Fredi Bobic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Fredi Bobic
Tập tin:Fredibobic.jpg
Bobič tại VfB Stuttgart.
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Fredi Bobič
Ngày sinh 30 tháng 10, 1971 (48 tuổi)
Nơi sinh Maribor, SFR Yugoslavia
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
VfB Stuttgart (director of sport)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1979–1980 VfR Bad Cannstatt
1980–1986 VfB Stuttgart
1986–1990 Stuttgarter Kickers
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1990–1992 TSF Ditzingen 62 (32)
1992–1994 Stuttgarter Kickers 62 (26)
1994–1999 VfB Stuttgart 148 (69)
1999–2002 Borussia Dortmund 56 (17)
2002Bolton Wanderers (cho mượn) 15 (4)
2002–2003 Hannover 96 27 (14)
2003–2005 Hertha BSC Berlin 54 (8)
2006 NK Rijeka 8 (2)
Tổng cộng 353 (182)
Đội tuyển quốc gia
1994–2004 Đức 37 (10)
Các đội đã huấn luyện
2009–2010 Chernomorets Burgas (managing director)
2010– VfB Stuttgart (director of sport)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Fredi Bobic (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1971 ở Maribor, Slovenia, Yugoslavia) là một cựu cầu thủ bóng đá Đức có nguồn gốc Slovene và Croat. Hiện ông đang là giám đốc điều hành của đội bóng Bulgaria PFC Chernomorets Burgas.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu của Bobic là vào giữa những năm 1990 khi anh chơi cho VfB StuttgartBundesliga. Trong mùa giải đầu tiên 1994-95 anh ghi bàn trong 5 trận đầu tiên, do đó trở thành một ứng viên cho đội tuyển Đức sau chỉ một vài lần ra sân ở giải vô địch quốc gia Đức. Vào năm 1996 anh là vua phá lưới Bundesliga với 17 bàn. Sau 4 năm chơi cho Stuttgart, anh chuyển tới Borussia Dortmund và trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của đội bóng trong cả mùa giải 1999-00 và 2000-01. Tuy nhiên, sau khi đội bóng chiêu mộ Jan KollerMarcio Amoroso vào mùa hè 2001, anh dần không được để ý tới và chỉ chơi 3 trận trong giai đoạn đầu mùa giải 2001-02. Do vậy, anh bị đem cho Bolton Wanderers của Premier League mượn. Cú hattrick của anh trong chiến thắng 4-1 trước Ipswich Town ở sân Reebok[1] đã đảm bảo cho Bolton trụ hạng, trong khi đẩy Ipswich xuống hạng. Anh ghi một bàn nữa cho Bolton trong chiến thắng 3-2 trước Aston Villa[2]. Sau khi trở lại từ Anh, anh được đội bóng mới lên hạng Hannover 96 ký hợp đồng và lại chứng tỏ được bản thân là một trong những cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải đấu, ghi 14 bàn trong 27 trận. Vào năm 2003 anh được Hertha BSC Berlin ký hợp đồng, nơi anh chơi 2 mùa giải, ghi 8 bàn trong 54 trận. Cuối cùng anh chơi cho NK Rijeka của Croatia trước khi giải nghệ vào tháng 6 năm 2006.

Anh đã có 37 lần ra sân (ghi 10 bàn) cho Đức và là thành viên vô địch Euro 1996. Anh cũng chơi ở giải vô địch bóng đá châu Âu 2004, trở lại đội tuyển vào năm 2002 sau 4 năm vắng bóng.

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Bobic ký hợp đồng làm giám đốc điều hành cho PFC Chernomorets Burgas vào ngày 25 tháng 3 năm 2009, và sẽ làm việc ở đội bóng cùng người đồng đội cũ Krassimir Balakov.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bolton rout Ipswich”. BBC Sport. 6 tháng 4 năm 2002. Truy cập 16 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ “Nolan strike sinks Villa”. BBC Sport. Ngày 30 tháng 3 năm 2002. Truy cập 16 tháng 9 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]