Omar Khayyám

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tượng Omar Khayyám tại Bucharest

Omar Khayyám (18 tháng 5 năm 1048 – 4 tháng 12 năm 1123; tên đầy đủ là Ghiyath al-Din Abu'l-Fath Omar ibn Ibrahim Al-Nisaburi Khayyámi; tiếng Ả Rập: غیاث الدین ابو الفتح عمر بن ابراهیم خیام نیشابوری) là một nhà thiên văn học, toán học, nhà thơ người Iran. Ông sinh tại thành phố Nisapure, gần thủ đô Mashhad, miền Đông Iran. Tên của ông nhiều khi được viết như Omar Khayam, Omar al-Khayyami, Omar Chayam...

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Omar Khayam đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm giá trị trong các lĩnh vực thiên văn học, toán học, triết học, khoáng sản học,... Trong đó một số tác phẩm đã bị mất, như bản đồ các vì sao ông vẽ năm 1079.

Năm 1073, ông cùng nhiều nhà khoa học danh tiếng khác xây dựng một đài thiên văn tại Isfahan và làm việc tại đó. Thời gian này, ông đã tiến hành một cuộc cải cách lớn về lịch, lập ra một hệ thống lịch mới. Ông cho rằng chiều dài một năm là 365,24219858156 ngày.

Omar Khayam cũng khá nổi tiếng trong giới toán học khi đề xuất phương pháp giải bài toán phương trình bậc ba trong trường hợp parabolđường tròn.

Tuy nhiên, cuộc đời của ông cũng đầy những năm tháng cay đắng. Vì những quan điểm chính trị, tôn giáo phản loạn, ông đã bị đày ải nhiều nơi, nhưng cuối cùng cũng về được thành phố quê hương và chết ở đó.

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

A Ruby kindles in the vine-The Rubaiyat of Omar Khayyam

Thơ của Omar Khayam được phát hiện bởi người châu Âu vào thế kỷ 19. Qua bản dịch Thơ Rubaiyat của Omar Khayyam của Edward FitzGerald năm 1858, Omar Khayam đột nhiên trở thành nhà thơ nước ngoài được yêu thích nhất ở châu Âu và châu Mỹ. Ở Anh, PhápMỹ thi nhau mọc lên các quán rượu và câu lạc bộ những người tôn thờ ma men mang tên ông. Ông để lại khoảng 500 bài thơ rubaiyat (thơ 4 câu), mang nặng triết lý về rượu và tình yêu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]