Các vụ thảm sát chống Cộng sản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Các vụ thảm sát chống cộng sản và các vụ việc được đề cập đến về sự giết hại hàng loạt những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, người bị cáo buộc là cộng sản, hoặc những người ủng hộ họ, được thực hiện bởi các chế độ tư bản cánh hữu, độc tài, phong kiến, đế quốc, thực dân, chủ nghĩa chống Cộng...

Khủng bố trắng[sửa | sửa mã nguồn]

Khủng bố trắng là những hành động bạo động của phong trào đối nghịch (thường là những người theo chủ nghĩa Quân chủ (phe Bảo hoàng) hay có tư tưởng Bảo thủ) để chống lại các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thế kỷ thứ 20 tại nhiều quốc gia khủng bố trắng được áp dụng chống lại những người có tinh thần Xã hội chủ nghĩa và những người Cộng sản hoặc chỉ bị nghi ngờ là thuộc những thành phần này. Ngoài ra đây cũng là những biện pháp được dùng bởi các thực dân hầu đập tan các cuộc đấu tranh giành lại Độc lập của nhiều dân tộc.

Khủng bố trắng từ cuộc cách mạng Nga nhắm tới thành phần những người Cộng sản và người Do Thái, được gọi chung là chống lại phe "Bolshevik Do Thái". Cuộc tấn công của Bạch Vệ của tướng Denikin vào Ukraina mùa hè 1919 dẫn tới nhiều cuộc khủng bố các người Do Thái sống ở đó, làm cho 150 ngàn người chết. Trong cuộc nội chiến Nga, ước tính khoảng 100.000 người Do Thái thiệt mạng trong cuộc tàn sát gây ra bởi lực lượng ly khai Ukraina cầm đầu bởi Symon Petlyura và lực lượng trắng do Anton Deniki.[1]

Đức Quốc xã[sửa | sửa mã nguồn]

Tù binh Liên Xô kiệt quệ trong trại tập trung Mauthausen.

Trong quá trình chiến tranh xâm lược Liên Xô, Đức quốc xã thi hành chính sách diệt chủng người Do Thái và người Slav tại những vùng chiếm đóng[2]. Mặt khác, tù binh Liên Xô bị cưỡng bức lao động với cường độ cao trong khi chế độ ăn uống tồi tệ, khiến nhiều người đã chết vì kiệt sức và đói khát. Những tù binh là Đảng viên hoặc chính trị viên có thể bị xử bắn ngay khi bị bắt bởi một mệnh lệnh được ban hành trước đó bởi Hitler nhằm tiêu diệt các đầu não chỉ huy và nguồn khích lệ chính trị của Hồng quân[3].

Hàng chục triệu Người Nga và các người Slav cũng bị giam cầm tại hơn 100 trại tập trung của Đức trên khắp các vùnh lãnh thổ châu Âu bị nước Đức Quốc xã chiếm đóng. Các trại lớn nhất là Dachau, Buchenwald, Ravensbrück, Auschwitz, Majdanek, Bergen Belsen, Gusen... Số người được giải phóng khỏi các trại này sau chiến tranh chỉ còn vài trăm nghìn. Ước tính khoảng 13,6 triệu thường dân Liên Xô đã chết trong cuộc chiến[4][5][6], cùng với đó là khoảng 3,3 triệu tù binh Liên Xô đã chết trong các trại tù binh của Đức)[7][8].

Tại Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Argentina - Chiến tranh bẩn thỉu[sửa | sửa mã nguồn]

"Chiến tranh bẩn thỉu" (Dirty War) đề cập đến phong trào bạo lực do nhà nước bảo trợ chống lại công dân Argentina từ khoảng năm 1976-1983 thực hiện chủ yếu bởi chính phủ quân sự của Jorge Rafael Videla.

Bắt đầu từ năm 1976, đợt thanh trừng được lãnh đạo bởi Videla cho đến năm 1981, và sau đó bởi Roberto Viola và Leopoldo Galtieri, đã chịu trách nhiệm về vụ bắt giữ bất hợp pháp, tra tấn, giết chết hoặc mất tích buộc hàng ngàn người, chủ yếu là công đoàn viên, sinh viên và các nhà hoạt động. Chế độ độc tài của Videla gọi đợt khủng bố của mình là "quá trình tái cơ cấu Quốc gia".

Lên đến 30.000 người đã bị mất tích trong thời gian này.[9] Lực lượng an ninh Argentina và quân đội cộng tác (tay trong tay) với chế độ độc tài khác ở Nam Mỹ. Chiến dịch này là một phần của một chiến dịch chống cộng rộng lớn hơn được gọi là Chiến dịch Condor, liên quan đến việc đàn áp và ám sát hàng ngàn nhà bất đồng chính kiến cánh tả và bị cáo buộc là cộng sản bởi các cơ quan tình báo phối hợp của các quốc gia Nam Mỹ, do nhà độc tài Pinochet (lãnh đạo Chile) và được hỗ trợ bởi Hoa Kỳ[10][11][12]

Một tòa án Argentina sau đó đã lên án tội ác của chính phủ như là tội ác chống lại nhân loại và tội diệt chủng.[13]

El Salvador[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm sát nông dân El Salvador 1932[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1932, một cuộc nổi dậy do những người cộng sản lãnh đạo chống lại chính phủ độc tài Maximiliano Hernández Martínez đã bị đàn áp dã man, dẫn đến cái chết của 30.000 nông dân.[14]

Nội chiến El Salvador[sửa | sửa mã nguồn]

Nội chiến El Salvador (1979 - 1992) là một cuộc xung đột giữa chính phủ quân phiệt El Salvador và liên minh gồm năm tổ chức du kích cánh tả được gọi chung là Mặt trận giải phóng dân tộc Farabundo Martí (FMLN). Một cuộc đảo chính vào ngày 15 tháng 10 năm 1979 đã dẫn đến việc giết chết những người biểu tình bởi các đội quân của chính phủ và nó được coi là điểm bùng phát trong cuộc nội chiến.[15]

Cuộc nội chiến toàn diện kéo dài hơn 12 năm và chứng kiến bạo lực cực đoan từ cả hai phía. Nó cũng bao gồm việc cố tình khủng bố và nhắm mục tiêu vào dân thường bởi các đội tử thần, tuyển dụng binh lính trẻ em và các vi phạm khác về nhân quyền, chủ yếu là của quân đội chính phủ.[16] Một số lượng người không xác định đã "biến mất" trong cuộc xung đột và Liên Hợp Quốc báo cáo rằng hơn 75.000 người đã thiệt mạng.[17] Hoa Kỳ đã góp phần vào cuộc xung đột bằng cách cung cấp một lượng lớn viện trợ quân sự cho chính phủ El Salvador dưới thời Tổng thống Mỹ Jimmy Carter[18] và Tổng thống Ronald Reagan.

Guatemala[sửa | sửa mã nguồn]

Massacres, forced disappearances, torture and summary executions of guerrillas and especially civilian collaborators of the communist[19] Guerrilla Army of the Poor at the hands of United States-backed security forces had been widespread since 1965. It was a longstanding policy of the military regime and known by United States officials.[20] A report from 1984 discussed "the murder of thousands by a military government that maintains its authority by terror".[21] Human Rights Watch described extraordinarily cruel actions by the armed forces, mostly against unarmed civilians.[22]

The repression reached genocidal levels in the predominantly indigenous northern provinces where guerrillas of the Guerrilla Army of the Poor operated. There, the Guatemalan military viewed the Maya, traditionally seen as subhumans, as being supportive of the guerillas and began a campaign of wholesale killings and disappearances of Mayan peasants. While massacres of Indigenous peasants had occurred earlier in the war, the systematic use of terror against the Indigenous population began around 1975 and peaked during the first half of the 1980s. An estimated 200,000 Guatemalan civilians were killed during the Guatemalan Civil War – 93% by government forces – including at least 40,000 persons who "disappeared". Of the 42,275 individual cases of killing and "disappearances" documented by the CEH, 83% of the victims were Maya and 17% Ladino meaning that by applying these proportions to the estimated 200,000 civilians killed and disappeared in the Guatemalan Civil War overall it can be inferred that up to 166,000 Maya and 34,000 Ladino were killed or disappeared in the genocide.[23]

Tại Chile[sửa | sửa mã nguồn]

Có vụ việc được gọi là "Lữ đoàn tử thần" (Caravan of Death) là một chiến dịch do một quân đội tiến hành, sau cuộc đảo chính Chile năm 1973, ra lệnh tiến hành hành quyết ít nhất 75 cá nhân trong Quân đội [24] Theo tổ chức phi chính phủ Justicia Memorial, quân đội đã giết 26 người ở miền Nam và 71 ở miền Bắc, tổng cộng lên đến 97 nạn nhân [25] Sau đó, Augusto Pinochet đã bị truy tố trong tháng 12 năm 2002 vì vụ việc này, nhưng ông ta qua đời bốn năm sau đó mà không hề bị phán xét. Tuy nhiên, tháng 9 năm 2007, nhiều sĩ quan quân đội khác và một giáo sĩ cựu quân nhân đã bị truy tố.

Ngoài ra, trong những ngày ngay sau cuộc đảo chính Chile đảo chính 1973, sân vận động quốc gia được sử dụng như một trại tập trung nắm giữ khoảng 40.000 tù nhân.[26] Một số trường hợp nổi tiếng nhất của "desaparecidos" là Charles Horman, một công dân Hoa Kỳ đã thiệt mạng trong cuộc đảo chính này,[27] Nhạc sĩ Chile Víctor Jara,cho biết nơi ít nhất có 70 người đã thiệt mạng.[28] Trong ba tháng đầu tiên sau cuộc đảo chính, số lượng người cánh tả được nghi ngờ bị giết hoặc "biến mất" (desaparecidos) sớm đạt vào con số hàng ngàn [29].

Sau thất bại Pinochet trong đơt trưng cầu dân ý năm 1988, năm 1991 Ủy ban Rettig, một nỗ lực đa bên từ chính quyền Patricio Aylwin để khám phá sự thật về những vi phạm nhân quyền, liệt kê một số bị tra tấn và các trung tâm giam dữ (như Colonia Dignidad, Colonia Dignidad, the ship Esmeralda hay Víctor Jara Stadium), và thấy rằng ít nhất 3.000 người đã thiệt mạng hoặc mất tích.

Tại Hungary[sửa | sửa mã nguồn]

Khủng bố trắng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cuốn "The Polish Captivity" của giáo sư Matveyev ở Đại học Quốc gia Moscow, Ba Lan đã bắt được 206.877 binh lính Hồng quân trong suốt cuộc Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921). Trong khi bị giam tại các trại của Ba Lan, binh lính Hồng quân đã bị đối xử vô nhân đạo, người bị thương không được cứu chữa, người thì bị chết đói hoặc chết vì giá lạnh, thậm chí bị tra tấn, nhục hình và ngược đãi. Nhà văn Xô Viết Alexander Serafimovich, sau là phóng viên đặc biệt cho tờ Izvestia và Pravda ở Ba Lan đã viết: "Sự tra tấn và nhục hình mà Hồng quân phải chịu làm cho thế giới phải rùng mình về sự tàn bạo mà quân đội Ba Lan đã áp dụng, vừa tra tấn vừa hô "diệt hết những con Chó Đỏ, những kẻ xâm lược Nga"[30].

Phía Ba Lan chỉ công nhận việc bắt giữ 80-110 nghìn tù binh, và có 18.000 tù binh Nga bị chết trong trại giam của họ. Tuy nhiên, theo tài liệu được bảo quản tại Lưu trữ Quân đội Trung ương Ba Lan (CAW) thì con số này không khớp. Giáo sư Matveyev đã chỉ ra quân đội Ba Lan đã bí mật giam giữ số lượng tù nhân thực tế vượt trên 150.000 người, và chỉ riêng trại giam Tuchola đã có khoảng 22.000 tù binh Hồng quân bị chết. Giáo sư Matveyev ước tính đã có khoảng 60.000 - 83.500 tù binh Nga đã chết trong trại giam Ba Lan, tương đương 30-40% số tù binh[30]

Tháng 9/1998, Tổng công tố Nga Yuri Chayka đã gửi thư cho Bộ trưởng Tư pháp Ba Lan yêu cầu tiến hành cuộc điều tra chính thức về cái chết của tù binh Nga bị bắt trong cuộc chiến do điều kiện sống cực khổ, vô nhân đạo. Phía Ba Lan đã bác bỏ đề nghị này. Đại sứ Nga Andreyev cho rằng Ba Lan không muốn dư luận hiểu sâu một số giai đoạn lịch sử mà Ba Lan là kẻ hiếu chiến, bởi "bất lợi, giữa kín càng lâu càng tốt"[30]

Tại Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Timor[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng cách phát đi những lời buộc tội chống cộng đối với các nhà lãnh đạo Mặt trận cách mạng vì một Đông Timor độc lập và gieo rắc bất hòa trong Liên minh Dân chủ Timor, chính phủ Indonesia đã thúc đẩy sự bất ổn ở Đông Timor và theo các nhà quan sát, đó là cái cớ để Indonesia xâm chiếm vùng này.[31] Trong quá trình Indonesian xâm chiếm Đông Timor và áp đặt sự chiếm đóng, quân đội Indonesian đã giết hại hoặc làm chết đói 150.000 người[32][33][34] Đông Timor, tương đương 1/5 dân số của vùng này. Đại học Oxford đã tổ chức một sự đồng thuận học thuật gọi đây là cuộc diệt chủng Đông TimorĐại học Yale đã giảng dạy nó như là một phần của chương trình Nghiên cứu diệt chủng của trường này.[35][36]

Những vụ tàn sát năm 1965-1966[sửa | sửa mã nguồn]

Các vụ giết người tại Indonesia 1965-1966 là một cuộc thanh trừng chống cộng sản sau một cuộc đảo chính không thành công ở Indonesia. Ước tính được chấp nhận rộng rãi nhất là hơn nửa triệu người đã thiệt mạng. Các cuộc thanh trừng là một sự kiện quan trọng trong quá trình chuyển đổi các "thứ tự mới"; Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) đã bị loại bỏ như là một lực lượng chính trị và các biến động dẫn đến các sự sụp đổ của Tổng thống Sukarno, và bắt đầu thời kỳ cầm quyền 30 năm của tổng thống Suharto.

Các vụ giết người được bỏ qua trong hầu hết các sách lịch sử của Indonesia, và đã nhận được nội tâm bởi dân Indonesia và tương đối ít sự chú ý của quốc tế. Giải thích thỏa đáng cho các quy mô và điên cuồng của bạo lực đã thách thức các học giả từ tất cả các quan điểm ý thức hệ. Khả năng quay trở lại với biến động tương tự được trích dẫn là một yếu tố bảo thủ chính trị "Trật tự mới" chính quyền và kiểm soát chặt chẽ của hệ thống chính trị. Cảnh giác chống lại một mối đe dọa cộng sản nhận thức vẫn còn là một dấu hiệu của tổng thống Suharto ba mươi năm. Ở phương Tây, những vụ giết người và những cuộc thanh trừng này ở Indonesia lại được miêu tả như là một chiến thắng to lớn đối với phong trào cộng sản ở đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh.

Các vụ thảm sát bắt đầu vào tháng 10 năm 1965 trong những tuần lễ sau các âm mưu đảo chính, và đạt đến đỉnh cao trong phần còn lại của năm trước khi chuyển qua những tháng đầu năm 1966. Các cuộc thanh trừng bắt đầu ở thủ đô Jakarta, lan đến Trung và Đông Java, và sau đó Bali. Hàng nghìn dân quân địa phương và các đơn vị quân đội giết chết những người bị cáo buộc là cộng sản. Mặc dù các vụ giết người xảy ra trên khắp Indonesia, cuộc thanh trừng tồi tệ nhất lại diễn ra trong các căn cứ địa của PKI ở Trung Java, Đông Java, Bali, và phía bắc Sumatra. Có thể có hơn một triệu người đã bị giam cầm. Khoảng 500 nghìn tới 1 triệu người bị cho là có liên hệ với Đảng Cộng sản Indonesia đã bị giết hại[37]

Tại Trung Hoa Dân quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chính biến Thượng Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chính phủ Quốc dân đảng bắt giữ những người bị buộc tội là đảng viên Cộng sản.

ưởng Giới Thạch sau thời gian ở Liên Xô đã trở nên căm ghét chủ nghĩa cộng sản. Ông hủy bỏ chính sách Liên minh với Nga của Tôn Trung Sơn. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, bùng phát sự kiện Tứ Nhất Nhị tại Thượng Hải khi Tưởng Giới Thạch phát động chính biến tiêu diệt các đảng viên cộng sản, gọi là Thảm sát Thượng Hải[38][39]. Sau vụ việc, Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã tiến hành một cuộc thanh trừng toàn diện những người cộng sản ở tất cả các khu vực dưới sự kiểm soát của họ, và thậm chí sự tàn sát dữ dội hơn đã xảy ra ở các thành phố như Quảng ChâuTrường Sa[40] Cuộc thanh trừng đã dẫn đến một sự chia rẽ công khai giữa cánh tả và cánh hữu của Quốc dân đảng, với Tưởng Giới Thạch tự đặt mình là thủ lĩnh của phe cánh hữu tại Nam Kinh.

Trước bình minh ngày 12 tháng 4, thành viên các băng đảng do Quốc dân đảng chỉ huy đã bắt đầu tấn công các văn phòng do các nhân viên công đoàn kiểm soát, bao gồm Zhabei, Nanshi và Pudong. Theo sắc lệnh khẩn cấp, Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho Quân đoàn 26 tấn công dân quân của công nhân, khiến hơn 300 người thiệt mạng và bị thương. Các công nhân công đoàn đã tổ chức một cuộc họp quần chúng để tố cáo Tưởng vào ngày 13 tháng 4 và hàng ngàn công nhân và sinh viên đã đến trụ sở của Sư đoàn 2 của Quân đoàn 26 để phản đối. Các binh sĩ đã nổ súng, giết chết 100 người và làm nhiều người khác bị thương. Tưởng đã giải tán chính phủ lâm thời Thượng Hải, tấn công các công đoàn lao động và tất cả các tổ chức khác dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản. Hơn 1.000 người cộng sản đã bị bắt, khoảng 300 người đã bị xử tử và hơn 5.000 người mất tích.[41]

Chính phủ Quốc dân đảng tại Vũ Hán của Uông Tinh Vệ cũng bắt đầu thanh trừng dữ dội những người Cộng sản. Hơn 10.000 người cộng sản ở Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Nam Kinh, Hàng Châu và Trường Sa đã bị bắt và xử tử trong vòng 20 ngày. Liên Xô chính thức chấm dứt hợp tác với Quốc dân đảng. Chính phủ Quốc gia Vũ Hán sớm tan rã, để Tưởng Giới Thạch trở thành nhà lãnh đạo duy nhất của Quốc dân đảng. Trong một năm, hơn 300.000 người đã bị giết trên khắp Trung Quốc trong các chiến dịch tàn sát đảng viên Cộng sản do Quốc Dân Đảng thực hiện.[42]

Nội chiến Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc nội chiến Trung Quốc, phe chống Cộng là Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã giết chết 1.131.000 binh sĩ trước khi tham chiến trong các chiến dịch bắt buộc. Ngoài ra, phe Quốc dân đảng đã tàn sát trên 1 triệu dân thường trong cuộc nội chiến.[43]

Chính biến 228 và Khủng bố trắng ở Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 8h sáng ngày 18 tháng 3 năm 1946, Tưởng Kinh Quốc đến Cơ Long, lần đầu tiên đặt chân lên đất Đài Loan, do Tư lệnh Sử Hoành Hi đi cùng thị sát[44]:8315. Tháng 2 năm 1947, Tưởng Giới Thạch tuần thị Từ Châu, Trịnh Châu, đều trở về Nam Kinh trong ngày; ngày 28 tháng 2, Đài Loan phát sinh sự kiện náo loạn. Mâu thuẫn được châm ngòi vào ngày 27/2/1947 khi cảnh sát bắn chết một phụ nữ trong chiến dịch truy quét thuốc lá lậu. Tưởng Giới Thạch tuyên bố phương châm xử lý là không khoan nhượng[45]:50 và gửi lực lượng đến hỗ trợ toàn quyền Đài Loan Trần Nghi trấn áp các cuộc nổi dậy.

“Sự kiện 228” là trang sử đen tối nhất của người dân đảo Đài Loan

Trong cuộc trấn áp, quân đội Tưởng Giới Thạch đã thảm sát hàng chục ngàn người. Sau khi hoàn thành việc tái chiếm Đài Loan, Toàn quyền Trần Nghi tiến hành một chiến dịch thanh trừng đẫm máu với việc bắt giữ, tra tấn và cả thủ tiêu bất cứ ai nghi vấn tham gia làm loạn hay có hành động chống lại Quốc dân đảng. Các trường học có sinh viên, học sinh tham gia làm loạn đều bị đóng cửa vô thời hạn. Sinh viên, học sinh tham gia làm loạn đều bị bắt giữ, tra tấn, xử tù và thủ tiêu. Doanh nhân, công nhân tham gia làm loạn cũng chịu chung số phận. Tài sản của họ đều bị tịch thu, cha mẹ, con cái đều bị quản thúc.

Đến ngày nay, vẫn chưa có thống kê chính xác về số người thiệt mạng trong các cuộc trấn áp và truy quét, ước chừng từ 18.000 - 28.000 người, có số liệu khác cho rằng số người thiệt mạng là hơn 30.000 người. Tưởng Giới Thạch có ra lệnh tàn sát dân chúng hay không vẫn luôn là câu hỏi của nhiều người. Sự kiện này được lịch sử ghi lại bằng cái tên “Sự kiện 28 tháng 2[46]

"Khủng bố Trắng" ở Đài Loan diễn ra từ 1947 đến 1987.[47] Khoảng 140.000 người Đài Loan đã bị cầm tù trong thời gian này, trong đó có khoảng 3.000 đến 4.000 người bị xử tử vì sự chống đối với chính phủ Trung Quốc Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo.[48] Tuy nhiên, hầu hết các vụ truy tố thực tế diễn ra vào năm 1950-1953. Phần lớn những người bị truy tố đã bị ]] cho là "Bọn côn đồ gián điệp" (匪諜), có nghĩa là gián điệp cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, và bị trừng phạt.

Quốc dân Đảng đã bỏ tù hầu hết giới tinh hoa và trí thức xã hội của Đài Loan vì sợ rằng họ có thể chống lại sự cai trị của Quốc dân Đảng hoặc có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản.[48] Vào năm 1969, tổng thống tương lai Lý Đăng Huy đã bị cơ quan mật vụ Đài Loan bắt giữ và thẩm vấn trong hơn một tuần, tra khảo về "các hoạt động cộng sản" của ông và đã nói với ông rằng "giết ông vào lúc này cũng dễ như nghiền nát một con kiến đến chết"[49]

Tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm sát tại cuộc nổi dậy Jeju[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Jeju

Khởi nghĩa Jeju (Hangul: 제주 4·3 사건, chữ Hán: 濟州四三事件, nghĩa là 'sự kiện 3 tháng 4 tại Jeju') là một cuộc khởi nghĩa trên đảo Jeju tại Nam Triều Tiên/Hàn Quốc kéo dài từ ngày 3 tháng 4 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949.[50][51]:139, 193 Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khởi nghĩa là cuộc bầu cử dự kiến vào ngày 10 tháng 5 năm 1948 theo kế hoạch của Ủy ban Lâm thời Liên Hiệp Quốc tại Triều Tiên (UNTCOK) nhằm hình thành một chính phủ mới cho toàn thể Triều Tiên. Tuy nhiên, bầu cử chỉ được lên kế hoạch tổ chức tại miền nam của Triều Tiên, trong khi không được tổ chức ở miền Bắc vì Liên Xô và chính quyền miền Bắc tẩy chay cuộc bầu cử. Trước cuộc bầu cử riêng rẽ ở phía Nam, các chiến binh du kích của Đảng Lao động Nam Triều Tiên (SKLP - một đảng anh em với Đảng Lao động Triều Tiên ở miền Bắc) đã phản ứng kịch liệt, tiến hành cuộc nổi dậy trên đảo Jeju.[50][51]:166–167

Người chỉ huy lực lượng cảnh sát trên đảo là Trung tướng Kim Ik-ryeo nỗ lực nhằm kết thúc khởi nghĩa trong hòa bình bằng cách đàm phán với quân nổi dậy. Ông họp vài lần với thủ lĩnh Kim Dal-sam của SKLP song hai bên đều không nhất trí về các điều khoản. Chính phủ muốn quân nổi dậy đầu hàng hoàn toàn, còn quân nổi dậy yêu cầu cảnh sát địa phương giải trừ quân bị, miễn nhiệm toàn bộ quan chức trên đảo, cấm chỉ các tổ chức thanh niên bán quân sự trên đảo và tái thống nhất đất nước Triều Tiên.[50][51]:174

Giao tranh tiếp tục sau khi đàm phán thất bại, Chính phủ Hàn Quốc đáp trả hoạt động du kích bằng cách triển khai các đại đội cảnh sát, mỗi đại đội có 1.700 người, từ các tỉnh miền nam đến Jeju.[51]:168 Ngày 17 tháng 11 năm 1948, Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật nhằm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong giai đoạn này, Quân đội Nam Triều Tiên tham gia các hành động tàn bạo, một báo cáo mô tả sự kiện vào ngày 14 tháng 12 năm 1948 khi Quân đội Hàn Quốc tấn công làng, bắt giữ nhiều nam nữ thanh thiếu niên, hiếp dâm tập thể các nữ thanh thiếu niên trong hai tuần lễ và hành quyết họ cùng các nam thanh niên.[52]

Hài cốt những người bị quân Hàn Quốc tàn sát tại động Daranshi tại Jeju

Ngày 1 tháng 1 năm 1949, du kích khởi nghĩa phát động cuộc tấn công cuối cùng chống quân đội Hàn Quốc nhưng thất bại.[51]:184–185 Quân đội Nam Triều Tiên truy kích các du kích quân và tiếp tục thực hiện các hành động tàn bạo, như tàn sát dân làng.[51]:186:58[53]:36 Chính phủ Hàn Quốc lúc này kiên quyết tiêu diệt tàn quân du kích, họ phát động một chiến dịch tiệt trừ trong tháng 3 năm 1949. Trong chiến dịch, 2.345 du kích quân và 1.668 thường dân bị giết.[51]:189

Hành động đàn áp tàn bạo của cảnh sát và quân đội Hàn Quốc dưới quyền kiểm soát của chính phủ Hoa Kỳ do James A. Casteel lãnh đạo, người chỉ huy lực lượng an ninh Jeju[54] Truyền thông Hoa Kỳ đưa ra tài liệu và công khai vụ tàn sát song quân đội Hoa Kỳ làm ngơ[55] Quân đội Hoa Kỳ sau đó gọi việc phá hủy hoàn toàn làng Jungsangan - tai họa lớn nhất trong sự kiện - là một "chiến dịch thành công".[56]

Nhìn chung, quân đội Hàn Quốc đã đàn áp vụ khởi nghĩa một cách đặc biệt tàn nhẫn.[50][51]:171[53]:13–14 Kết quả là khoảng 30.000 người thiệt mạng do khởi nghĩa, chiếm khoảng 10% dân số của đảo.[51]:195[53]:12 Khoảng 40.000 người khác phải sang Nhật Bản lánh nạn.[50][52]

Thảm sát tù nhân và thường dân trong chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Tiều Tiên, các lực lượng bán quân sự và cảnh sát, quân đội Hàn Quốc, thường có sự chứng kiến của giới quân sự Hoa Kỳ và những người không bị xét xử, đã hành quyết hàng chục ngàn tù nhân cánh tả và những người có cảm tình với Bắc Triều Tiên trong những sự kiện như vụ tàn sát tù nhân chính trị của Nhà tù Daejeon và cuộc đàn áp đẫm máu trong vụ Thảm sát Jeju.

Ngay trong ngày nổ ra chiến tranh, 28/6/1950, tổng thống Lý Thừa Vãn của Hàn Quốc ra lệnh tử hình toàn bộ tù nhân chính trị, bao gồm cả những người bất đồng chính kiến với Lý Thừa Vãn. Họ bị gom hết vào tội danh "ủng hộ Cộng sản" (dù thực tế phần lớn số này không phải là đảng viên Cộng sản mà chỉ tỏ ra chống đối chế độ Lý Thừa Vãn). Đầu tiên là tại trại tù ở đảo Jeju cực nam Hàn Quốc, nơi các tù chính trị phạm được chia làm bốn loại là A, B, C, D, tù chính trị phạm thuộc nhóm C, D bị xử bắn lập tức theo lệnh "Hành hình toàn bộ các tù nhân thuộc nhóm C,D bằng cách xử bắn không muộn hơn ngày 6 tháng 9 (năm 1950)" của Lý Thừa Vãn. Trên quy mô toàn quốc, tất cả tù chính trị, nghi can có liên hệ với Đảng Lao động Triều Tiên trên toàn quốc, đặc biệt tại trại cải tạo Bodo League (보도연맹 사건), bị tử hình lập tức bằng mọi cách mà không có bất kì phiên tòa, phiên xét xử nào.Tù nhân bị xử bắn tập thể, hầu hết bị tống xuống hố chôn tập thể, một số bị dùng báng súng đập chết hoặc bị quăng xuống biển. Nhiều đối thủ chính trị, gia đình các tù Cộng sản, chính trị phạm bao gồm cả trẻ em cũng bị đưa vào danh sách tử hình, bản án được các binh sĩ Hàn Quốc thực thi triệt để. Gregory Henderson, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Triều Tiên vào thời điểm đó, đưa ra con số tổng cộng là 100.000 người đã bị Hàn Quốc hành quyết, và xác chết của những người này bị quăng vào các hố chôn tập thể.[57]

Lính Hàn Quốc xử bắn hàng loạt dân thường ở Daejon, tháng 7/1950. Ảnh được chụp bởi U.S. Army Major Abbott.

Quân đội Hàn Quốc bị cáo buộc đã thảm sát hàng trăm nghìn lính Bắc Triều Tiên và Trung Hoa, trong đó rõ ràng nhất là cuộc thảm sát 1.800 tù nhân chính trị do quân đội miền Nam Triều Tiên thực hiện tại Daejeon, trong ba ngày của tháng 7/1950. Các nhà sử học và nhân chứng sống sót khẳng định binh lính Hàn Quốc đã hành quyết nhiều thường dân khi các lực lượng của Liên Hợp Quốc rút lui trước cuộc tấn công của quân đội Bắc Triều Tiên vào giữa năm 1950. Những nạn nhân này bị tình nghi có cảm tình với Bắc Triều Tiên và có thể cộng tác với đối phương nên bị xử bắn.[58]

Sau khi tái chiếm lại Nam Triều Tiên vào năm 1950, Lý Thừa Vãn ra lệnh tiến hành thảm sát hàng loạt những người dân bị tình nghi ủng hộ Bắc Triều Tiên, gây ra Thảm sát Bodo League (giết chết 100.000[59][cần số trang] tới 200.000[60] người), diễn ra suốt mùa hè năm 1950. Đây là một trong những vụ thảm sát lớn nhất châu Á kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Gần đây, Ủy ban Hòa giải và Tìm sự thật của Hàn Quốc đã nhận được các báo cáo của hơn 7.800 vụ tàn sát dân sự trong 150 địa điểm khắp đất nước nơi các vụ tàn sát dân sự tập thể xảy ra trước và trong suốt cuộc chiến. Theo nhà lịch sử Kim Dong-choon, những vụ tàn sát tập thể này là "chương tàn bạo và kinh hoàng nhất cuộc chiến Triều Tiên". Ủy ban Hòa giải và Tìm hiểu sự thật ước tính ít nhất 100.000 người đã bị hành quyết. Những ước tính này dựa trên các cuộc khảo sát của các địa phương và theo ông Kim, con số thực sự có thể cao gấp hai lần và hơn thế.[61] Trong những vụ khác, quân đội Hàn Quốc cũng đã cho phá hủy một số cây cầu có đông nghẹt các thường dân đang bỏ chạy khi họ không thể nào giải tỏa những cây cầu đó trước khi quân địch đến.

Thảm sát Quang Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa trang Mangwol-dong ở Gwangju, thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju được chôn cất ở đây.

Năm 1980, Chung Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Ngày 18/5/1980 đã xảy ra vụ nổi dậy Gwangju khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chung Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên địa phương. Quân đội Hàn Quốc đã được điều động đến và được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân[62][63], mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chung Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Sau này, ông ta bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân).

Trong suốt thời kỳ Chun Doo-hwan cầm quyền, sự kiện "18 tháng 5" bị vu cáo là "cuộc phản loạn của những người ủng hộ và đi theo chủ nghĩa Cộng sản". Chỉ sau khi luật dân sự được tái lập, sự kiện này mới được coi là một nỗ lực phục hồi nền dân chủ trước quyền lực quân sự. Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức gửi lời xin lỗi và xây dựng một nghĩa trang quốc gia dành cho các nạn nhân.[64][65]

Tại Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

In Spain, the White Terror (or the "Francoist Repression") refers to the atrocities committed by the Nationalists during the Spanish Civil War as well as the atrocities that were committed afterwards in Francoist Spain.[66]

Most historians agree that the death toll of the White Terror was higher than that of the Red Terror. While most estimates of Red Terror deaths range from 38,000[67] to 55,000,[68] most estimates of White Terror deaths range from 150,000[69] to 400,000.[70]

Concrete figures do not exist because many communists and socialists fled Spain after losing the Civil War. Furthermore, the Francoist government destroyed thousands of documents related to the White Terror[71][72][73] and tried to hide evidence which revealed its executions of the Republicans.[74][75] Thousands of victims of the White Terror are buried in hundreds of unmarked common graves, more than 600 in Andalusia alone.[76] The largest common grave is that at San Rafael cemetery on the outskirts of Malaga (with perhaps more than 4,000 bodies).[77] The Association for the Recovery of Historical Memory (Asociación para la Recuperación de la Memoria Historica or ARMH)[78] says that the number of disappeared is over 35,000.[79]

According to the Platform for Victims of Disappearances Enforced by Francoism, 140,000 people were missing, including victims of the Spanish Civil War and the subsequent Francoist Spain.[80][81] It has come to mention that Spain is the second country in the world in number of disappeared whose remains have not been recovered nor identified after Cambodia.[82]

Tại Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

The Thai military government and its Communist Suppression Operations Command (CSOC), helped by the Royal Thai Army, the Royal Thai Police and paramilitary vigilantes, reacted with drastic measures to the insurgency of the Communist Party of Thailand during the 1960s and 1970s. The anti-communist operations peaked between 1971 and 1973 during the rule of Field Marshal Thanom Kittikachorn and General Praphas Charusathien. According to official figures, 3,008 suspected communists were killed throughout the country.[83] Alternative estimates are much higher. These civilians were usually killed without any judicial proceedings.

A prominent example was the so-called "Red Drum" or "Red Barrel" killings of Lam Sai, Phatthalung Province, Southern Thailand, where more than 200 civilians[83] (informal accounts speak of up to 3,000)[84][85] who were accused of helping the communists were burned in red 200-litre oil drums, sometimes after having been killed to dispose of their bodies and sometimes burned alive.[85] The incident was never thoroughly investigated and none of the perpetrators was brought to justice.[86]

After three years of civilian rule following the October 1973 popular uprising, at least 46 leftist students and activists who had gathered on and around Bangkok's Thammasat University campus were massacred by police and right-wing paramilitaries on 6 October 1976. They had been accused of supporting communism. The mass killing followed a campaign of violently anti-communist propaganda by right-wing politicians, media and clerics, exemplified by the Buddhist monk Phra Kittiwuttho's claim that killing communists was not sinful.[87][88]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Benjamin Valentino ước tính quân đội Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã gây ra 110.000–310.000 vụ thảm sát hàng loạt trong các chiến dịch truy quét du kích trong chiến tranh Việt Nam.[89]

Neil Sheehan, trong sách "Sự lừa dối hào nhoáng, viết rằng:

Hai năm trước tôi biết ít nhất hàng chục làng khác bị gạch khỏi bản đồ như năm thôn ấp tôi thấy dọc bờ biển và 25 làng khác bị thiệt hại nghiêm trọng. Năm 1967, Schell phát hiện ra 70% trong số 450 làng trong tỉnh hoàn toàn bị tiêu diệt. Trừ một số thôn ấp dọc đường số 1 quân tuần tra lúc đi lúc không, mặc nhiên sự tàn phá phát triển với một nhịp điệu dồn dập. Ngày này qua ngày khác, ngồi trên chiếc máy bay nhỏ Schell chứng kiến sự bắn phá của trọng pháo và rốc két từ trực thăng chiến đấu cùng những đám cháy bùng lên do lính bộ binh Mỹ đốt phá...

Từ khi lực lượng Oregon đến, các bệnh viện tiếp nhận bình quân mỗi ngày ba mươi dân thường bị thương. Một bác sĩ tình nguyện Anh đã làm việc ở Quảng Ngãi hơn ba năm tâm sự với Schell: tổng số nạn nhân dân thường, bao gồm chết và bị thương hàng năm lên đến 50.000 người trong tỉnh. Tom Thayer chỉ đếm số người nhận vào bệnh viện đã tới con số 33.000...

Không có lý do gì lính Mỹ cho rằng mạng sống của những người nông dân Việt Nam là quan trọng. Họ trở nên tàn ác hơn vì vòng quay bạo lực ngu ngốc của cuộc chiến tranh toàn diện của tướng Westmoreland. Lòng đầy thù hận vì bạn bè họ chết hoặc bị thương do mìn, bẫy của kẻ thù và các đồng minh nông dân, rất tự nhiên họ (lính Mỹ) xem những người Việt Nam ở nông thôn như một loại sâu bọ cần tận diệt.[90]

Nick Turse, trong sách "Giết mọi thứ di động, lập luận rằng: việc không ngừng tìm kiếm nhiều hơn số xác chết để báo cáo thành tích, việc sử dụng lan tràn vùng tự do bắn phá, thường dân có thể bị xem là du kích, và thái độ khinh miệt phổ biến dành cho thường dân Việt Nam đã dẫn đến thương vong lớn và tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ.[91] Một ví dụ là Chiến dịch Speedy Express, được mô tả bởi John Paul Vann, là một vụ thảm sát còn ghê gớm gấp nhiều lần Thảm sát Mỹ Lai.[91] Cụ thể hơn:

Đại úy không quân, Brian Wilson, thực hiện ném bom vào vùng tự do bắn phá, nhận thấy những kết quả đầu tiên: "Đó là hình ảnh thu nhỏ của sự vô đạo đức... Một trong những lần tôi đếm số xác chết sau khi không kích kết thúc với hai quả bom napalm, thứ sẽ đốt cháy tất cả mọi thứ, tôi đếm được 62 thi thể. Trong báo cáo của tôi, tôi mô tả họ gồm rất nhiều phụ nữ ở khoảng 15 tới 25 tuổi và rất nhiều trẻ em - thường nằm chết trong vòng tay người mẹ hoặc chị, và rất nhiều người già." Thế nhưng sau khi đọc báo cáo chính thức, Wilson lại thấy những thi thể thường dân này được quân đội Mỹ liệt kê là 130 binh lính địch bị giết.[92]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McGraw-Hill bách khoa toàn thư của Nga và Liên Xô Michael T. Florinsky. Books.google.com. 2009/03/11.Lấy 2009/07/22
  2. ^ Rossiiskaia Akademiia nauk. Liudskie poteri SSSR v period vtoroi mirovoi voiny:sbornik statei. Sankt-Peterburg 1995 ISBN 978-5-86789-023-0.
  3. ^ Förster, Jürgen (1989). "The Wehrmacht and the War of Extermination Against the Soviet Union (pages 492–520)". In Michael Marrus. The Nazi Holocaust Part 3 The "Final Solution": The Implementation of Mass Murder Volume 2. Westpoint, CT: Meckler Press. ISBN 978-0-88736-255-2, page 273
  4. ^ G. I. Krivosheev Rossiia i SSSR v voinakh XX veka: Poteri vooruzhennykh sil; statisticheskoe issledovanie OLMA-Press, 2001 ISBN 5-224-01515-4 Tables 116-118
  5. ^ Российская академия наук (Russian Academy of Sciences). Людские потери СССР в период второй мировой войны: рник стсбоатей (Human Losses of the USSR in the Period of WWII: Collection of Articles). Saint-Petersburg, 1995. ISBN 978-5-86789-023-0
  6. ^ Perrie, Maureen (2006), The Cambridge History of Russia: The twentieth century, Cambridge University Press, p. 226, ISBN 0-521-81144-9 Total civilian deaths under the German occupation were 13.7 million including 2 million Jews
  7. ^ G. I. Krivosheev Rossiia i SSSR v voinakh XX veka: Poteri vooruzhennykh sil; statisticheskoe issledovanie OLMA-Press, 2001 ISBN 5-224-01515-4 Table 120
  8. ^ G. I. Krivosheev. Soviet Casualties and Combat Losses. Greenhill 1997 ISBN 978-1-85367-280-4 Page 85
  9. ^ PBS News Hour, 16 Oct. 1997, et al. Argentina Death Toll, Twentieth Century Atlas
  10. ^ Blakeley, Ruth (2009). State Terrorism and Neoliberalism: The North in the South. Routledge. tr. 22 & 23. ISBN 0415686172. 
  11. ^ Mark Aarons (2007). "Justice Betrayed: Post-1945 Responses to Genocide." In David A. Blumenthal and Timothy L. H. McCormack (eds). The Legacy of Nuremberg: Civilising Influence or Institutionalised Vengeance? (International Humanitarian Law). Martinus Nijhoff Publishers. ISBN 9004156917 pp. 71
  12. ^ McSherry, J. Patrice (2011). “Chapter 5: "Industrial repression" and Operation Condor in Latin America”. Trong Esparza, Marcia; Henry R. Huttenbach; Daniel Feierstein. State Violence and Genocide in Latin America: The Cold War Years (Critical Terrorism Studies). Routledge. tr. 107. ISBN 0-415-66457-8. 
  13. ^ La Nación, ngày 19 tháng 9 năm 2006. Condenaron a Etchecolatz a reclusión perpetua.
  14. ^ Cold War's Last Battlefield, The: Reagan, the Soviets, and Central America by Edward A. Lynch State University of New York Press 2011, p. 49.
  15. ^ Wood, Elizabeth (2003). Insurgent Collective Action and Civil War in El Salvador. Cambridge: Cambridge University Press. 
  16. ^ Larsen, Neil (2010). “Thoughts on Violence and Modernity in Latin America”. Trong Grandin & Joseph, Greg & Gilbert. A Century of Revolution. Durham and London: Duke University Press. tr. 381–393. 
  17. ^ "Report of the UN Truth Commission on El Salvador" United Nations, 1 April 1993
  18. ^ Uppsala Conflict Data Program Conflict Encyclopedia, El Salvador, In Depth: Negotiating a settlement to the conflict, http://www.ucdp.uu.se/gpdatabase/gpcountry.php?id=51&regionSelect=4-Central_Americas#, "While nothing of the aid delivered from the US in 1979 was earmarked for security purposes the 1980 aid for security only summed US$6,2 million, close to two-thirds of the total aid in 1979", viewed on 24 May 2013
  19. ^ McAllister2010, tr. 280-281.
  20. ^ Group says files show U.S. knew of Guatemala abuses. The Associated Press via the New York Daily News, 19 March 2009. Retrieved 29 October 2016.
  21. ^ Guatemala: A Nation of Prisoners, An Americas Watch Report, January 1984, pp. 2–3.
  22. ^ “Human Rights Testimony Given Before the United States Congressional Human Rights Caucus” (Thông cáo báo chí). Human Rights Watch. 16 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 
  23. ^ 83% of the "fully identified" 42,275 civilians killed by human rights violations during the Guatemalan Civil War were Mayan and 17% Ladino. This estimate come from applying the 83% and 17% proportions to the 200,000 disappeared and killed during total war < See CEH 1999, tr. 17, and “Press Briefing: Press conference by members of the Guatemala Historical Clarification Commission”. United Nations. 1 tháng 3 năm 1999. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2016. 
  24. ^ Chile priest charged over deaths, BBC, 1st September 2007 (English)
  25. ^ Caravan of Death, Memoria y Justicia (English)
  26. ^ “El campo de concentración de Pinochet cumple 70 años”. EL PAÍS. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ “New Information on the Murders of U.S. Citizens Charles Horman and Frank Teruggi by the Chilean Military”. Truy cập 12 tháng 8 năm 2016. 
  28. ^ “BBC NEWS”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/americas/1109861.stm
  30. ^ a ă â http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/sat-hai-tu-binh-lien-xo-trong-cuoc-chien-voi-ba-lan-3328711/?paged=2
  31. ^ Dunn, p. 78; Budiadjo and Liong, p. 5; Jolliffe, pp. 197–198; Taylor (1991), p. 58. Taylor cites a September CIA report describing Indonesian attempts to "provoke incidents that would provide the Indonesians with an excuse to invade should they decide to do so".
  32. ^ Kiernan, p. 594.
  33. ^ http://www.cdi.org/dm/issue1/index.html[liên kết hỏng]
  34. ^ http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB14.1C.GIF
  35. ^ Payaslian, Simon. “20th Century Genocides”. Oxford bibliographies. 
  36. ^ “Genocide Studies Program: East Timor”. Yale.edu. 
  37. ^ John Roosa and Joseph Nevins (ngày 5 tháng 11 năm 2005). “40 Years Later: The Mass Killings in Indonesia”. CounterPunch. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2006. ; Robert Cribb (2002). “Unresolved Problems in the Indonesian Killings of 1965-1966”. Asian Survey 42 (4): 550–563. doi:10.1525/as.2002.42.4.550. 
  38. ^ United States Department of State. The Chinese Revolution of 1949. Office of the Historian. [2014-02-23] (tiếng Anh).
  39. ^ Richard R. Wertz. -Rebellion and Revolution- Nationalist Movements. ibiblio. [2014-02-23] (tiếng Anh).
  40. ^ Wilbur, Nationalist Revolution 114
  41. ^ “CHINA: Nationalist Notes”. TIME. 25 tháng 6 năm 1928. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011. 
  42. ^ Barnouin, Barbara and Yu Changgen. Zhou Enlai: A Political Life. Hong Kong: Chinese University of Hong Kong, 2006. ISBN 962-996-280-2. Retrieved at Google Books on 12 March 2011. p.38
  43. ^ R.J.Rummel. “CHINA'S BLOODY CENTURY”. 
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 民國史大事記
  45. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 年表
  46. ^ http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/dai-loan-giai-mat-vu-tham-sat-30000-nguoi-trong-su-kien-228-3330175/
  47. ^ Chen, Ketty (Winter 2008). “Disciplining Taiwan: The Kuomintang’s Methods of Control during the White Terror Era (1947-1987)” (PDF). Taiwan International Studies Quarterly 4 (4): 187. 
  48. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TaipeiTimes20050520
  49. ^ Tsai, Shih-shan Henry (2005). Lee Teng-Hui and Taiwan's Quest for Identity. New York: Palgrave Macmillan. tr. 101–103. ISBN 9781403970565. 
  50. ^ a ă â b c Deane, Hugh (1999). The Korean War 1945-1953. San Francisco: China Books and Periodicals Inc. tr. 54–58. ISBN 0-8351-2644-7. 
  51. ^ a ă â b c d đ e ê Merrill, John (1980). “Cheju-do Rebellion”. The Journal of Korean Studies: 139–197. 
  52. ^ a ă HIDEKO TAKAYAMA IN TOKYO (ngày 19 tháng 6 năm 2000). “Ghosts Of Cheju”. newsweek. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009. 
  53. ^ a ă â Kim, Hun Joon (2014). The Massacre at Mt. Halla: Sixty Years of Truth Seeking in South Korea. Cornell University Press. tr. 12–41. ISBN 9780801452390. 
  54. ^ The National Committee for the Investigation of the Truth about the Jeju April 3 Incident (ngày 15 tháng 12 năm 2003). “The Jeju April 3 Incident Investigation Report” (PDF). Office of the Prime Minister, Republic of Korea. tr. 144. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2015. 
  55. ^ HIDEKO TAKAYAMA IN TOKYO (ngày 19 tháng 6 năm 2000). “Ghosts Of Cheju”. newsweek. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009. 
  56. ^ [http://www.jeju43.go.kr/sub/catalog.php?CatNo=27 “����4��3��� ����Ը� �� ����� ���ȸ�� ����ȸ”]. Truy cập 12 tháng 12 năm 2015. [liên kết hỏng]
  57. ^ Toussaint, Éric (ngày 11 tháng 4 năm 2006). “Nam Hàn: sự thần kỳ hé mở”. Ủy ban xóa nợ thế giới thứ ba của Bỉ. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2007. 
  58. ^ http://kienthuc.net.vn/kim-chi-da-lua/46-hinh-anh-cuc-soc-ve-cuoc-chien-trieu-tien-1-222525.html?p=12.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)[cần nguồn tốt hơn]
  59. ^ Historical Dictionary of the Korean War, Paul M. Edwards, Plymouth, UK: Scarecrow Press, 2010, p. 32, entry "Bodo League Massacre"
  60. ^ Kim 2004, tr. 535.
  61. ^ “Tiết lộ vụ tàn sát tập thể kinh hoàng ở Hàn Quốc năm 1950”. Báo điện tử Dân Trí. 21 tháng 5 năm 2008. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. [cần nguồn tốt hơn]
  62. ^ Plunk, Daryl M. "South Korea's Kwangju Incident Revisited." Asian Studies Backgrounder No. 35 (September 16) 1985: p. 5.
  63. ^ “Flashback: The Kwangju massacre”. BBC News. Ngày 17 tháng 5 năm 2000. 
  64. ^ “Vụ thảm sát Kwangju ở Hàn Quốc và di sản”. https://vnexpress.net/. 
  65. ^ “Kỷ niệm 38 năm Phong trào vận động dân chủ Gwangju 18/5”. http://world.kbs.co.kr/service/index.htm?lang=v. 
  66. ^ Beevor, Antony. The Battle for Spain; The Spanish Civil War 1936–1939 (Weidenfeld & Nicolson, 2006), pp.89–94.
  67. ^ Beevor, Antony. The Battle for Spain; The Spanish Civil War 1936–1939. Penguin Books. 2006. London. p.87
  68. ^ Thomas, Hugh. The Spanish Civil War. Penguin Books. London. 2001. p.900
  69. ^ Casanova, Julían; Espinosa, Francisco; Mir, Conxita; Moreno Gómez, Francisco. Morir, matar, sobrevivir. La violencia en la dictadura de Franco. Editorial Crítica. Barcelona. 2002. p.8
  70. ^ Richards, Michael. A Time of Silence: Civil War and the Culture of Repression in Franco's Spain, 1936-1945. Cambridge University Press. 1998. p.11
  71. ^ Preston, Paul. The Spanish Civil War. Reaction, revolution & revenge. Harper Perennial. 2006. London. p.316
  72. ^ Espinosa, Francisco. La justicia de Queipo. Editorial Crítica. 2006. Barcelona. p.4
  73. ^ Espinosa, Francisco. Contra el olvido. Historia y memoria de la guerra civil. Editorial Crítica. 2006. Barcelona. p.131
  74. ^ Fontana, Josep, ed. España bajo el franquismo. Editorial Crítica. 1986. Barcelona. p.22
  75. ^ Espinosa, Francisco. La justicia de Queipo. Editorial Crítica. 2006. Barcelona. pp.172–173
  76. ^ Moreno Gómez, Francisco. 1936: el genocidio franquista en Córdoba. Editorial Crítica. Barcelona. 2008. p.11
  77. ^ “A chilling summer - Olive Press News Spain”. www.theolivepress.es. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2018. 
  78. ^ [1] "Opening Franco's Graves", by Mike Elkin Archaeology Volume 59 Number 5, September/October 2006. Archaeological Institute of America
  79. ^ Silva, Emilio. Las fosas de Franco. Crónica de un desagravio. Ediciones Temas de Hoy. 2006. Madrid. p. 110
  80. ^ http://www.elmundo.es/elmundo/2008/09/22/espana/1222093274.html "Garzón recibe más de 140.000 nombres de desaparecidos en la Guerra Civil y la dictadura respecto de las que todavía se continúa desconociendo su paradero". El Mundo, 22 de septiembre de 2008.
  81. ^ http://www.publico.es/actualidad/al-menos-88-000-victimas.html "Al menos 88.000 víctimas del franquismo continúan sepultadas en fosas comunes." Público, 30 de agosto de 2012.
  82. ^ http://www.diariodelaltoaragon.es/NoticiasDetalle.aspx?Id=796901 "España es el segundo país con más desaparecidos después de Camboya". Diario del Alto Aragón, 1 de marzo de 2013
  83. ^ a ă Jularat Damrongviteetham (2013). Narratives of the "Red Barrel" Incident: Collective and Individual Memories in Lamsin, Southern Thailand. Oral History in Southeast Asia: Memories and Fragments (Palgrave Macmillan). tr. 101. 
  84. ^ Tyrell Haberkorn (2013). Getting Away with Murder in Thailand: State Violence and Impunity in Phatthalung. State Violence in East Asia (University Press of Kentucky). tr. 186. 
  85. ^ a ă Matthew Zipple (2014). “Thailand’s Red Drum Murders Through an Analysis of Declassified Documents” (PDF). Southeast Review of Asian Studies 36: 91. 
  86. ^ Tyrell Haberkorn (2013). Getting Away with Murder in Thailand. tr. 186–187. 
  87. ^ Chris Baker; Pasuk Pongphaichit (2009). A History of Thailand . Ocford University Press. tr. 191–194. 
  88. ^ Thongchai Winichakul (2002). Remembering/Silencing the Traumatic Past: The Ambivalent Memories of the October 1976 Massacre in Bangkok. Cultural Crisis and Social Memory: Modernity and Identity in Thailand and Laos (Routledge). tr. 244. 
  89. ^ Valentino, Benjamin (2005). Final Solutions: Mass Killing and Genocide in the 20th Century. Cornell University Press. tr. 84. ISBN 9780801472732. 
  90. ^ Sự lừa dối hào nhoáng - Neil Sheehan. Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 2003. Trang 379
  91. ^ a ă Turse 2013, tr. 251.
  92. ^ Turse 2013, tr. 212.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]