Văn hóa Afanasievo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Văn hóa Afanasievo
Afanasevo provisional.png
Tên thay thếVăn hóa Afanasevo; Afanaseva
Phạm vi địa lýNam Siberia
Thời kỳThời kỳ đồng đá
Thời điểm3300 TCN - 2500 TCN
Major sitesBồn địa Minusinsk
Kế nhiệmVăn hóa Okunev, Văn hóa Andronovo[1]

Văn hóa Afanasievo hoặc văn hóa Afanasevo (tiếng Nga: Афанасьевская культура, chuyển tự Afanas'yevskaya kul'tura), là văn hóa khảo cổ sớm nhất đã biết ở nam Siberia, chiếm giữ lòng chảo Minusinskdãy núi Altai trong thời kỳ đồng đá, khoảng 3300 đến 2500 năm trước công nguyên. Nó được đặt tên theo một ngọn núi gần đó là núi Afanasieva (tiếng Nga: гора Афанасьева, nằm gần làng Bateni thuộc huyện Bograsky, cộng hòa Khakassia, Nga).[2]

David W. Anthony tin rằng người Afanasiev là hậu duệ của những người di cư vào khoảng 3700-3300 TCN trên thảo nguyên Á-Âu từ văn hóa Repin tiền Yamna của khu vực Don-Volga.[3] Do vị trí địa lý và niên đại của nó, Anthony và các học giả trước đó như Leo Klejn, J. P. Mallory và Victor H. Mair đã kết nối người Afanasiev với ngôn ngữ tiền Tochari (tiền Thổ Hỏa La). [4][5][6][7]

Niên đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hiểu biết khảo cổ học thông thường có xu hướng xác định niên đại vào khoảng năm 2000-2500 trước công nguyên (TCN). Tuy nhiên, cacbon phóng xạ xác định niên đại sớm nhất tới năm 3705 TCN trên các công cụ gỗ và tới năm 2874 TCN trên các di cốt người.[8] Niên đại sớm nhất trong số các con số này hiện đã bị bác bỏ, và người ta đưa ra niên đại khoảng năm 3300 TCN cho sự khởi đầu của văn hóa này.[9]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngôi mộ tập thể không phải là điều bình thường đối với nền văn hóa này.[10] Các nghĩa trang Afanasiev bao gồm cả chôn cất đơn lẻ và chôn cất tập thể nhóm nhỏ với người chết thường được uốn cong lưng trong hố chôn. Các hố chôn cất được bố trí thành hình chữ nhật, đôi khi hình tròn, rào quanh là các tường đá. Người ta cho rằng các hố chôn cất đại diện cho sơ đồ chôn cất gia đình với bốn hoặc năm rào quanh hợp thành một nhóm xã hội địa phương.

Nền kinh tế Afanasiev bao gồm gia súc, cừu và dê. Các di cốt ngựa, hoặc là hoang dã hoặc là thuần hóa, cũng đã được tìm thấy. Người Afanasev trở thành những người sản xuất thực phẩm đầu tiên trong khu vực. Các công cụ được chế tạo từ đá (rìu, đầu mũi tên), xương (lưỡi câu, mũi dùi) và gạc hươu nai. Trong số các vật làm từ gạc hươu nai là các đồ vật đã được xác định có thể là má của hàm thiết ngựa. Các trình diễn nghệ thuật về các xe cộ có bánh xe tìm thấy trong khu vực này được gán cho văn hóa Afanasievo. Các đồ trang trí bằng đồng, bạcvàng cũng đã được tìm thấy.[4]

Nhân loại học sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Tại núi Afanasieva, hai chủng vi khuẩn Yersinia pestis đã được chiết xuất từ răng người. Một có niên đại 2909-2679 TCN và một có niên đại 2887-2677 TCN. Cả hai đều từ cùng một ngôi mộ tập thể gồm bảy người, và được cho là gần như đương đại.[10] Các gen của các chủng này biểu hiện flagellin, gây ra phản ứng miễn dịch của người; vì vậy nó không phải là bệnh dịch hạch.[11]

Di truyền học[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu di truyền công bố tháng 6 năm 2015 trên tạp chí Nature bao gồm một phân tích về 4 phụ nữ từ văn hóa Afanasievo. Hai cá nhân mang nhóm đơn bội J2a2a, một mang T2c1a2 và một mang U5a1a1.[1][12] Các tác giả của nghiên cứu thấy rằng Afanasievo là "không thể phân biệt về mặt di truyền" với văn hóa Yamna.[1] Các kết quả chỉ ra rằng sự mở rộng của tổ tiên của người Afanasiev vào khu vực Altai được thực hiện thông qua "các cuộc di cư quy mô lớn và các thay thế dân số",[1] mà không có sự hỗn huyết với cư dân địa phương.[13][1] Người Afanasiev cũng được tìm thấy là có quan hệ họ hàng gần với văn hóa Poltavka.[13] Theo các tác giả của nghiên cứu này thì nghiên cứu đã củng cố thuyết cho rằng người Afansiev là người Ấn-Âu, có lẽ là tổ tiên của người Tochari.[1]

Trong nghiên cứu di truyền công bố trên tạp chí Science năm 2018, các di cốt của 24 cá nhân được coi là thuộc văn hóa Afanasievo đã được phân tích. Trong số 14 mẫu chiết xuất Y-DNA thì 10 thuộc về R1b1a1a2a2, 3 thuộc về Q1a2 và 1 thuộc về R1b1a1a2a. Tương ứng với mtDNA, phần lớn mẫu thuộc về phân nhánh U (cụ thể là các phân nhánh U5), mặc dù T, J, HK cũng được phát hiện. Các tác giả của nghiên cứu này trích dẫn các kết quả như là chứng cứ cho thấy văn hóa này đã nổi lên như là kết quả của sự di cư từ thảo nguyên Hắc Hải–Caspi.[14]

Các liên kết có thể có với các nền văn hóa khác[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì nhiều đặc điểm của nó được quy cho là của người Ấn-Âu sơ kỳ, như sử dụng kim loại, ngựa và xe cộ có bánh xe, và các mối quan hệ văn hóa với nền văn hóa thảo nguyên Kurgan, người Afanasiev được cho là đã nói tiếng Ấn-Âu.[4] Tuy nhiên, các nghiên cứu sinh-khảo cổ học tiên tiến chứng minh rằng văn hóa Afansievo bị thay thế bằng văn hóa Okunev bắt nguồn từ Siberia và trở thành tuyệt chủng cục bộ. Vì thế, không có kết nối giữa người Afansiev và người Tochari chỉ xuất hiện sau đó cả vài nghìn năm.[15]

Nhiều học giả đã gợi ý rằng nền văn hóa Afanasevo chịu trách nhiệm cho việc đưa luyện kim vào Trung Quốc.[16][17]

Kế tục[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Afanasievo đã được kế tục bởi văn hóa Okunev, được coi là phần mở rộng của văn hóa rừng không Ấn-Âu trong khu vực này.[4] Tuy nhiên văn hóa Okunev thể hiện những ảnh hưởng từ văn hóa Afanasievo.[1] Sau đó khu vực này đã lần lượt bị chiếm lĩnh bởi các văn hóa như Andronovo, Karasuk, TagarTashtyk.[18][19]

Nghiên cứu của Allentoft et al. (2015) cũng xác nhận rằng văn hóa Afanasievo đã bị thay thế bởi làn sóng di cư thứ hai của người Ấn-Âu từ văn hóa Andronovo trong thời kỳ đồ đồng muộn và thời kỳ đồ sắt sớm.[1][note 1] Các xác ướp Tarim cũng được tìm thấy là gần về mặt di truyền với văn hóa Andronovo hơn là với văn hóa Yamna hoặc văn hóa Afanasievo.[1][20]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ According to Allentoft and coauthors (2015): "Afanasievo culture persisted in central Asia and, perhaps, Mongolia and China until they themselves were replaced by fierce warriors in chariots called the Sintashta (also known as the Andronovo culture)".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Allentoft, M. E. (11 tháng 6 năm 2015). “Population genomics of Bronze Age Eurasia”. Nature (Nature Research) 522 (7555): 167–172. PMID 26062507. doi:10.1038/nature14507. 
  2. ^ Vadetskaya E., Polyakov A. & Stepanova N. (2014). The set sites of the Afanasievo culture. Barnaul: Azbuka. 
  3. ^ Anthony, David W. (26 tháng 7 năm 2010). The Horse, the Wheel, and Language: How Bronze-Age Riders from the Eurasian Steppes Shaped the Modern World (bằng tiếng Anh). Nhà in Đại học Princeton. tr. 307–310. ISBN 978-1400831104. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b Mallory, J. P. (1997). Encyclopedia of Indo-European Culture. Taylor & Francis. tr. 4–6. ISBN 1884964982. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ Anthony, David W. (26 tháng 7 năm 2010). The Horse, the Wheel, and Language: How Bronze-Age Riders from the Eurasian Steppes Shaped the Modern World. Nhà in Đại học Princeton. tr. 264–265, 308. ISBN 978-1400831104. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  6. ^ Mallory, J. P.; Mair, Victor H. (2000). The Tarim Mummies: Ancient China and the Mystery of the Earliest Peoples from the West. London: Thames & Hudson. 
  7. ^ Клейн Л. С. (Leo Klejn). Миграция тохаров в свете археологии. Stratum plus. Т. 2. С. 178-187.
  8. ^ Svyatko, S. (2009). “New Radiocarbon Dates and a Review of the Chronology of Prehistoric Populations from the Minusinsk Basin, Southern Siberia, Russia”. Radiocarbon 2009 (1): 243–273 & appendix I p. 266. doi:10.1017/S0033822200033798. 
  9. ^ Anthony, D. W. (2013). “Two IE phylogenies, three PIE migrations, and four kinds of steppe pastoralism” (PDF). Journal of Language Relationship 9: 1–21. doi:10.31826/jlr-2013-090105. 
  10. ^ a ă Rasmussen, S15-16. Các mẫu này được đánh dấu "RISE509" và "RISE511".
  11. ^ Rasmussen, 575.
  12. ^ Mathieson, Iain (21 tháng 2 năm 2018). “The Genomic History of Southeastern Europe”. Nature (Nature Research) 555 (7695): 197–203. PMC 6091220. PMID 29466330. doi:10.1038/nature25778. 
  13. ^ a ă Mathieson, Iain (23 tháng 11 năm 2015). “Genome-wide patterns of selection in 230 ancient Eurasians”. Nature (Nature Research) 528 (7583): 499–503. PMC 4918750. PMID 26595274. doi:10.1038/nature16152. 
  14. ^ Narasimhan, Vagheesh M. (6 tháng 9 năm 2019). “The formation of human populations in South and Central Asia”. Science (American Association for the Advancement of Science) 365 (6457): eaat7487. PMC 6822619. PMID 31488661. doi:10.1126/science.aat7487.  Đã bỏ qua tham số không rõ |biorxiv= (trợ giúp)
  15. ^ Hollard, Clémence; Zvénigorosky, Vincent; Kovalev, Alexey; Kiryushin, Yurii; Tishkin, Alexey; Lazaretov, Igor; Crubézy, Eric; Ludes, Bertrand; Keyser, Christine (2018). “New genetic evidence of affinities and discontinuities between bronze age Siberian populations”. Am. J. Phys. Anthropol. 167 (1): 97–107. PMID 29900529. doi:10.1002/ajpa.23607. 
  16. ^ Baumer, Christoph (11 tháng 12 năm 2012). The History of Central Asia: The Age of the Steppe Warriors. I.B. Tauris. tr. 122. ISBN 978-1780760605. 
  17. ^ Keay, John (1 tháng 10 năm 2009). China: A History. Basic Books. ISBN 978-0465020027. 
  18. ^ “Central Asian Arts: Neolithic and Metal Age cultures”. Encyclopædia Britannica Online. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ “Stone Age: European cultures”. Encyclopædia Britannica Online. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ Haak, Wolfgang (11 tháng 6 năm 2015). “Massive migration from the steppe was a source for Indo-European languages in Europe”. Nature (Nature Research) 522 (7555): 207–211. PMC 5048219. PMID 25731166. doi:10.1038/nature14317.