Địa phương quân và nghĩa quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Địa phương quân & Nghĩa quân
Hoạt động 1962–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Quân chủng Quân thường trực
Phân loại Quân Chủ lực Địa phương
Khẩu hiệu Bảo quốc - An dân
Màu sắc Vàng, đỏ, đen
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Trần Tử Oai
Đặng Văn Quang
Dương Ngọc Lắm
Lâm Văn Phát
Trần Ngọc Tám
Nguyễn Văn Là
Nguyễn Văn Mạnh
Hiệu kỳ

Địa phương quân và nghĩa quân (Danh xưng ban đầu là Bảo an & Dân vệ),[1] (tiếng Anh: Regional Forces and Popular Forces, Rough Puffs / PF's), hay Tiểu đoàn Địa phương quân (tiếng Anh: Regional Forces Battalion, RFB) là lực lượng tự vệ và chiến đấu được vũ trang gần băng các đơn vị chủ lực, trực thuộc các Tiểu khu (tỉnh) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoạt động ở khu vực nông thôn, ngoại thành trong suốt thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

A. Địa phương quân:

Bảo an đoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng cảnh bị cũ ở các phần miền: Bảo chính đoàn, Địa phương quân ở Bắc Việt. Nghĩa dũng đoàn ở Trung Việt. Vệ binh đoàn ở Nam Việt do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ ngày 8 tháng 4 năm 1955 lực lượng Bảo an đoàn trực thuộc Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa.

Bảo An & Dân Vệ là chiến sĩ làm nhiệm vụ cảnh sát hành chính ở miền Nam Việt Nam, hoạt động giữ gìn trật tự trị an ở từng địa phương (bao gồm nông thôn, thành thị, đồng bằng, cao nguyên, sông ngòi và hải đảo). Tổ chức đầu tiên là Nha Tổng giám đốc Bảo an gồm có nhiều Sở. Mỗi phần miền tổ chức một Nha. Mỗi tỉnh có một Tỉnh đoàn Bảo an.

Đến ngày 19 tháng 11 năm 1955, Bảo an đoàn trực thuộc Phủ Tổng thống. Tháng 11 năm 1960, Bảo an đoàn trực thuộc Bộ Quốc Phòng.

Ngày 1 tháng 5 năm 1964, Bảo an đoàn đổi tên thành Địa phương quân. Địa phương quân tổ chức thành các Đại đội (khoảng 100 người). Cùng thời điểm Nha Tổng giám đốc Bảo an cải danh thành Bộ chỉ huy Trung ương, sau đó là Bộ tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân.

Từ đây, Địa phương quân & Nghĩa quân trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, hoạt động trên các Quân khu và dưới quyền điều động trực tiếp của các Tiểu khu, Chi khu. Các đơn vị được thành lập từ cấp Tiểu đoàn, rồi Liên đoàn.

Địa phương quân có nhiệm vụ tảo thanh, tiêu diệt các đơn vị du kích và bộ đội địa phương của địch quân tại khu vực trách nhiệm. Hỗ trợ Nghĩa quân giữ an ninh làng xã. Ngăn chặn các trục giao liên, vận chuyển của địch. Phá vỡ các cơ sở địa phương và cơ cấu kinh tài của địch.

B. Nghĩa quân:

Tiền thân của Nghĩa quân là Dân vệ đoàn được thành lập để thay thế các Tự vệ Hương thôn và bảo vệ an ninh xã ấp.

Tổ chức Dân vệ thành một nha Trung ương rồi xuống khu Thanh tra Dân vệ, Phòng Dân vệ Tỉnh, Phòng Dân vệ quận và Xã đoàn Dân vệ. Về sau trực thuộc Nha Tổng Giám đốc Bảo an.

Ngày 12 tháng 5 năm 1964, Dân vệ đoàn cải danh thành Nghĩa quân. Tổ chức đến cấp Trung đội và Liên Trung đội. Nhiệm vụ chính hoạt động trong phạm vi cấp Chi khu, Phân chi khu.

  • Địa phương quân & Nghĩa quân là lực lượng chịu nhiều thương vong trong chiến tranh Việt Nam, thương vong của lực lượng này chiếm 25% tổng số thương vong của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Cơ cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ nghĩa quân đang tuần tra ở quận Bến Cát.

Địa phương quân trực thuộc các Tiểu khu (tỉnh), nên tùy tình hình, phương tiện và nhân sự địa phương, cách tổ chức có thể được các Tiểu khu linh động thay đổi nên khác nhau ít nhiều. Cấp bậc cao nhất là Tiểu đoàn trưởng, thường là 1 Đại úy hoặc Thiếu tá. Sau thêm cấp Liên đoàn (hoặc Bộ chỉ huy chiến thuật), chỉ huy thường là cấp Trung tá.

Trong Bộ chỉ huy Tiểu đoàn có sĩ quan trợ y, thuộc cấp số đơn vị, có đơn vị gia binh trong hậu cứ. Mỗi Đại đội có một hạ sĩ quan làm y tá đại đội. Sĩ quan Pháo binh không thuộc cấp số đơn vị, chỉ khi nào Tiểu đoàn đi hành quân, sĩ quan Pháo binh mới có mặt với hiệu thính viên riêng để liên lạc trực tiếp với Pháo binh yểm trợ. Hành quân xong, ông ta trở về căn cứ pháo binh. Trong trường hợp cần yểm trợ bằng Không quân, Tiểu đoàn phải liên lạc qua Tiểu khu, và Tiểu khu liên lạc với căn cứ Không quân.

Mỗi Tiểu đoàn có năm Đại đội, gồm bốn Đại đội tác chiến và một Đại đội chỉ huy. Mỗi Đại đội có bốn Trung đội, gồm một Trung đội đại liên (vũ khí nặng) và ba Trung đội vũ khí nhẹ. Quân số mỗi Đại đội, trên cấp số là 108 người, nhưng trên thực tế có mặt ngoài chiến trường chỉ vào khoảng 50 người. Số còn lại nghỉ bệnh, đi phép, hoặc bị thương, tử trận chưa kịp bổ sung. Quân số hành quân của Tiểu đoàn trung bình khoảng 300.

Địa phương quân không có ban truyền tin riêng. Nhưng máy PRC-25 được trang bị đầy đủ, do chính các binh sĩ trong tiểu đoàn đảm trách.

Mỗi Tiểu khu có một số Tiểu đoàn lưu động, một số có hậu cứ, số còn lại sau những ngày hành quân, kéo ra đóng dài theo các trục lộ, vừa dưỡng quân vừa giữ an ninh khu vực. Các Tiểu đoàn cố định khác chịu trách nhiệm hẳn một vùng, coi đồn, giữ cầu đường hay đóng chốt trên các trục chuyển quân của địch quân.

Phần lớn các đồn lớn là của Địa phương quân, do Tiểu khu và Chi khu điều khiển. Các đồn nhỏ do Phân chi khu (xã), giao cho Nghĩa quân phụ trách. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.

Các đồn lớn thường đóng trong vùng an ninh, giữ cầu, bảo vệ các cơ sở hành chính. Tại đây, binh lính được ra vào thoải mái, chỉ thỉnh thoảng mới phải hành quân dã trại, hoặc tổ chức phục kích quanh đồn ban đêm.

Chỉ huy qua từng thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 11 vị Chỉ huy:
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Họ & Tên Cấp bậc* Chức vụ Tại chức Chú thích
1
Tôn Thất Trạch
Đốc phủ sứ
Tổng giám đốc Bảo an
1955-1956
2
Trần Tử Oai
Võ bị Tong Sơn Tây
Thiếu tướng
nt
1956-1957
Giải ngũ năm 1965
3
Lê Khương
Đại tá
nt
1957-1959
Giải ngũ ở cấp Đại tá
4
Đặng Văn Quang
Võ bị Huế K1
Trung tá
nt
1959-1960
Sau cùng là Trung tướng Cố vấn An ninh Quốc gia
5
Lâm Văn Phát
Võ bị Viễn Đông
Đại tá
nt
1960-1961
Giải ngũ 1965 ở cấp Thiếu tướng. Ngày 29/4/1975 tái ngũ được thăng cấp Trung tướng giữ chức Tư lệnh Biệt khu Thủ đô
6
Dương Ngọc Lắm
Võ bị Viễn Đông
nt
nt
1961-1964
Giải ngũ năm 1964 ở cấp Thiếu tướng
7
Trần Ngọc Tám
Võ bị Viễn Đông
Trung tướng
Tư lệnh

Địa phương quân & Nghĩa quân

1964-1965
Giải ngũ năm 1974
8
Trương Văn Xương
Sĩ quan Cao Đài
Đại tá
Chỉ huy trưởng

Địa phương quân & Nghĩa quân

1965-1966
Nguyên là sĩ quan cao cấp của Quân đội giáo phái Cao Đài, phục vụ Quân đội Quốc gia từ sau Hiệp định Genève 1954. Giải ngũ cùng cấp
9
Hoàng Gia Cầu
Võ bị Móng Cái
nt
nt
1966-1968
Tốt nghiệp Trường Võ bị Móng cái. Là con trai Đại tá Vòng A Sáng (cựu Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh)
10
Nguyễn Văn Là
Võ bị Tong Sơn Tây
<cêtr>Trung tướng
Tư lệnh

Địa phương quân & Nghĩa quân

1968-1972
Kiêm Tổng tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu
11
Nguyễn Văn Mạnh
Võ bị Huế K1
nt
nt
1972-1975
nt

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]