Danh sách Pokémon (1–51)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Danh sách Pokémon (21-40))
Bước tới: menu, tìm kiếm

Pokémon có 493 loài được phân loại.Chúng sống trên khắp nơi trên vũ trụ và có thể bị thu phục bởi con người, được gọi là những nhà huấn luyện Pokémon. Họ thường sử dụng các thiết bị gọi là những qảu cầu Pokémon để làm việc đó và thường sử dụng theo các mục đích khác nhau, chẳng hạn như làm thú nuôi hoặc được đào tạo tham gia các trận chiến Pokémon. Thông qua độ tuổi và kinh nghiệm tích luỹ, nhiều loài sẽ trải qua một quá trình thay đổi hình thái và biến đổi thành một dạng tương tự nhưng mạnh hơn trong một quá trình gọi là tiến hoá. Sau đây là danh sách 20 loài Pokémon đầu tiên.

1. Bulbasaur (Fushigidane)[sửa | sửa mã nguồn]

Pokemon hạt giống( Seed Pokemon ) Hệ: Grass, Poison Ability: Overgrow Tỉ lệ giới tính: 87,5% đực, 12,5% cái. Một hạt giống lạ nảy mầm trên lưng con Pokemon này và lớn lên cùng với nó.

Quá trình: Bulbasaur---->Ivysaur(Lv.16)---->Venusaur(Lv.32)

2. Ivysaur (Fushigishou)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến hóa từ Bulbasaur. Củ hành trên lưng của Ivysaur giờ đã nãy mầm thành một búp măng đỏ. Để chống đỡ cơ thể nặng của mình, những cái chân của Ivysaur được phát triển khỏe khoắn hơn. Nó tiến hóa cấp 3 khi ở lv.32 và thuộc tính của nó cũng là Grass và Poison.

3. Venusaur (Fushigibana)[sửa | sửa mã nguồn]

Venusaur tiến hóa từ Ivysaur. Nó có một bông hoa cực lớn ở trên lưng. Hương hoa tỏa ra từ nó có khả năng làm dịu cảm xúc con người. Khi bị đối thủ đánh bị thương, Venusaur thường tức giận và nhờ đó sức tấn công của nó được tăng lên. Nó thuộc tính cỏ và độc.

4. Charmander (Hitokage)[sửa | sửa mã nguồn]

Đốm lửa ở đuôi Charmander biểu hiện cảm xúc của nó. Khi lửa tắt, thì sinh mạng của nó của tàn đi. Charmander là một trong ba con Pokémon của Prof. Oak gửi các huấn luyện viên. Khi tức giận thi đốm lửa ở dưới sẽ lớn lên và hạ cho bằng được đối phương. Nó tiến hóa ở lv.16. Nó thuộc tính lửa.

5. Charmeleon (Rizard)[sửa | sửa mã nguồn]

Charmeleon có những chiếc vuốt sắc và khả năng cảm nhận đối thủ nhạy bén. Nó thường không nghe lời những huấn luyện viên thiếu kinh nghiệm thi đấu. Charmeleon hay nóng nảy và làm biếng nhưng nó cũng không phải là Pokémon tồi. Nó thuộc tính lửa.

6. Charizard (Rizardon)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến hóa từ Charmeleon ở lv.36, Charizard đặt biệt hung hăng và giờ đây ngọn lửa của nó cháy dữ dội. Charizard có sức khỏe và sau lưng nó mọc cánh, nhờ đó nó có thể cắp đối thủ lên và thả xuống từ độ cao chọc trời khiến đối thủ gục ngã. Nó thuộc tính lửa và bay.

7. Squirtle (Zenigame)[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong 3 con Pokémon của Prof. Oak gởi đến các huấn luyện viên. Cái mai trên mình Squirtle không đơn thuần chỉ dùng để bảo vệ nó. Cái mai tròn và xẻ các rãnh giúp con Pokémon này có thể làm giảm sức cản của nước khi bơi nhờ vậy nó có thể bơi với tốc độ rất cao. Squirtle có khả năng bắn thủy pháo cực mạnh. Nó tiến hóa ở lv.16. Nó thuộc tính nước.

8. Wartortle (Karme)[sửa | sửa mã nguồn]

Đuôi của con Pokémon này được phủ một lớp lông dày và đẹp đẽ. Cái đuôi phát triển và có màu đậm hơn tùy thuộc vào tuổi thọ của nó. Những dấu vết trên mai nó chứng tỏ nó là một con Pokémon chiến đấu rất dẻo dai và ngoan cường với thuộc tính nước. Nó tiến hóa thành Blastoise ở lv.36.

9. Blastoise (Kamex)[sửa | sửa mã nguồn]

Thuộc tính nước. Trên mai của Blastoise giờ đã có thêm hai nòng súng phun nước thò ra ngoài. Những nòng súng này cho phép nó tấn công đối thủ một cách chính xác và phóng lên không trong một thời gian ngắn. Với cách đó nó có thể bắn ra viên đạn nước vào mục tiêu cách xa đến 160 feet (tương đương hơn 50 mét).

10. Caterpie (Catapie)[sửa | sửa mã nguồn]

Caterpie là một con Pokémon rất phàm ăn. Nó có thể ăn được những chiếc lá lớn hơn cơ thể nó một cách ngấu nghiến ngay trước mắt bạn. Sợi râu trên đầu nó có thể tỏa ra những mùi hương rất nồng. Caterpie mang thuộc tính sâu bọ và nó phun tơ trói chặt kẻ thù lại rồi chạy trốn phòng khi đối thủ quá mạnh. Nó tiến hóa ở lv.7.

11. Metapod (Trancel)[sửa | sửa mã nguồn]

Là loài Pokémon tiến hóa nhanh nhất. Cái vỏ bao bọc quanh cơ thể nó cứng như một tấm thép. Metapod hầu như không di chuyển. Nó giữ nguyên như vậy để chuẩn bị tiến hóa sau lớp vỏ cứng. Thuộc tính sâu bọ.

12. Butterfree (Batterfree)[sửa | sửa mã nguồn]

Butterfree tiến hóa từ Metapod ở lv.10. Có một khả năng siêu phàm là tìm kiếm mật ngon trong những bông hoa nhờ đôi mắt có khả năng nhìn ở nhiều góc độ. Nó có thể tìm, hút mật và mang mật về tổ từ những bông hoa mọc cách đó tới 6 dặm nhờ đôi cánh đặt biệt, nó còn giúp Butterfree có thể bay trong mưa, Butterfree còn có khả năng phát ra phấn độc từ chính đôi cánh này. Thuộc tính sâu bọ và bay.

13. Weedle (Beedle)[sửa | sửa mã nguồn]

Weedle có thính giác rất nhạy bén. Nó có thể nhận biết được các loại lá mà nó yêu thích với những loại nó không thích chỉ bằng cách ngửi chúng với cái mũi hồng to tướng của nó. Có gai độc trên đầu nhưng chủ yếu để dọa đối thủ. Tiến hóa ở lv.8. Thuộc tính sâu bọ.

14. Kakuna (Kokoon)[sửa | sửa mã nguồn]

Thuộc tính sâu bọ. Kakuna hầu như bất động khi nó treo mình trên cành cây. Dù vậy ở bên trong cái kén nó cũng rất bận rộn để chuẩn bị tiến hoá. Đó cũng là điều hiển nhiên làm chiếc vỏ nóng lên khi chạm vào. Tiến hóa lv.10.

15. Beedrill (Spear)[sửa | sửa mã nguồn]

Beedrill thực sự có tổ chức và lãnh thổ riêng của mình. Không ai có thể đến gần tổ của chúng - đây là sự an toàn cho chính bản thân chúng. Khi tức giận chúng sẽ tấn công một cách điên cuồng với một bầy nhằm váo đối thủ. Thuộc tính sâu bọ và độc.

16. Pidgey (Poppo)[sửa | sửa mã nguồn]

Pidgey có giác quan định hướng thực sự rất tốt. Nó quay được về chính xác tổ dù ở xa mấy đi nữa. Pidgey ẩn mình trong những đám cỏ phòng sự tấn công của kẻ thù. Thuộc tính tiêu chuẩn/ bay và tiến hóa ở lv.18.

17. Pidgeotto (Pidgeon)[sửa | sửa mã nguồn]

Pidgeotto luôn đòi hỏi cần có vùng lãnh thổ rộng cho riêng mình. Nó bay và tuần tra xung quanh nơi sống của mình. Khi bị xâm phạm nó sẽ không thương hại gì và trừng trị thẳng tay đối phương bằng những cái móng sắc nhọn. Pidgey hiền lành bao nhiêu, thì Pidgeotto dữ dằn bấy nhiêu, vì thế cần hết sức cẩn thận. Thuộc tính bình thường và bay và tiến hóa ở lv.36.

18. Pidgeot (Pidgeott)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến hóa từ Pigeotto. Con Pokémon này có một bộ lông vũ đáng kinh ngạc với những chiếc lông bóng nhoáng. Rất nhiều huấn luyện viên bị say đắm bởi vẻ đẹp nổi bật của dải lông trên đỉnh đầu nó, đã thuyết phục họ chọn nó làm con Pokémon của mình. Nhưng với tốc độ nhanh như gió, khả năng tấn công bằng vuốt sắc và cánh của nó, thì điều đó thật sự khó. Thuộc tính tiêu chuẩn/ bay.

19. Rattata (Koratta)[sửa | sửa mã nguồn]

Rattata luôn thận trọng hết mức. Ngay cả khi đang ngủ nó liên tục nghe ngóng xung quanh bằng cách ngọ nguậy đôi tai. Nó không khó khăn trong việc chọn chỗ ở, nó sẽ làm tổ ở bất cứ đâu. Thường ẩn nấp ở trong các đám cỏ cao. Đặc biệt Rattata thích lục lọi và chôm đồ của người khác. Thuộc tính tiêu chuẩn. Tiến hóa ở lv.20.

20. Ratticate (Ratta)[sửa | sửa mã nguồn]

Những cái răng nhanh của Raticate đã mọc vững chắc và cứng cáp. Để giữ cho răng cứng và mọc dài đều nó thường gặm đá và những thân cây khô. Nó còn có thể nhai cả những bức tường nhà nữa. Thuộc tính tiêu chuẩn.

21. Spearow (Onisuzume)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn nó trong giống Pidgey nhưng dữ hơn nhiều. Spearow rất hay thù hằn. Nó có tiếng kêu rất to có thể nghe được khi cách đó cả nửa dặm. Tiếng kêu rất cao, the thé và vang ra xung quanh. Đó cũng là sự cảnh báo khi có nguy hiểm với những con khác. Thuộc tính Normal/ Flying. Tiến hóa ở lv.20.

22. Fearow (Onidrill)[sửa | sửa mã nguồn]

Fearow được nhận ra nhờ cái cổ dài và cái mỏ cũng dài không kém. Với hình dáng đó nó rất thuận tiện cho việc săn mồi trên đồng trống hoặc trên mặt nước. Nó khéo léo dùng cái mỏ dài và nhọn để giật con mồi. Rất dữ và nên nhớ chó dại mà chọc nó. Thuộc tính Normal/ Flying.

23. Ekans (Arbo)[sửa | sửa mã nguồn]

Ekans thường cuộn tròn mình lại khi nghỉ ngơi. Với tư thế này còn giúp nó nhanh chóng phản ứng lại mọi sự đe dọa từ bất kì phía nào qua con mắt trừng trừng trên cái đầu nhổm lên của nó. Với cái thân hinh dài và thon thả, trợ giúp cho nó luồn lách qua các khe hở và bắt trúng đích con mồi. Thuộc tính Poison. Tiến hóa ở lv.22.

24. Arbok (Arbok)[sửa | sửa mã nguồn]

Arbok rất khỏe trong việc dùng cơ thể để xiết chặt mọi thứ, thậm chí làm dẹp mỏng một cái trống bọc thép. Một khi đã cuốn người nó quanh đối thủ thì việc thoát khỏi nhát cắn của nó là điều không thể. Arbok là một loài Pokémon đặc biệt. Đường vân ở bụng nó có thể thay đổi hình dạng khác và mỗi dạng lại mang một sức mạnh khác nhau: khỏe mạnh, chống độc tố và trường sinh. Thuộc tính Poison.

25. Pikachu (Pikachuu)[sửa | sửa mã nguồn]

Pikachu có hai đốm đỏ hai bên mà có thể phóng ra điện. Nó tích điện vào buổi đêm khi Pikachu ngủ. Thỉnh thoảng nó cũng không tích điện khi nó ngủ một cách lơ mơ sau khi thức dậy. Nếu năng lượng điện trong người Pikachu tích tụ quá nhiều, thì sức mạnh của nó lúc đó có thể trở nên thật kinh khủng và gây nguy hiểm cho chính nó. Thuộc tính Electa. Tiến hóa bằng Thunder Stone.

26. Raichu (Raichu)[sửa | sửa mã nguồn]

Raichu tiến hóa từ pikachu.raichu phát ra một dòng điện yếu quanh cơ thể làm nó phát ra ánh sáng trong bóng tối. Raichu kiếm năng lượng điện bằng cách đặt chiếc đuôi xuống đất. Khi tiến hóa Raichu có thể kìm chế năng lượng điện phát sinh giúp nó không bị nguy hiểm như lúc còn là Pikachu. Thuộc tính Electa.

27. Sandshrew (Sand)[sửa | sửa mã nguồn]

Sandshrew có một lớp da khô (vỏ) mà nó thực sự rất cứng cáp. Nó có thể cuộn và lăn tròn như quả bóng có thể đẩy lùi bất kì đòn tấn công nào. Vào ban đêm nó thường đào các hố cát trong sa mạc để ngủ. Thuộc tính Ground. Tiến hóa ở lv.22.

28. Sandslash (Sandpan)[sửa | sửa mã nguồn]

Sandslash trông giống như một con nhím. Nó cuộn tròn cơ thể nó như một quả cầu gai. Trong trận đấu, nó thường làm cho đối thủ nao núng bằng cách đâm những cái gai của mình. Sau đó nhanh chóng đánh tới tấp những cái mòng vuốt sắc nhọn vào đối thủ đang còn quay cuồng. Thuộc tính Ground.

29. Nidoran(F) (Nidoran)[sửa | sửa mã nguồn]

Nidoran cái có những cái gai có thể tiết ra chất độc cực mạnh. Được cho rằng đó như một sự bảo vệ cho con Pokemon có cơ thể nhỏ nhắn này. Khi bị đe doạ, nó sẽ tiết ra một độc tố kinh khủng từ cái sừng của nó. Thuộc tính Poison. Tiến hóa thành Nidorina ở lv.16.

30. Nidorina (Nidorina)[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ở cùng với bạn hay gia đình của mình, nó giữ không cho những cái gai làm bị thương con khác. Nó luôn cảm thấy lo lắng khi bị tách rời khỏi các con khác. Với hàm răng chắc, nó ó khả năng cắn vỡ đá và phá vỏ của những quả dừa khô để lấy nước uống thuộc tính Poison. Tiến hóa bằng Moon Stone.

31. Nidoqueen (Nidoqueen)[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể của Nidoqueen được phủ một lớp vày rất cứng chắc. Nó rất giỏi khi tấn công những con Pokemon bay bằng những đòn áp sát mạnh và hung dữ. Con Pokemon này trở nên hung dữ và khỏe mạnh nhất khi bảo vệ các con nhỏ của mình. Thuộc tính Ground va Poison.

32. Nidoran(M) (Nidoran)[sửa | sửa mã nguồn]

Con Nidoran đực dùng cơ bắp để cử động hai cái tai của mình.Nhờ đó cái tai dễ dàng chuyển động về nhiều hướng. Kể cả những âm thanh khẽ nhất cũng không thoát khỏi sự chú ý của con Pokemon này. Thuộc tính Poison, tiến hóa thành Nidorino ở lv.16.

33. Nidorino (Nidorino)[sửa | sửa mã nguồn]

Nidorino có một cái sừng rắn chắc hơn cả kim cương.Khi nó nhận ra có sự hiện diện của kẻ thù,những cái gai trên sống lưng nó sẽ đồng loạt dựng lên và nó chiến đấu với đối thủ bằng tất cả ý chí của mình. Thuộc tính Poison. Tiến hóa bằng Moon Stone.

34. Nidoking (Nidoking)[sửa | sửa mã nguồn]

Cái đuôi to và dài của Nidoking có một sức mạnh tàn phá khủng khiếp và mạnh mẽ. Chỉ với một cú đập nó có thể làm đổ cả một tháp truyền hình. Khi con Pokemon này nổi cơn điên thì không ai có thể dừng nó lại được. Nhưng nó lại trở nên hiền lành và tình cảm khi đứng gần các con Nidoqueen. Thuộc tính Poison/ Ground.

35. Clefairy (Pippy)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những đêm trăng tròn, thường có một nhóm Clefairy ra ngoài để vui chơi. Khi bình minh xuất hiện những con Clefairy mệt mỏi quay về những cái hang yên tĩnh của chúng và rúc vào cùng những con khác để ngủ. Tuyệt chiêu mạnh nhất của Clefairy là Búng ngón tay, nhưng khi thực hiện chiêu này, ngay cả nó cũng không biết kết quả sẽ ra sao. Thuộc tính Normal. Tiến hóa bằng Moon Stone.

36. Clefable (Pixy)[sửa | sửa mã nguồn]

Clefable di chuyển bằng cách nhảy nhẹ nhàng như khi nó đang bay với đôi cánh. Những bước nhảy như vậy còn cho phép chúng di chuyển trên mặt nước. Nó được biết đến khi thường đi dạo bên hồ vào những đêm yên tĩnh và trăng sáng. Sống ở bên trong lòng núi Mặt Trăng nên rất hiếm gặp. Thuộc tinh Normal.

37. Vulpix (Rokon)[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trong cơ thể Vulpix có một ngọn lửa cháy không ngừng. Vào ban ngày, khi nhiệt độ tăng cao, con Pokemon này phả lửa ra từ miệng nó để ngăn cơ thể nó không nóng quá mức. Với chiếc đuôi cực đẹp của mình, nó thường dành các giải cao trong những cuộc thi sắc dẹp. Thuộc tính Fire. Tiến hóa nhờ Fire Stone.

38. Ninetales (Kyukon)[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thuyết kể rằng Ninetales xuất hiện khi có 9 thầy phù thủy thực hiện một phép thuật linh thiêng hợp vào một. Con Pokemon này có trí thông minh rất cao - nó có thể hiểu được lời nói của con người. Tốc độ của Ninetales tuy không đáng nể nhưng bù lại ngọn lửa nó phóng ra nóng không ngờ. Thuộc tính Fire.

39. Jigglypuff (Purin)[sửa | sửa mã nguồn]

Khi con Pokemon này hát, nó không bao giờ dừng lại để thở. Nếu trong trận đấu và gặp một đối thủ không dễ bị rời vào giấc ngủ thì Jigglypuff sẽ không thở được và rất nguy hiểm đến tính mạng. Jigglypuff thường thu hút các huấn luyện viên (thường là nữ) bằng vẻ ngoài dễ thương. Nhưng khi có nó rồi mới biết rằng nó chỉ có tài hát ru ngời khác thôi. Thuộc tính Normal. Tiến hóa thành Wigglytuff bằng Moon Stone.

40. Wigglytuff (Pukurin)[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể Wigglytuff rất dẻo dai và linh hoạt. Bằng cách hít thật sâu, nó có thể tự làm phồng mình lên và không có điểm dừng. Khi phồng lên nó nhẹ nhàng như một quả bóng bay vậy. Đôi tai của Wigglytuff được thiết ké để dễ dàng nghe ngóng các âm thanh từ xa. Thuộc tính Normal.

41. Zubat (Zubat)[sửa | sửa mã nguồn]

Zubat thường tránh ánh sáng vì khi bị tiếp xúc nó trở nên không khỏe. Vào ban ngày nó ở trong hang hoặc dưới hiên những ngôi nhà cũ, chúng ngủ trong khi treo lộn ngược. Zubat không có mắt mà dùng thính giácsóng siêu âm để nghe chuyển động của mọi vật. Tiến hóa thành Golbat ở lv.22. Thuộc tính Poison/ Flying.

42. Golbat (Golbat)[sửa | sửa mã nguồn]

Golbat cắn con mồi bằng bốn cái răng sắc nhọn và uống máu nạn nhân. Nó trở nên linh hoạt hơn vào những đêm tối như mực và không có ánh trăng, bay vòng quanh tấn công ngườiPokémon. Mỗi lần nó có thể hút đến 4000cc máu. Thuộc tính Poison/ Flying.

43. Oddish (Nazonokusa)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thời gian ban ngày, trong khi nó ở dưới đất, người ta nghĩ rằng hai cái chân của nó thay đổi hình dạng và biến thành rễ cây. Oddish khi di chuyển, những chiếc lá trên đầu nó sẽ đung đưa và rải phấn hoa xuống đất. Tiến hóa thành Gloom ở lv.21. thuộc tính Grass.

44. Gloom (Kusaihara)[sửa | sửa mã nguồn]

Từ miệng Gloom chảy ra một thứ nước dãi có mùi rất kinh khủng. Nó rất thích những mùi hôi khó chịu. Nó hít những khí độc đó và tiếp tục chảy nhiều dãi hơn. Bông hoa trên đầu nó bây giờ trở nên to và tiết ra một chất gây mùi, làm giảm sức của các Pokémon khác khi chiến đấu. Thuộc tính Grass.

45. Vileplume (Rafureissa)[sửa | sửa mã nguồn]

Vileplume có những chiếc cánh hoa lớn nhất trên thế giới. Nó dùng để cuốn hút con mồi và sau đó hắt những bào tử độc vào chúng. Một khi con mồi bị bất động nó sẽ tóm lấy và ăn ngấu nghiến. Nó tiến hóa từ Gloom nhờ vào một loại đá đặt biệt (Grass Stone).

46. Paras (Paras)[sửa | sửa mã nguồn]

Paras có 2 cây nấm kí sinh mọc trên lưng được gọi là tochukaso. Nó lớn dần lên bằng cách hút chất dinh dưỡng từ con Pokemon bọ này. Nó có giá trị cao như một loại thuốc có thể kéo dài sự sống. Paras chuộng bóng tối nên thường sóng ở trong hang, nhưng đôi lúc ta cũng có thể bắt gặp chúng ở ngoài bãi cỏ. Thuộc tính Bug/ Grass. tiến hóa ở lv.24.

47. Parasect (Parasect)[sửa | sửa mã nguồn]

Parasect được biết đến với sự tàn phá những cây cổ thụ, cây lớn và hút chất dinh dưỡng từ phần gốc và rễ cây. Khi một cây bị nó phá bị chết nó lập tức chuyển ngay sang cây khác. Tuyệt chiêu bào tử nấm của nó có khả năng gây ngủ cho các Pokémon nhưng đối với người, bào tử đó có thể dùng làm thuốc trị thương rất quý, nên loài này thường là mục tiêu của bọn săn trộm. Hiện nay giống Parasect đang được bảo tồn tại Safari Zone và một số khu bảo tồn khác. Thuộc tính Bug/ Grass.

48. Venonat (Kongpang)[sửa | sửa mã nguồn]

Venonat được lớp lông cứng bao phủ toàn bộ cơ thể nó. Với đôi mắt to nó không bao giờ trượt khi xác định mục tiêu kể cả khi con mồi rất nhỏ. Rađa trên đầu nó có khả năng tìm kiếm rất hữu hiệu. Tiến hóa thành Venomoth ở lv.31. Thuộc tính Bug/ Poison.

49. Venomoth (Morphon)[sửa | sửa mã nguồn]

Venomoth là loài Pokemon họ bướm đêm - nó chỉ hoạt động linh hoạt vào buổi đêm. Con mồi ưa thích của nó là những con côn trùng nhỏ tụ tập tại những bóng đèn đường, bị thu hút bởi ánh sáng trong đêm. Với đôi cánh đắc biệt, nó có thể bay nhẹ nhàng mà không gây tiếng động. Thuộc tính Bug/ Poison.

50. Diglett (Digda)[sửa | sửa mã nguồn]

Diglett sinh sôi ở hầu hết các trang trại. Lí do rất đơn giản - bất kì chỗ nào con Pokemon này đào xới, đất trở nên tơi xốp và chất dinh dưỡng được giữ lại cho việc trồng cây. Những chất dinh dưỡng này rất lí tưởng để trồng rau. Nhưng đôi khi, người ta rất ghét loài này. Chẳng là những chỗ con vật này đi qua, thì đất ở đấy sẽ bị đùn lên, cản trở giao thông đi lại. Thuộc tính Ground. Tiến hoa ở lv.26.

51. Dugtrio (Dugtrio)[sửa | sửa mã nguồn]

Là loài Pokémon có 3 đầu. Nhờ vậy khả năng quan sát được tăng lên gắp 3 lần. Chúng sống ẩn dưới đất nên rất khó nghiên cứu. Thuộc tính Ground.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]