí). Võ Văn Liễn, Báo Bình Định. 16:25', 2/4/ 2004 (GMT+7). Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Sưu tập
Đánh giá