Sen to Chihiro no Kamikakushi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vùng đất linh hồn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.
Sen to Chihiro no Kamikakushi
Áp phích phim tại Nhật Bản
Thông tin phim
Đạo diễn Miyazaki Hayao
Sản xuất Suzuki Toshio
Kịch bản Miyazaki Hayao
Cốt truyện Miyazaki Hayao
Diễn viên
Âm nhạc Hisaishi Joe
Quay phim Okui Atsushi
Dựng phim Seyama Takeshi
Hãng sản xuất Studio Ghibli
Phát hành Toho
Công chiếu 20 tháng 7, 2001 (2001-07-20)
Độ dài 124 phút
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Kinh phí 1.9 tỷ yên Nhật
(19 triệu đô-la Mỹ)[1]
Doanh thu 30.4 tỷ yên Nhật
(289.1 triệu đô-la Mỹ)[2]

Sen to Chihiro no Kamikakushi (Nhật: 千と千尋の神隠し せんとちひろのかみかくし?) là một phim hoạt hình Nhật Bản ra mắt vào năm 2001 do Studio Ghibli sản xuất, Miyazaki Hayao biên kịch và đạo diễn. Phim có diễn xuất của Hiiragi Rumi, Irino Miyu, Natsuki Mari, Naito Takeshi, Sawaguchi Yasuko, Kamijō Tsunehiko, Ono Takehiko và Sugawara Bunta, kể về câu chuyện của Ogino Chihiro (Hiiragi), một cô bé 10 tuổi luôn buồn chán, bị mắc kẹt ở thế giới của những linh hồn và ma quỷ. Sau khi bố mẹ cô bị phù thủy Yubaba (Natsuki) biến thành heo, Chihiro buộc phải làm một công việc tại nhà tắm công cộng của Yubaba để tìm cách giải thoát bố mẹ và mình rồi trở về với thế giới loài người.

Miyazaki viết kịch bản phim sau khi quyết định lấy cảm hứng từ đứa con gái 10 tuổi của một người bạn, trợ lý sản xuất Okuda Seiji, người thường đến thăm ông mỗi hè.[3] Cùng lúc đó, Miyazaki đang phát triển hai dự án khác của riêng ông nhưng cả 2 đều bị hủy bỏ. Với kinh phí 19 triệu đô-la Mỹ, Sen to Chihiro no Kamikakushi bắt đầu sản xuất vào năm 2000. Trong quá trình sản xuất, ông nhận ra thời lượng phim dài hơn 3 tiếng nên đã cắt bỏ một số phần ra khỏi kịch bản gốc. Đạo diễn John Lasseter của hãng Pixar, một người hâm mộ Miyazaki, được Walt Disney Pictures mời giám sát quá trình lồng tiếng Anh cho bộ phim trước khi phát hành tại khu vực Bắc Mỹ. Lasseter thuê Kirk Wise làm đạo diễn và Donald W. Ernst làm nhà sản xuất cho bản dịch tiếng Anh này. Biên kịch Cindy Davis Hewitt và Donald H. Hewitt viết thoại tiếng Anh sao cho trùng với khẩu hình tiếng Nhật.[4]

Phim phát hành ngày 20 tháng 7 năm 2001, trở thành tác phẩm điện ảnh thành công nhất trong lịch sử Nhật Bản, với doanh thu lên tới 289 triệu đô-la Mỹ trên toàn thế giới. Phim vượt qua Titanic (lúc này là phim có doanh thu cao nhất thế giới) tại các phòng vé Nhật để giành vị trí phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử Nhật Bản, đạt 30.4 tỷ yên Nhật. Các nhà phê bình quốc tế khen ngợi Sen to Chihiro no Kamikakushi, xếp bộ phim vào danh sách phim xuất sắc nhất thập niên 2000 và là một trong những bộ phim hoạt hình vĩ đại nhất.[5][6][7] Phim giành giải Oscar cho Phim hoạt hình hay nhất tại mùa giải lần thứ 75, giải Gấu Vàng tại Liên hoan phim Berlin (cùng với phim Bloody Sunday) năm 2002 và nằm trong top 10 danh sách 50 phim bạn nên xem khi ở tuổi 14 của BFI.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Chihiro Ogino, một cô bé 10 tuổi, đang cùng gia đình chuyển đến nhà mới thì bố cô rẽ nhầm một con đường lạ. Họ vô tình bước vào một thế giới ma thuật mà bố của Chihiro kiên quyết khám phá. Khi bố mẹ của Chihiro ăn tại một nhà hàng không người, cô tìm thấy một nhà tắm công cộng tráng lệ. Cô gặp một chàng trai trẻ, Haku, người khuyên cô mau trở lại con sông trước khi trời tối. Dù vậy, Chihiro phát hiện ra quá trễ, bố mẹ cô đã biến thành heo và cô không thể vượt qua con sông đang dâng cao, khiến cô bị mắc kẹt trong thế giới linh hồn.

Sau khi gặp lại Chihiro, Haku tìm cho cô một công việc từ Kamaji, một người đàn ông làm việc tại nhà tắm công cộng. Kamaji và một nhân viên tên Lin dắt Chihiro đến phù thủy Yubaba, người cai quản nhà tắm. Yubaba cho cô một công việc và đặt cho cô một cái tên mới: Sen (?). Lúc đến thăm bố mẹ mình tại chuồng heo, Sen tìm lại một tấm thiệp chia tay gửi đến Chihiro và nhận ra cô đã quên mất tên thật của mình. Haku cho cô bé biết rằng Yubaba điều khiển người giúp việc bằng cách lấy đi tên thật của họ và cô sẽ bị mắc kẹt lại thế giới linh hồn nếu không nhớ được tên của mình. Trong lúc làm việc, Sen mời một sinh vật im lặng đeo mặt nạ có tên là Vô Diện vào trong, tin rằng đó là một khách hàng. Một "linh hồn hôi thối" bất ngờ đến và là khách hàng đầu tiên của Sen. Cô bé nhận ra đây là vị thần của một con sông bị ô nhiễm. Để nhớ ơn người làm ông ta sạch sẽ, vị thần tặng cho cô một chiếc bánh bao thảo mộc thần kỳ. Trong lúc đó, Vô Diện dụ dỗ một nhân viên bằng vàng và nuốt chửng anh ta. Vô Diện đòi phục vụ thức ăn và trả tiền rất hậu hĩnh. Khi mọi người kéo đến mong chờ trả tiền, Vô Diện nuốt thêm hai nhân viên tham lam nữa.

Lúc đó tại phòng mình, Sen phát hiện ra những người giấy đang tấn công một con rồng và nhận ra đó chính là Haku biến hình. Khi Haku bị thương bay lên phòng Yubaba, Sen cũng tìm cách lên đó bằng cầu thang bên ngoài. Khi tìm thấy Haku, một người giấy dính vào lưng cô bé biến hình ra thành Zeniba, chị gái sinh đôi của Yubaba. Bà biến con trai của Yubaba là Boh thành một con chuột bạch, biến con chim của Yubaba thành một con ruồi nhỏ còn ba tay sai của Yubaba thành cậu bé con trai bà ta. Zeniba cho Sen hay rằng Haku đã ăn trộm chiếc ấn vàng của bà ta và cảnh cáo Sen rằng nó mang một lời nguyền chết chóc. Haku và Sen (cùng Boh trên lưng) bị rơi xuống phòng đun nước. Ở đó cô cho anh ăn một miếng bánh bao, giúp anh nôn được cả cái ấn và một con sên đen bị Sen dẫm nát.

Trong khi Haku còn bất tỉnh, Sen quyết định mang chiếc ấn trở lại trả cho Zeniba và xin lỗi thay Haku. Trước khi rời nhà tắm, Sen phải xử lý Vô Diện vì Yubaba cho rằng cô đã dẫn gã vào. Cô cho gã ăn phần còn lại của chiếc bánh bao. Vô Diện vừa đuổi theo Sen vừa nôn ra những gì hắn ăn và trở lại hình dạng ban đầu. Sen cùng Boh, con ruồi và Vô Diện lên đường đến gặp Zeniba. Ở nhà tắm lúc này, Yubaba phát hiện ra Boh mất tích vì Boh giả mạo đã trở lại hình dạng ba tên giúp việc. Haku hứa rằng sẽ mang Boh trở về với Yubaba, để đổi lại bà ta phải trả tự do cho Sen và cha mẹ cô.

Sen, Vô Diện, Boh và chú ruồi cùng đến nhà Zeniba. Zeniba, giờ đây là một "bà cụ" nhân từ, tiết lộ rằng tình yêu của Sen và Haku sẽ hóa giải lời nguyền của cô và Yubaba đã dùng con sên đen để kiểm soát anh ta. Haku trong hình dạng con rồng đến nhà Zeniba, đưa Sen và Boh trở về nhà tắm. Vô Diện đồng ý ở lại nhà Zeniba, làm người giúp việc cho bà. Trên đường về, Sen nhớ rằng hồi bé mình bị ngã xuống sông Kohaku nhưng được sóng đánh lên bờ an toàn. Sau khi Sen đoán chính xác rằng Haku chính là thần sông Kohaku (và phát hiện ra tên thật của anh), Haku được giải thoát khỏi sự điều khiển của Yubaba. Khi họ quay trở về nhà tắm, Yubaba bảo Sen phải tìm được bố mẹ mình trong một đàn heo thì mới có thể hóa giải lời nguyền cho họ. Sen đoán chính xác rằng không có con heo nào trong đó là bố mẹ của cô, giúp cả gia đình giải thoát khỏi lời nguyền của Yubaba. Haku dắt cô trở lại cánh cổng của thế giới linh hồn và hứa sẽ gặp lại cô trong tương lai. Chihiro đoàn tụ với bố mẹ, những người trở lại hình hài cũ và không nhớ điều gì đã xảy ra. Họ trở lại chiếc xe phủ đầy lá và bụi sau nhiều ngày trôi qua và đi đến ngôi nhà mới.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ogino Chihiro (荻野 千尋?) / Sen (?)
Lồng tiếng bởi Hiragi Rumi.

Một cô bé 10 tuổi, nhân vật chính của anime "Sen to Chihiro no Kamikakushi". Chihiro là một đứa trẻ thụ động, nhút nhát và hậu đậu. Cô bé hầu như sợ hãi mọi thứ, chẳng dám đối đầu nguy hiểm hay nói lên ý kiến của bản thân. Chính Yubaba đã đổi tên Chihiro thành Sen nhằm mục đích để cô bé quên mất tên thật và không thể trở về thế giới con người. Nhờ có Haku lấy lại bộ quần áo cũ cho cô (thứ mà cô bắt buộc phải có nếu muốn trở về thế giới loài người), cô mới tìm được tấm thiệp chia tay của các bạn trong túi quần và nhớ ra tên thật của mình. Cái tên Sen là chữ đầu tiên của "Chihiro" trong tiếng Nhật, có nghĩa là một nghìn (1000). Khi được nhận vào nhà tắm công cộng của Yubaba với cái tên mới, Chihiro bị mọi người ghét bỏ, kì thị bởi cô là con người. Dần dần, nhờ lòng nhiệt tình, nhân hậu, Chihiro đã hoàn thành nhiều thử thách khó khăn do Yubaba đặt ra để hành hạ cô bé và có được những người bạn tốt như chị Rin, ông Kamajii sáu tay. Người trợ giúp Chihiro nhiều nhất là cậu pháp sư trẻ tuổi Haku.

  • Haku (ハク?)
Lồng tiếng bởi Irino Miyu.

Pháp sư làm việc cho Yubaba, hình dạng khác của cậu là một con rồng trắng. Cũng như Chihiro, Haku đã bị Yubaba xóa mất tên thật từ lâu, tuy nhiên cậu bé lại nhớ được tên của Chihiro. Haku thường xuyên bị các nhân viên nhà tắm xa lánh vì họ nghĩ cậu bé là tay sai cho Yubaba. Cậu là người đầu tiên Chihiro gặp ở thế giới linh hồn, cũng là người bạn thân thiết nhất của cô bé. Haku luôn mặc bộ đồ trắng vì nghĩa tiếng Hán của cái tên "Haku" nghĩa là màu trắng. Cậu là người rất dũng cảm, chững chạc với khuôn mặt đẹp thanh tú nhưng vẫn phảng phất nét nam tính. Đôi mắt xanh lá cây sắc bén càng khiến cho khuôn mặt Haku ấn tượng hơn. Để che mắt Yubaba, bề ngoài Haku luôn tỏ ra lạnh nhạt với Chihiro. Lúc không có ai theo dõi, cậu lại đối xử rất tốt bụng, ân cần và dịu dàng với cô bé. Thực ra Haku đã biết Chihiro từ khi cô còn rất nhỏ, bởi cậu đã cứu mạng cô khi cô bị ngã xuống sông Kohaku. Haku chính là vị thần cai quản dòng sông nhỏ đó, có tên thật là Nigihayami Kohaku Nushi (ニギハヤミコハクヌシ?). Sông Kohaku bị con người lấp đi để xây nhà nên Haku không còn chỗ ở, cậu lang thang đến vùng đất linh hồn và được Yubaba thu nhận làm người học việc. Ở cuối phim, Chihiro đã giúp Haku nhớ lại được tên thật của mình, xóa bỏ lời nguyền của Yubaba ám lên cậu. Khi cô bé tạm biệt cậu để trở về thế giới loài người, Haku hứa rằng họ sẽ gặp lại nhau, cậu cũng nói sẽ không làm người học việc của Yubaba nữa.

  • Yubaba (湯婆婆?)
Lồng tiếng bởi Natsuki Mari.

Bà phù thủy gian tham và độc ác cai trị vùng đất linh hồn. Trên tay bà ta lúc nào cũng đeo đầy ngọc ngà châu báu. Yubaba kinh doanh nhà tắm công cộng - nơi những quỷ thần tới để thư giãn mỗi ngày. Mới đầu, bà không hề muốn nhận Chihiro vào làm việc nhưng quy tắc bất di bất dịch của bà là "giao công việc cho bất kì ai hỏi xin" nên Yubaba đành thu nhận Chihiro. Là người vô cùng thực dụng, bà ta chỉ xem Haku như một công cụ để thực hiện việc mờ ám, khi cậu không còn tác dụng thì vứt bỏ. Yubaba thống trị nơi đây bằng cách lấy đi tên thật của một người khiến người ấy không thể nhớ được tên của chính mình và phải phục tùng mọi mệnh lệnh của bà ta. Dù xấu xa là vậy, Yubaba lại rất thương yêu, cưng chiều cậu con trai khổng lồ Boh của mình.

  • Vô Diện (カオナシ Kaonashi?) (No Face)
Lồng tiếng bởi Gashuin Tatsuya.

Con ma kì lạ không có gương mặt sinh sống ở vùng đất linh hồn. Vô Diện hay đeo mặt nạ vong hồn (gần giống mặt nạ kịch Noh của Nhật Bản) và có khả năng tàng hình. Hắn rất thích Chihiro vì cô bé là người đầu tiên đối xử tốt với hắn. Vô Diện sống nhờ vào lòng tham của con người, hắn dùng vàng bạc giả mua chuộc các nhân viên trong nhà tắm của Yubaba để bắt họ phục vụ đồ ăn cho hắn. Khi Vô Diện ăn hết thức ăn, hắn quay sang ăn một vài nhân viên nhà tắm và gây nên náo loạn cho mọi người. Điều duy nhất cảm hóa Vô Diện là một tâm hồn trong sáng, không bị vấy bẩn vì lòng tham, giống như tâm hồn cô bé Chihiro vậy. Sau khi ăn phải mẩu bánh thuốc của Chihiro (do thần Sông tặng), Vô Diện đã nôn ra tất cả những gì hắn đã ăn, kể cả 3 nhân viên nhà tắm mà hắn đã nuốt và giận dữ đuổi theo Chihiro. Chihiro đã dụ được Vô Diện đuổi theo mình ra biển, xa khỏi phạm vi nhà tắm, nơi mà hắn trở lại tính cách thực của mình: chậm rãi, từ tốn và hiền lành. Cuối cùng, Vô Diện trở thành người giúp việc cho phù thủy Zeniba, người chị song sinh của Yubaba.

Nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lin (リン Rin?)
Lồng tiếng bởi Tamai Yumi.

Cô gái phục vụ nhà tắm, là đàn chị của Chihiro. Lin bình thường khá đanh đá và ăn nói thô lỗ, nhưng cô yêu quý và chăm sóc Chihiro như một người em ruột. Khi dẫn Chihiro đến xin việc tại phòng của Yubaba, Lin đã che chở cho cô bé khỏi bị lộ trước các đốc công của nhà tắm. Khi Vô Diện đi theo Chihiro, cô đã cảnh báo hắn: "Vô Diện, nếu ngươi đụng đến con bé, ngươi sẽ biết tay ta!". Lin có một ước mơ là rời khỏi nhà tắm của Yubaba và sống ở một nơi khác tốt đẹp hơn. Qua hình dáng (so với những nhân viên nữ khác trong nhà tắm) thì rất có khả năng trước đây Lin từng là con người nhưng vì phải chịu lời nguyền mà cô làm việc ở nơi đây.

  • Kamajii
Lồng tiếng bởi Sugawara Bunta.

Ông lão sáu cánh tay làm công việc đun hơi và pha chế thảo dược trong nhà tắm, người ta đặt cho ông biệt danh Nô lệ của những cái nồi đun nước. Thoạt nhìn ông Kamaji có vẻ đáng sợ, xa cách, tuy nhiên tính cách của ông lại không như thế. Thực ra ông Kamaji là người hiền lành, tốt tính, từng giúp đỡ Chihiro nhiều lần kể từ ngày đầu tiên cô lạc vào vùng đất linh hồn. Khi Chihiro ngỏ ý muốn đến chỗ Zeniba để trả con dấu vàng, Kamaji đã cho cô những tấm vé tàu mà ông để dành suốt 40 năm.

  • Zeniba (銭婆?)
Lồng tiếng bởi Natsuki Mary

Chị sinh đôi của Yubaba. Zeniba xuất hiện khá muộn trong "Sen to Chihiro no Kamikakushi", khoảng sau nửa bộ phim. Mới đầu ai cũng có thể tưởng nhầm bà ta độc ác hệt như Yubaba khi buộc Chihiro giao nộp Haku, tuy vậy sau đó nhân vật Zeniba dần cho thấy con người thật của mình là một bà già đáng mến, hiền hậu, giản dị (sau này bà còn gọi Chihiro là "cháu yêu"). Bà sống rất xa em gái, ở cánh rừng nơi trạm dừng tàu số sáu, có tên Đáy Đầm lầy. Khi Chihiro thay mặt Haku đến trả con dấu vàng cho bà mà Haku đánh cắp theo lệnh Yubaba, Zeniba đã đối xử với cô bé và các bạn cô rất tốt. Bà tặng cô một sợi dây buộc tóc được làm từ những sợi chỉ do chim Yu và Boh (trong hình dạng chuột) làm ra. Bà bảo rằng vật đó sẽ bảo vệ Chihiro. Cuối phim, Zeniba đã thu nhận Vô Diện làm người giúp việc cho mình.

  • Boh ( ?)
Lồng tiếng bởi Kamiki Ryūnosuke.

Con trai của Yubaba. Vì được mẹ quá cưng chiều nên cậu nhóc đâm nhõng nhẽo, ích kỉ và ỷ lại. Tuy Boh ngoại hình "khổng lồ" hơn cả bà mẹ nhưng cậu chẳng thể đứng dậy mà chỉ bò loanh quanh trong căn phòng của mình. Sau này, Boh bị Zeniba biến thành chuột. Trải qua một chuyến đi thú vị với Chihiro đến nhà Zeniba, cậu bé đã biết tự đứng trên đôi chân chính mình và đã biết quan tâm đến người khác hơn. Ở cuối phim, khi Yubaba định trở mặt, không cho Chihiro quay về thế giới con người với gia đình, Boh đã lên tiếng thuyết phục Yubaba thả cô đi.

  • Chim Yu (湯バード?)

Có hình dạng của một con quạ, nhưng lại có cái đầu của Yubaba. Chuyên làm do thám cho Yubaba. Trong một lần tấn công Chihiro nó đã bị Zeniba biến thành một con chim nhỏ xíu màu đen có kiểu bay vo ve như ruồi. Từ đó nó trở thành một người bạn tốt của Chihiro, và bắt đầu cuộc hành trình cùng với chuột Boh theo Chihiro tới nơi ở của Zeniba ở bến Đầm Lầy để trả lại con ấn vàng mà Haku đã ăn cắp, và xin hóa giải phép thuật của Zeniba đã ếm lên nó và chuột Boh. Nó thường cắp theo chuột Boh và bay theo Chihiro. Cuối phim nó gật đầu đồng tình với đề nghị của Boh yêu cầu Yubaba thả Chihiro và bố mẹ cô về thế giới con người nhưng kết thúc phim vẫn chưa trở lại hình dáng cũ.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi tạo ra nữ nhân vật chính là một cô bé bình thường, người mà bất kỳ người xem nào cũng có thể đồng cảm. Đây không phải là một câu chuyện kể về sự trưởng thành của các nhân vật, đây là câu chuyện mà ở đó các nhân vật của chúng ta tìm thấy được thứ gì đó vốn đã nằm sẵn trong tâm hồn họ, được bộc lộ ra khi họ ở trong những hoàn cảnh nhất định. Tôi muốn những người bạn trẻ của mình sống như vậy và tôi nghĩ rằng họ, cũng như tôi, cùng có mong ước như thế.
— Miyazaki Hayao[8]

Vào mỗi dịp hè, Miyazaki Hayao dùng quãng thời gian nghỉ ngơi của mình tại một cabin trên núi cùng gia đình và 5 cháu gái là bạn với gia đình mình. Ý tưởng cho Spirited Away đến khi ông quyết định sẽ làm một bộ phim cho những người bạn này. Miyazaki trước đó đã đạo diễn cho nhiều phim như Hàng xóm của tôi là TotoroKiki's Delivery Service, những phim dành cho đối tượng là trẻ em và các bạn tuổi teen, nhưng ông chưa từng làm một bộ phim nào dành cho những cô bé 10 tuổi. Để tìm cảm hứng, ông đọc các tạp chí shōjo manga như NakayoshiRibon mà các cháu gái để lại trong cabin, nhưng ông cảm thấy chúng chỉ đề cập đến chủ đề "phải lòng" và lãng mạn. Khi nhìn vào những người bạn trẻ của mình, Miyazaki nghĩ rằng đây không phải là thứ "giúp sinh ra lòng nhân ái trong những trái tim". Thay vào đó, ông quyết định làm bộ phim nói về một nữ nhân vật chính mà họ, những cháu gái bạn của gia đình ông, có thể noi gương.[8]

Tác giả và đạo diễn Miyazaki Hayao đã dùng những tạp chí shōjo manga để lấy cảm hứng đạo diễn cho phim Spirited Away.

Miyazaki đã có ý định làm phim mới trong một thời gian dài. Ông đã viết kịch bản cho 2 dự án riêng của mình. nhưng cả 2 đề xuất này đều bị từ chối. Đề xuất đầu tiên dựa theo một quyển sách của Nhật là Kirino Mukouno Fushigina Machi, và đề xuất thứ 2 nói về một nữ nhân vật chính tuổi teen. Dự án thứ 3 của Miyazaki, sau này có tên là Sen and Chihiro Spirited Away, là thành công hơn cả. Cả 3 câu chuyện đều xoay quanh một nhà tắm công cộng dựa theo các nhà tắm công cộng tại quê nhà của Miyazaki. Miyazaki từng nghĩ rằng nhà tắm công cộng là một nơi bí ẩn, và ở đó có một cánh cửa sổ nằm cạnh các bồn tắm. Miyazaki bị cuốn hút bởi suy nghĩ về những thứ đằng sau cánh cửa đó, và ông đã viết nhiều câu chuyện về nó; một trong số chúng trở thành ý tưởng cho nhà tắm công cộng trong Spirited Away.[8]

Khâu sản xuất phim bắt đầu tiến hành vào năm 2000 với kinh phí là 1,9 tỷ ¥ (19 triệu US$). Từ sau Công chúa Mononoke, Miyazaki và các cộng sự đã có nhiều kinh nghiệm với quá trình dựng phim bằng máy tính. Họ đã tự trang bị thêm nhiều máy tính và các phần mềm hỗ trợ như Softimage, đội ngũ sản xuất của Ghibli đã bắt đầu học cách sử dụng các phần mềm này nhưng cố gắng dùng chúng như một công cụ để làm nổi bật lên cốt truyện chứ không "lạm dụng" chúng. Mỗi nhân vật hầu hết đều được vẽ bằng tay, cùng với sự giúp đỡ của Miyazaki để đảm bảo rằng các họa sĩ hiểu được ý tưởng của ông.[9] Khó khăn lớn nhất trong quá trình làm phim là việc cắt bớt độ dài của nó. Khi quá trình trình sản xuất bắt đầu, Miyazaki nhận ra rằng bộ phim sẽ kéo dài hơn 3 tiếng nếu ông làm nó dựa theo cốt truyện hiện tại của ông. Ông đã phải cắt bỏ nhiều đoạn trong cốt truyện của mình, đồng thời giảm thiểu tối đa hiệu ứng "mắt long lanh" trong phim vì ông muốn bộ phim phải thật đơn giản. Miyazaki không muốn làm nhân vật chính là một cô bé xinh đẹp. Ban đầu ông bị thất vọng bởi cô bé trông "ngốc nghếch" và nghĩ rằng: "Cô bé không hề dễ thương. Liệu chúng ta có thể làm gì cho cô bé?". Tuy nhiên, đến cuối phim, ông cảm thấy yên lòng khi cảm thấy rằng "Cô bé sẽ trở thành một phụ nữ duyên dáng".[8]

Dinh thự Takahashi Korekiyo tại bảo tàng kiến trúc không gian mở Edo-Tokyo là một trong những nguồn cảm hứng cho Miyazaki sáng tạo ra những căn nhà ở "vùng đất linh hồn".

Miyazaki thiết kế các căn nhà trong thế giới linh hồn dựa theo kiến trúc của Edo-Tokyo Open Air Architectural Museum tại Koganei, Tokyo, Nhật. Ông thường xuyên ghé thăm bảo tàng này để lấy ý tưởng trong suốt quá trình làm phim. Miyazaki luôn bị cuốn hút bởi phong cách Pseudo-Tây phương của kiến trúc thời Minh Trị tại đây. Bảo tàng này khiến Miyazaki hoài cổ, "nhất là khi tồi đứng đây một mình lúc hoàng hôn, gần giờ đóng cửa, và mặt trời đang dần khuất bóng – những giọt nước mắt dần thấm đẫm đôi mắt tôi."[8] Một nguồn cảm hứng lớn khác nữa là Notoyaryokan, một Ryokan tọa lạc tại Yamagata, nổi tiếng nhờ lối kiến trúc và những đồ nội thất trang trí tuyệt đẹp.[10]

Bản tiếng Anh chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên Daveigh Chase phụ trách phần lồng tiếng cho nhân vật Chihiro Ogino trong phiên bản tiếng Anh chuyển thể của phim.

Pixar Animation Studios đảm nhiệm phần lồng cho bản tiếng Anh chuyển thể của phim Spirited Away, dưới sự giám sát của John Lasseter. Lasseter là một fan "cuồng" của Miyazaki, ông thường cùng đội ngũ của mình ngồi lại và xem các tác phẩm của Miyazaki mỗi khi họ đối mặt với những rắc rối trong cốt truyện phim. Spirited Away được chiếu lần đầu tiên trên đất Mỹ là tại một căn phòng nhỏ của hãng Pixar. Sau khi xem phim, Lasseter đã "bị mê mẩn". Khi nghe được phản ứng của Lasseter đối với bộ phim, người của hãng Disney đã hỏi rằng liệu ông có thể đem Spirited Away đến với công chúng Mỹ được không. Lasseter trả lời rằng ông rất bận, nhưng đồng ý điều hành việc lồng tiếng cho bản chuyển thể tiếng Anh của bộ phim. Ngay sau đó, một vài người khác cũng đã tham gia vào dự án: Kirk Wise đồng đạo diễn phim Người đẹp và quái vật và nhà sản xuất Donald W. Ernst của phim Aladdin và cây đèn thần cũng đã tham gia cùng Lasseter với vai trò lần lượt là đạo diễn và nhà sản xuất cho Spirited Away respectively.[11]

Dàn diễn viên lồng tiếng gồm Daveigh Chase, Susan Egan, David Ogden StiersJohn Ratzenberger (được Lasseter đề cập đến như là một "bùa may mắn" của ông). Với dàn diễn viên và nhân tài cùng hội tụ tại một địa điểm, tin đồn dần lan ra khắp cư dân mạng. Nhưng ban đầu, thông tin khá mờ nhạt. Pixar đã bắt đầu xúc tiến cho việc ra mắt phim thu tiếp theo, như chỉ có một dấu hiệu nhỏ cho thấy đó là Spirited Away là mẩu cắt nhỏ trang phim trên Disney.com. Sự quảng bá cho phim cũng diễn ra lặng lẽ, khi Disney loại bỏ trang chủ của mình cho Spirited Away và ẩn nó trong giới hạn của những 'mê cung' của Buena Vista. Trong khi trang chủ cho những phim khác như Signs được hiển thị thị đầy đủ, chỉ nhờ những người tò mò mà trang chủ của Spirited Away mới được phát hiện.[11]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lần ra đầu tiên ra mắt năm 2001, "Sen to Chihiro no Kamikakushi" đã nhận được vô số lời bình tích cực. Roger Ebert của tờ Chicago Sun-Times đã cho phim 4 trên 4 sao và đánh giá cao bộ phim cùng phần đạo diễn của Miyazaki. Ebert còn nói rằng Sen to Chihiro no Kamikakushi xứng đáng là một trong "những bộ phim hay nhất năm."[12] Elvis Mitchell của tờ The New York Times có nhiều nhận xét tích cực dành cho phim và đánh giá cao phần hoạt họa. Mitchell còn ưu ái so sánh phim với tác phẩm Through the Looking-Glass của Lewis Carroll và còn nói rằng bộ phim "moodiness as mood" và các nhân vật "làm tăng kịch tính [của phim]".[13] Derek Elley tờ Variety nói rằng Sen to Chihiro no Kamikakushi "còn hướng đến đối tượng là thanh niên và người lớn" và đánh giá cao phần hoạt họa cùng âm nhạc trong phim.[1] Kenneth Turan của tờ Los Angeles Times đánh giá cao phần lồng tiếng đồng thời nói rằng bộ phim là "sản phẩm của trí tưởng tượng mãnh liệt và dũng cảm sở hữu sự sáng tạo không giống như bất cứ thứ gì con người từng thấy trước đây". Turan cũng đề cao vai trò đạo diễn của Miyazaki.[14] Nhà phê bình Jay Boyar của Orlando Sentinel cũng đề cao vai trò đạo diễn của Miyazaki và nói rằng bộ phim là "lựa chọn hoàn hảo cho những đứa trẻ khi chúng phải chuyển đến nhà mới".[15]

97% trong số 155 bài phê bình được chọn bởi Rotten Tomatoes vào tháng 1 năm 2012 có đánh giá tích cực dành cho phim, chứng nhận bộ phim là "Fresh" với điểm số trung bình là 8.5/10, và xếp phim đứng thứ 13 trong số những phim hoạt hình hay nhất của trang web này.[16][17] Năm 2005, bộ phim được xếp thứ 12 trong số những phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại của IGN.[18] Bộ phim còn đứng thứ 9 trong những phim có số lượt bình chọn cao nhất mọi thời đại của Metacritic; trở thành bộ phim hoạt hình truyền thống có lượt bình chọn cao nhất trên website này. Bộ phim đứng thứ 10 trong số "100 phim điện ảnh hay nhất thế giới của" tạp chí Empire năm 2010.[19]

Các phòng chiếu phim[sửa | sửa mã nguồn]

Sen to Chihiro no Kamikakushi được công chiếu tại Nhật Bản vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, bởi hãng phát hành phim Nhật là Toho, với doanh thu là 229.607.878 đôla Mỹ, trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử Nhật Bản.[20] Đây cũng trở thành bộ phim đầu tiên thu về khoảng 200 triệu đôla tại các phòng chiếu trên khắp thế giới trước khi được công chiếu tại Mỹ.[21]

Bộ phim được thuyết minh tiếng Anh bởi Walt Disney Pictures, với sự giám sát của John Lasseter từ Pixar. Phiên bản này sau đó được chiếu tại liên hoan phim Toronto International Film Festival vào ngày 7 tháng 9 năm 2002[22] và kế đó là tại khu vực Bắc Mỹ vào ngày 20 tháng 9 năm 2002. Phim thu về 449.839$ trong tuần lễ đầu tiên ra mắt và vượt qua con số 10 triệu $ vào tháng 9 năm 2003.[23] Bộ phim tiếp tục thu về 274.925.095$ trên toàn thế giới.[24]

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim phát hành tại khu vực Bắc Mỹ bởi nhà phân phối phim Buena Vista Distribution của Disney trên định dạng DVDVHS vào ngày 15 tháng 4 năm 2003, năm mà nhiều sự chú ý hướng về bộ phim khi phim đoạt giải Oscar cho phim hoạt hình xuất sắc nhất đã khiến doanh số bán ra tăng mạnh.[25] Spirited Away thường được phân phối kèm với nhiều tác phẩm khác của Miyazaki như Laputa: Lâu đài trên không trung, Kiki cô phù thủy nhỏNausicaä của Thung lũng gió.

Phiên bản lồng tiếng Anh Bắc Mỹ được phát hành DVD tại Anh vào ngày 29 tháng 3 năm 2004. Năm 2005, bộ phim được tái phát hành bởi StudioCanal UK với bản nhạc được phụ đề phù hợp hơn cùng nhiều phần quà đính kèm.[cần dẫn nguồn]

Mặt sau DVD Vùng 1 của Disney và DVD Vùng 4 từ Madman tỷ lệ hình ảnh lấy tỷ lệ hình ảnh gốc là 2.00:1. Điều này không chính xác; tỷ lệ chính xác ở đây là 1.85:1 nhưng đã được windowbox hóa thành 2.00:1 để phù hợp với thiết lập của hầu hết các TV. Đã có nhiều tranh cãi về việc làm này, bởi có những thiết bị có thể chiếu bộ phim hoàn toàn ở định dạng gốc mà không làm mất hình, điều này dẫn đến việc xuất hiện đường viền đen thấy rõ khi xem phim từ DVD.

Trong phiên bản DVD phát hành tại châu Á, bao gồm Nhật và Hồng Kông, một lượng đáng chú ý màu đỏ hiện nổi bật lên trong phim. Đây cũng là một thiết lập để tương thích với các hệ thóng chiếu phim gia đình, lần này nguyên nhân (được cho) là do Ti-vi LCD có sẵn chế độ làm giảm bớt màu đỏ trong thiết lập. Phiên bản DVD tại các vùng khác như Mỹ, châu Âu và Australia sử dụng thiết lập chiếu phim đã làm giảm bớt hiệu ứng "nhuộm đỏ" rất nhiều.

Nhạc Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc kết thúc của phim, "Always With Me" (いつも何度でも Itsumo Nando demo?, Nghĩa đen: Luôn luôn, dù có bao nhiêu lần) được sáng tác và trình bày bởi Kimura Youmi, nhà soạn nhạc và nghệ sĩ chơi đàn lyre đến từ Osaka. Phần lời được viết bởi một người bạn của Kimura là Wakako Kaku. Ca khúc này ban đầu được dự định sử dụng trong phim Rin the Chimney Painter (煙突描きのリン Entotsu-kaki no Rin?), một bộ phim khác đã không bao giờ được phát hành của Miyazaki. Trong một phụ chương đặc biệt trong DVD, Miyazaki Hayao đã giải thích ca khúc này đã gợi cho ông cảm hứng để làm Spirited Away như thế nào.

Phần nhạc nền của bộ phim được biên soạn và chỉ đạo bởi Hisaishi Joe, cùng phần trình bày của New Japan Philharmonic. Đoạn "Day of the River" (あの日の川 Ano hi no Kawa?) của ông đã nhận giải Mainichi Film Competition Award lần thứ 56 cho Bản nhạc hay nhất, giải Âm nhạc hay nhất tại Tokyo International Anime Fair 2001 ở thể loại Phim điện ảnh, và Japan Gold Disk Award lần thứ 16 cho Album nhạc hoạt hình của năm. Sau đó, Hisaishi đã thêm lời cho "Day of the River" và đặt tên cho phiên bản mới này là "The Name of Life" (いのちの名前 "Inochi no Namae"?) trình bày bởi Hirahara Ayaka.

Ngoài các bản nhạc gốc, còn có một image album (album mà các bản nhạc phim được trình bày bởi chính các nhật vật -các diễn viên lồng tiếng cho nhân vật đó), bao gồm 10 bản nhạc.

Track Biên soạn Độ dài
1 One Summer's Day (あの夏へ Ano Natsu e?) Hisaishi Joe (久石譲?) 3:09
2 A Road to Somewhere (とおり道 Toori Michi?) 2:07
3 The Empty Restaurant (誰もいない料理店 Dare mo Inai Ryōriten?) 3:15
4 Nighttime Coming (夜来る Yoru Kuru?) 2:00
5 The Dragon Boy (竜の少年 Ryū no Shōnen?) 2:12
6 Sootballs (ボイラー虫 Boirā Mushi?) 2:33
7 Procession of the Spirits (神さま達 Kamisama-tachi?) 3:00
8 Yubaba (湯婆婆?) 3:30
9 Bathhouse Morning (湯屋の朝 Yuya no Asa?) 2:02
10 Day of the River (あの日の川 Ano Hi no Kawa?) 3:13
11 It's Hard Work (仕事はつらいぜ Shigoto wa Tsuraize?) 2:26
12 The Stink Spirit (おクサレ神 Okusaregami?) 4:01
13 Sen's Courage (千の勇気 Sen no Yūki?) 2:45
14 The Bottomless Pit (底なし穴 Sokonashi Ana?) 1:18
15 Kaonashi (No Face) (カオナシ Kaonashi?) 3:47
16 The Sixth Station (6番目の駅 Roku Banme no Eki?) 3:38
17 Yubaba's Panic (湯婆婆狂乱 Yubaba Kyōran?) 1:38
18 The House at Swamp Bottom (沼の底の家 Numa no Soko no Ie?) 1:29
19 Reprise (ふたたび Futatabi?) 4:53
20 The Return (帰る日 Kaeru Hi?) 3:20
21 Always With Me (いつも何度でも Itsumo Nando demo?) Kimura Youmi (木村弓?) 3:35
Danh sách các bản nhạc trong Image album
  1. Ano Hi no Kawa e (あの日の川へ lit. To that Days' River?) – Umi (3:54)
  2. Yoru ga Kuru (夜が来る lit. Night is Coming?)Hisaishi Joe (4:25)
  3. Kamigami-sama (神々さま lit. Gods?) – Otaka Shizuru (3:55)
  4. Yuya (油屋 lit. Bathhouse?) – Kamijō Tsunehiko (3:56)
  5. Fushigi no Kuni no Jyūnin (不思議の国の住人 lit. The People in Wonderland?) – Hisaishi Joe (3:20)
  6. Samishii samishii (さみしいさみしい lit. Lonely lonely?) – Kamayatsu Monsieur (3:41)
  7. Solitude (ソリチュード Sorichūdo?) – Suzuki Rieko and Kondo Hiroshi (3:49)
  8. Umi ( lit. The Sea?) – Hisaishi Joe (3:22)
  9. Shiroi Ryū (白い竜 lit. White Dragon?)Rikki (3:33)
  10. Chihiro no Waltz (千尋のワルツ Chihiro no Warutsu?, Chihiro's Waltz) – Hisaishi Joe (3:20)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ a ă Elley, Derek (ngày 18 tháng 2 năm 2002). “Sprited Away Review”. Variety (Reed Business Information). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  2. ^ Sudo, Yoko. “‘Frozen’ Ranks as Third-Biggest Hit in Japan”. Japan Realtime. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016. 
  3. ^ Sunada, Mami (Đạo diễn) (ngày 16 tháng 11 năm 2013). 夢と狂気の王国 [The Kingdom of Dreams and Madness] (Documentary) (bằng tiếng Nhật). Tokyo: Studio Ghibli. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014.  Interview with Toshio Suzuki
  4. ^ Turan, Kenneth (ngày 20 tháng 9 năm 2002). “Under the Spell of 'Spirited Away'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2012. 
  5. ^ “The 50 Best Movies of the Decade (2000–2009)”. Paste Magazine. Ngày 3 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ “Film Critics Pick the Best Movies of the Decade”. Metacritic. Ngày 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2012. 
  7. ^ “Top 100 Animation Movies”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2013. 
  8. ^ a ă â b c Miyazaki on Spirited Away // Interviews //. Nausicaa.net (2001-07-11). Truy cập 2011-05-25.
  9. ^ The Making of Hayao Miyazaki's "Spirited Away" – Part 1. Jimhillmedia.com. Truy cập 2011-05-25.
  10. ^ http://www.tenkai-japan.com/2010/05/29/notoya-in-ginzan-onsen-stop-businees-for-renovation/
  11. ^ a ă The Making of Hayao Miyazaki's "Spirited Away" – Part 3. Jimhillmedia.com. Truy cập 2011-05-25.
  12. ^ Ebert, Roger (ngày 20 tháng 9 năm 2002). “Spirited Away”. Chicago Sun-Times. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  13. ^ Mitchell, Elvis (ngày 20 tháng 9 năm 2002). “Movie Review - Spirited Away”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  14. ^ Turan, Kenneth (ngày 20 tháng 9 năm 2002). “Under the Spell of 'Spirited Away'. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  15. ^ Boyar, Jay (ngày 11 tháng 10 năm 2002). “`Spirited Away' -- A Magic Carpet Ride”. Orlando Sentinel. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  16. ^ “Best Animated Films – Spirited Away”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ “Spirited Away Movie Reviews”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012. 
  18. ^ “The Top 25 Animated Movies of All-Time”. IGN Entertainment. News Corporation. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. 
  19. ^ “The 100 Best Films Of World Cinema”. Empire.  Đã bỏ qua văn bản “ 10. Spirited Away ” (trợ giúp)
  20. ^ “Spirited Away - International Box Office Results”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2011. 
  21. ^ Johnson, G. Allen (ngày 3 tháng 2 năm 2005). “Asian films are grossing millions. Here, they're either remade, held hostage or released with little fanfare”. San Francisco Chronicle. 
  22. ^ Ball, Ryan (ngày 9 tháng 9 năm 2001). “Spirited Away Premieres At Toronto Int'l Film Fest”. Animation Magazine. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  23. ^ “Spirited Away Box Office and Rental History”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2006. 
  24. ^ “Spirited Away (2002)”. Box Office Mojo. Amazon.com accessdate = ngày 8 tháng 12 năm 2009. 
  25. ^ Reid, Calvin (ngày 28 tháng 4 năm 2003). 'Spirited Away' Sells like Magic”. Publisher's Weekly. 
Đọc thêm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]