Bước tới nội dung

Kim quất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kim quất

Kim quất (/ˈkʌmkwɒt/;[1] tiếng Trung: 金橘 ), là một nhóm cây ăn quả nhỏ trong họ thực vật có hoa Rutaceae. Phân loại của nhóm thực vật này đang gây tranh cãi. Trước đây, chúng được phân loại thành chi Fortunella theo lịch sử hiện tại hoặc được đưa vào chi Citrus, sensu lato. Cách thức phân loại trước đây đã xếp kim quất bất kỳ gom tụ lại thành một loài đơn nhất, C. japonica, còn nhiều loài khác dùng để đại diện cho mỗi giống cây trồng. Tuy nhiên, phân tích bộ gen gần đây xác định có ba loài thuần chủng là Citrus hindsii, C. margaritaC. crassifolia, với C. x japonica là giống lai của hai loài cuối cùng.

Quả kim quất ăn được, gần giống với quả cam (Citrus sinensis) về màu sắc và hình dạng nhưng nhỏ hơn nhiều, có kích thước xấp xỉ quả ô liu lớn. Kim quất là loại cây có múi chịu lạnh tốt.

Từ nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi "kim quất" trong tiếng Việt và "kumquat" trong tiếng Anh lẫn tiếng Pháp đều được phiên âm ra từ tiếng Trung Hoa Quảng Châu kām kwāt (tiếng Trung: 金橘), với nghĩa đen là "quả cam vàng kim".[2]

Minh họa của Walter Hood Fitch

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim quất có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc.[3][4] Tham khảo lịch sử về kim quất xuất hiện trong văn học Trung Hoa ít nhất từ thế kỷ 12.[5] Cây đã được trồng từ lâu ở các khu vực khác của Đông Á (Nhật Bản), Nam Á (Ấn Độ) và Đông Nam Á (đặc biệt là Philippines). Chúng được Robert Fortune, nhà sưu tập của Hiệp hội Làm vườn London, giới thiệu đến châu Âu vào năm 1846, ngay sau đó được đưa đến Bắc Mỹ.[6] Kim quất là thực vật nguyên thủy nhất còn sống thuộc nhóm cam quýt.[7]

Cây kim quất có thể đạt chiều cao từ 2,5 đến 4,5 m (8,2 đến 14,8 ft), với các cành rậm rạp, đôi khi có gai nhỏ.[5] Lá đơn mọc so le, hình ngọn giáo, dài 3,25 đến 8,6 cm (1,28 đến 3,39 in), có răng mịn từ đỉnh đến giữa, màu xanh đậm, mặt trên bóng, mặt dưới nhạt hơn.[3] Hoa có 5 cánh, màu trắng, hương thơm ngọt ngào, giống như các loại hoa của cây có múi khác, mọc đơn lẻ hoặc thành chùm từ 1 đến 4 ở nách lá.[3][5] Tùy theo kích thước, kim quất có thể cho hàng trăm, thậm chí hàng nghìn quả mỗi năm.[5] Cây ra quả có hình bầu dục thuôn dài hoặc hình tròn. Quả có thể rộng 1,6 đến 4 cm (0,63 đến 1,57 in). Vỏ quả có màu vàng kim, vàng cam đến đỏ cam, có tuyến dầu to, dễ nhận ra. Thịt quả dày, bám chặt, ăn được, lớp ngoài cay, lớp trong ngọt. Cùi ít, chia thành 3 đến 6 múi, không mọng nước lắm, từ chua đến chua nhẹ. Hạt nhỏ, nhọn hoặc đôi khi không hạt, hạt kim quất xanh lục bên trong.[3] Tất cả kim quất đều tự thụ phấn. Kim quất có thể chịu được cả nhiệt độ lạnh và nóng. Kim quất được cho là thực vật Chi Cam chanh nhỏ nhất và là quả duy nhất thường ăn được cả vỏ.[8]

Dinh dưỡng

[sửa | sửa mã nguồn]
Kim quất tươi
Fortunella spp.
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng296 kJ (71 kcal)
15.9 g
Đường9.36 g
Chất xơ6.5 g
0.86 g
1.88 g
VitaminLượng
%DV
Vitamin A equiv.
2%
15 μg
129 μg
Thiamine (B1)
3%
0.037 mg
Riboflavin (B2)
7%
0.09 mg
Niacin (B3)
3%
0.429 mg
Acid pantothenic (B5)
4%
0.208 mg
Vitamin B6
2%
0.036 mg
Folate (B9)
4%
17 μg
Choline
2%
8.4 mg
Vitamin C
49%
43.9 mg
Vitamin E
1%
0.15 mg
Chất khoángLượng
%DV
Calci
5%
62 mg
Sắt
5%
0.86 mg
Magiê
5%
20 mg
Mangan
6%
0.135 mg
Phốt pho
2%
19 mg
Kali
6%
186 mg
Natri
0%
10 mg
Kẽm
2%
0.17 mg
Other constituentsQuantity
Nước82 g

Tỷ lệ phần trăm được ước tính dựa trên khuyến nghị Hoa Kỳ dành cho người trưởng thành,[9] ngoại trừ kali, được ước tính dựa trên khuyến nghị của chuyên gia từ Học viện Quốc gia.[10]

Một quả kim quất tươi chứa 81% nước, 16% carbohydrate, 2% protein và 1% chất béo (bảng). Trong một lượng tham chiếu là 100 gam (3,5 oz), kim quất tươi cung cấp 71 calo và là nguồn vitamin C phong phú (53% giá trị hàng ngày ), không có vi chất dinh dưỡng nào khác có hàm lượng đáng kể (bảng).

Phân loại và phát sinh chủng của kim quất rất phức tạp và gây tranh cãi.[11] Nhiều hệ thống khác nhau xếp các loại kim quất đa dạng thành các loài khác biệt nhau hoặc hợp nhất chúng thành chỉ còn hai loài. Về mặt thực vật, nhiều loại kim quất được phân loại theo loài sinh học riêng biệt, chứ không phải là giống cây trồng. Trong lịch sử, chúng được xét thuộc chi Citrus, nhưng hệ thống phân loại cây có múi của Swingle đã nâng kim quất thành chi riêng biệt, Fortunella. Phân tích phát sinh loài gần đây nhận ra cây thuộc họ Citrus. Swingle đã chia kim quất thành hai phân chi, Protocitrus, chứa kim quất Hồng Kông nguyên thủy, Eufortunella, gồm kim quất tròn, bầu dục, kim quất Meiwa.[7] Theo đó, Tanaka đã thêm vào hai loại khác, kim quất Mã Lai và kim quất Giang Tô. Phân tích nhiễm sắc thể gợi ý rằng Eufortunella của Swingle đại diện cho một loài 'đúng' duy nhất, trong khi các loài bổ sung của Tanaka được tiết lộ là giống lai giữa Fortunella với Citrus khác, được gọi là x Citrofortunella.[11]

Một phân tích bộ gen gần đây đã kết luận rằng chỉ có một loài kim quất thực sự, nhưng phân tích không bao gồm giống Hồng Kông được xem là một loài khác biệt trong tất cả các phân tích trước đó.[12] Một đánh giá năm 2020 đã kết luận rằng dữ liệu bộ gen không đủ để đưa ra kết luận chắc chắn về việc các giống kim quất đại diện cho các loài khác nhau.[13] Vào năm 2022, phân tích ở cấp độ bộ gen của các giống cây trồng và giống hoang dã đã đưa ra một số kết luận. Nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng cho việc phân chia kim quất thành các phân chi: Protocitrus, đối với giống Hồng Kông hoang dã và Eufortunella đối với các giống trồng trọt, với sự khác biệt trước khi kết thúc kỷ băng hà Đệ tứ, có lẽ giữa hai quần thể tổ tiên bị cô lập về phía nam và phía bắc, tương ứng, theo dãy núi Ngũ Lĩnh. Trong nhóm tiếp theo, mỗi loại kim quất bầu dục, tròn và Meiwa đều chỉ ra mức độ khác biệt lớn hơn so với giữa các loài cam quýt đã được công nhận khác, chẳng hạn như giữa bưởi và thanh yên. Do đó, mỗi loại đều xứng đáng được phân loại ở cấp độ loài. Mặc dù Swingle suy đoán rằng kim quất Meiwa là giống lai giữa kim quất bầu dục và kim quất tròn, nhưng thay vào đó, phân tích bộ gen cho thấy kim quất tròn là cây lai giữa bầu dục/Meiwa.[14]

Loài kim quất
Hình ảnh Danh pháp khoa học Tên thường gọi Phân bố
Citrus hindsii kim quất Hồng Kông Trung Quốc
Citrus crassifolia kim quất Meiwa Trung Quốc, Nhật Bản
Citrus margarita kim quất bầu dục, kim quất Nagami Nhật Bản
Citrus japonica kim quất tròn, kim quất Marumi, kim quất Morgani Trung Quốc, Nhật Bản
Citrus obovata kim quất Giang Tô, kim quất Fukushu Trung Quốc, Nhật Bản
Citrus swinglei kim quất Mã Lai bán đảo Mã Lai

Trồng trọt

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim quất chịu khắc nghiệt hơn nhiều so với cây có múi như cam. Gieo hạt vào mùa xuân là lý tưởng nhất vì nhiệt độ dễ chịu, cơ hội mưa và nắng tốt hơn. Điều này cũng giúp cây có đủ thời gian để phát triển tốt trước mùa đông. Đầu mùa xuân là thời điểm tốt nhất để cấy cây con. Chúng phát triển tốt nhất dưới ánh nắng trực tiếp (cần 6–7 giờ mỗi ngày) và được trồng trực tiếp xuống đất. Kim quất sinh trưởng tốt ở vùng khắc nghiệt 9 và 10 của USDA và có thể tồn tại ở nhiệt độ thấp đến −7 °C (19 °F). Khoảng 90 ngày sẽ đủ trưởng thành.

Trong lĩnh vực trồng trọt ở Vương quốc Anh, Citrus japonica đã giành được Giải thưởng Bằng khen Làm vườn của Hiệp hội Làm vườn Hoàng gia[15] (xác nhận năm 2017).[16]

Nhân giống và thụ phấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim quất không phát triển tốt từ hạt và do đó được nhân giống sinh dưỡng bằng cách sử dụng gốc ghép của một loại cây có múi khác, phân lớp không khí hoặc giâm cành.[3]

Thành phần

[sửa | sửa mã nguồn]

Tinh dầu của vỏ kim quất chứa nhiều mùi thơm của quả. Có thành phần chủ yếu là limonene, chiếm khoảng 93% trên tổng số.[17] Ngoài limonene và alpha-pinene (0,34%), cả hai đều được xem là monoterpen, tinh dầu còn giàu bất thường (0,38% tổng số) sesquiterpen như α- bergamotene (0,021%), caryophyllene (0,18%), α- humulene ( 0,07%) và α-muurolene (0,06%). Những chất này góp phần tạo nên hương gỗ và cay của quả. Các hợp chất carbonyl chiếm phần lớn phần còn lại và chúng chịu trách nhiệm tạo ra phần lớn hương vị đặc biệt. Các hợp chất này bao gồm este như isopropyl propanoate (1,8%) và terpinyl axetat (1,26%); xeton như carvone (0,175%); và một loạt các aldehyde như citronellal (0,6%) và 2-methylundecanal. Các hợp chất oxy hóa khác bao gồm nerol (0,22%) và Trans-lialool oxide (0,15%). [17]

Giống lai

[sửa | sửa mã nguồn]

Các dạng lai của kim quất bao gồm:

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ “Kumquat”. Collins Dictionary. 23 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  2. ^ “Kumquat”. Online Etymology Dictionary, Douglas Harper. 2020. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ a b c d e Julia F Morton (1987). “Kumquat, Fortunella sp. Swingle; In: Fruits of Warm Climates, Miami, FL”. NewCROP, New Crop Resource Online Program, Center for New Crops and Plant Products, Purdue University. tr. 182–185. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2020.
  4. ^ citrus fruit. Germplasm Resources Information Network (GRIN). Cục Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA).
  5. ^ a b c d “FGCU Food Forest - Plant Database - Kumquat” (PDF). fgcu.edu. Florida: Florida Gulf Coast University. 2015. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
  6. ^ “Citrus japonica (syn. Fortunella margarita), kumquat | Trees of Stanford & Environs”. trees.stanford.edu. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2021.
  7. ^ a b Swingle, Walter T. (1915). “A new genus, Fortunella, comprising four species of kumquat oranges”. Journal of the Washington Academy of Sciences. 5 (5): 165–176. JSTOR 24520657.
  8. ^ Madison, Deborah (26 tháng 1 năm 2017). The Illustrated Encyclopedia of Fruits, Vegetables, and Herbs: History, Botany, Cuisine (bằng tiếng Anh). Book Sales. tr. 70. ISBN 978-0-7858-3488-5.
  9. ^ United States Food and Drug Administration (2024). “Daily Value on the Nutrition and Supplement Facts Labels”. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  10. ^ National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine; Health and Medicine Division; Food and Nutrition Board; Committee to Review the Dietary Reference Intakes for Sodium and Potassium (2019). Oria, Maria; Harrison, Meghan; Stallings, Virginia A. (biên tập). Dietary Reference Intakes for Sodium and Potassium. The National Academies Collection: Reports funded by National Institutes of Health. Washington (DC): National Academies Press (US). ISBN 978-0-309-48834-1. PMID 30844154.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  11. ^ a b Yasuda, Kiichi; Yahata, Masaki; Kunitake, Hisato (2015). “Phylogeny and Classification of Kumquats (Fortunella spp.) Inferred from CMA Karyotype Composition”. The Horticultural Journal. 85: 115–121. doi:10.2503/hortj.MI-078.
  12. ^ Wu, Guohong Albert; Terol, Javier; Ibanez, Victoria; López-García, Antonio; Pérez-Román, Estela; Borredá, Carles; Domingo, Concha; Tadeo, Francisco R; Carbonell-Caballero, Jose; Alonso, Roberto; Curk, Franck (2018). “Genomics of the origin and evolution of Citrus. Nature. 554 (7692): 311–316. Bibcode:2018Natur.554..311W. doi:10.1038/nature25447. PMID 29414943.
  13. ^ Ollitrault, Patrick; Curk, Franck; Krueger, Robert (2020). Citrus taxonomy”. Trong Talon, Manuel; Caruso, Marco; Gmitter, Fred G Jr. (biên tập). The Citrus Genus. Elsevier. tr. 57–81. doi:10.1016/B978-0-12-812163-4.00004-8. ISBN 9780128121634.
  14. ^ Zhu, Chenqiao; và đồng nghiệp (2022). “New insights into the phylogeny and speciation of kumquat (Fortunella ssp.) based on chloroplast SNP, nuclear SSR and whole-genome sequencing”. Frontiers of Agricultural Science and Engineering. doi:10.15302/J-FASE-2021436.
  15. ^ “RHS Plantfinder - Citrus japonica. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018.
  16. ^ “AGM Plants - Ornamental” (PDF). Royal Horticultural Society. tháng 7 năm 2017. tr. 16. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2018.
  17. ^ a b Koyasako, A.; Bernhard, R.A. (1983). “Volatile Constituents of the Essential Oil of Kumquat”. Journal of Food Science. Wiley & Sons. 48 (6): 1807–1812. doi:10.1111/j.1365-2621.1983.tb05090.x.
  18. ^ “×Citrofortunella microcarpa. Germplasm Resources Information Network (GRIN). Cục Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]