Hanyu Yuzuru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yuzuru Hanyu
Yuzuru Hanyu-Sochi 2014.jpg
Thông tin cá nhân
Đại diện cho quốc gia Nhật Bản
Sinh 7 tháng 12, 1994 (23 tuổi)
Sendai, Miyagi
Quê nhà Sendai
Nơi cư trú Sendai
Cao 1,72 m (5 ft 8 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Huấn luyện viên Brian Orser, Tracy Wilson
Huấn luyện viên trước đây Abe Nanami, Tuzuki Shoitirou
Biên đạo múa David Wilson, Jeffrey Buttle, Kurt Browning
Biên đạo múa trước đây Abe Nanami
Câu lạc bộ trượt băng nghệ thuật ANA Minato Tokyo
Toronto Cricket Curling and Skating Club
Bắt đầu trượt băng từ 1998
Điểm cá nhân tốt nhất do ISU chấm
Điểm tổng 330.43 (WR)
Chung kết Grand Prix 2015
Short program 112.72 (WR)
2017 CS Autumn Classic
Free skate 223.20 (WR)
Giải Vô Địch Thế giới 2017
Tên tiếng Nhật
Kanji 羽生 結弦
Hiragana はにゅう ゆづる

Hanyu Yuzuru (羽生 (はにゅう) 結弦 (ゆづる) (Vũ Sinh Kết Huyền) Ha'nyū Yuzuru?, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1994) là vận động viên trượt băng người Nhật Bản, anh thi đấu ở hạng mục đơn nam. Anh là nhà vô địch Olympic 2014 và 2018, Vô Địch Thế giới 2014 và 2017, 4 lần vô địch Grand Prix Final 2013-2014, 2014-2015 và 2015-2016, 2016-2017, huy chương bạc giải Bốn Châu Lục 2011, 2013, 2017, vô địch giải Thiếu Niên Thế giới 2010 và giải Grand Prix Final Thiếu Niên 2009-2010, đồng thời 4 lần liên tiếp vô địch Quốc gia Nhật Bản năm 2012, 2013, 2014 và 2015. Anh còn đoạt huy chượng trong 3 giải Vô Địch Thế giới khác gồm huy chương đồng 2012, huy chương bạc năm 2015 và 2016.

Hanyu đã đi vào lịch sử với tư cách vận động viên nam người châu Á đầu tiên đoạt Huy chương Vàng Olympic hạng mục đơn nam tại Olympic 2014 (Sochi). Ở độ tuổi 19, anh trở thành vận động viên nam trẻ nhất dành Huy chương vàng tính từ năm 1948. Năm 2018, Hanyu tiếp tục con đường trở thành huyền thoại với thành tích vô địch 02 kỳ Thế Vận Hội mùa đông liên tiếp, điều mà đã 66 năm chưa có ai làm được. Anh cũng là người đầu tiên nhảy thành công cú nhảy 4 vòng Loop (4Lo) trong thi đấu, đồng thời cũng là vận động viên châu Á đầu tiên chiến thắng giải Vô Địch Thế giới nhiều lần.

Được biết đến rộng rãi như là vận động viên trượt băng vĩ đại nhất trong lịch sử, Hanyu đã phá vỡ 12 kỷ lục thế giới, và hiện đang nắm giữ kỷ lục về điểm số cao nhất bài thi ngắn, bài thi tự do và tổng điểm 02 bài thi. Anh là một trong những người mở đường của kỳ nguyên Quad (nhảy 4 vòng), người đầu tiên vượt 100 điểm bài thi ngắn, 200 điểm bài thi dài và 300 điểm tổng, đồng thời cũng là người duy nhất tính tới thời điểm này vượt mức 110, 220 và 330 điểm. Nhờ khả năng kết hợp các động tác kỹ thuật và khả năng trình diễn tuyệt vời, Hanyu được coi là tiêu chuẩn vàng trong trượt băng nghệ thuật đơn nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu biểu diễn động tác xoay Biellmann tại giải Cup of China 2011.

Hanyu sinh ra và lớn lên tại Sendai, anh có một người chị tên là Saya hơn anh 2 tuổi. Cha mẹ anh đã đặt tên Yuzuru (結弦 - Kết Huyền) mang ý nghĩa "dây cung được kéo căng", tượng trưng cho sự tự tin, sức mạnh và lòng ngay thẳng. Cha mẹ anh muốn anh có một cuộc sống chính trực, đường hoàng và mạnh mẽ, không cúi đầu trước khó khăn.

Anh bị bệnh suyễn bẩm sinh và phải uống thuốc hằng ngày. Ngoài trượt băng ra, anh rất yêu thích môn bóng chày và từng có ý định bỏ trượt băng để tập bóng chày.

Anh theo học trường trung học thể thao Tohoku, nơi sản sinh ra các vận động trượt băng nổi tiếng của Nhật Bản như Honda TakeshiArakawa Shizuka. Hanyu có khả năng tập trung rất tốt, hồi còn đi học anh là học sinh giỏi toàn diện. Anh thích các môn toán, tự nhiên và không thích tiếng Anh. Tuy vậy, khi chuyển sang Canda luyện tập, tiếng Anh của Hanyu cũng đã tiến bộ khá nhiều.

Căn nhà anh bị hư hỏng sau trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011. Sau khi anh trở nên quá nổi tiếng và bị báo giới làm phiền, gia đình anh đã phải di chuyển đi một nơi khác kín đáo hơn. Hiện tại anh là sinh viên tại Đại học Waseda, chương trình đào tạo trực tuyến chuyên ngành Human Informatics and Cognitive Sciences (tạm dịch Nhân học & Khoa học nhận thức).

Hanyu rất thích chú gấu Winnie the Pooh và thường được nhận những món quà liên quan đến Pooh từ người hâm mộ khi kết thúc phần thi của mình.

Anh không có bất kỳ tài khoản mạng xã hội nào như facebook hay twitter. Anh nói là vì muốn nghe theo lời khuyên của huấn luyện viên rằng nên tránh xa mạng xã hội để không bị ảnh hưởng đến tâm lý.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu trượt băng khi 4 tuổi, cậu theo người chị đến sân băng. Cậu tham gia thi đấu lần đầu tiên ở giải quốc gia cấp độ Thiếu Nhi (Novice) vào mùa giải 2004–2005. Cậu thi đấu cấp độ Thiếu Nhi B là cấp độ trẻ hơn trong hai cấp độ Thiếu Nhi và giành huy chương vàng ở giải toàn quốc.[1]

Sau đó sân băng tại quê nhà đóng cửa do vấn đề tài chính, khiến cậu thiếu thời gian tập luyện. Abe Nanami trở thành huấn luyện viên của cậu vào thời điểm này. Trong mùa giải 2006–2007, Hanyu thi đấu ở hạng mục Thiếu Nhi A và đạt huy chương đồng.[2] Nhờ đó cậu được tham gia giải đấu ở cấp độ cao hơn là cấp độ Thiếu Niên (Junior) và giành vị trí thứ 7.[3]

Sân băng Hanyu tập luyện tái mở cửa vào năm 2007. Cậu thi đấu ở cấp độ Thiếu Nhi A và giành chiến thắng.[4] Nhờ đó cậu được tham dự giải cao hơn là Thiếu Niên Nhật Bản 2007 và giành huy chương đồng.[5]

Cấp độ Thiếu Niên (Junior)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2008–2009[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu chuyển hẳn lên cấp độ Thiếu Niên (Junior) và thi đấu tại hệ thống Grand Prix Thiếu Niên của liên đoàn trượt băng thế giới ISU. Sau loạt giải Grand Prix Thiếu Niên, cậu tham gia giải Thiếu Niên Nhật Bản 2008.[6] Cuộc thi này vừa là giải Thiếu Niên toàn quốc vừa là kì sát hạch cho giải Thiếu Niên Thế giới. Nhờ thắng cuộc, Hanyu đạt đủ tiêu chuẩn tham dự giải Thiếu Niên Thế giới 2009.

Khi mới 13 tuổi, cậu tham gia thi đấu ở cấp độ Trưởng Thành (Senior) tại giải Vô Địch Nhật Bản 2008 và xếp hạng thứ 8.[7] Tháng 2 năm 2009, tại giải Thiếu Niên thế giới 2009, Hanyu thi đấu không tốt do cơ thể còn đang lớn và chưa thích nghi được với kỹ thuật, cậu xếp thứ 12 chung cuộc.

Mùa giải 2009–2010[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2009–2010, Hanyu chiến thắng cả hai giải Grand Prix Thiếu Niên. Tại giải Thiếu Niên Nhật Bản 2009, cậu thắng bài thi ngắn, đạt vị trí thứ 2 sau bài thi tự do và giành chiến thắng chung cuộc.[8] Sau đó, cậu tham gia giải Grand Prix Final Thiếu Nhiên, tại đây, cậu giành chiến thắng và lập kỉ luc cá nhân mới.[9] Tại giải đấu Thiếu Niên Nhật Bản 2009–2010, cậu giành vị trí thứ nhất.

Trong mùa này cậu cũng tham gia tranh giải Vô Địch Nhật Bản ở cấp độ Trưởng Thành và giành vị trí thứ 6. Nhờ vào bảng thành tích này, Hanyu đã được chọn thi đấu giải Thiếu Niên Thế giới 2010. Cậu chiến thắng chung cuộc sau khi xếp thứ 3 sau bài thi ngắn và vị trí thứ nhất sau bài thi tự do và lập kỉ lục cá nhân với tổng điểm là 216.10, trở thành vận động viên nam thứ tư của Nhật Bản chiến thắng giải Thiếu Niên Thế giới.[10]

Cấp độ Trưởng Thành (Senior)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010–2011[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu chuyển lên cấp độ Trưởng Thành vào mùa giải 2010-2011. Trong hệ thống giải Grand Prix của ISU mùa này, cậu thi đấu tại NHK Trophy 2010Cup of Russia 2010.[11] Tại giải đầu tiên là NHK Trophy 2010, Hanyu đứng vị trí thứ 5 ở bài thi ngắn; trong bài thi tự do, Hanyu đã thực hiện thành công cú 4T (xoay 4 vòng trên không) đầu tiên của mình trong hệ thống giải ISU và xếp thứ 4 chung cuộc. Hanyu kết thúc với vị trí thứ 7 trong giải Cup of Russia. Trong giải Vô Địch Nhật Bản 2010-2011, Hanyu xếp thứ 2 sau bài thi ngắn, nhưng bị ngã trong bài thi tự do và kết thúc với vị trí thứ 4 chung cuộc. Nhờ thành tích này, cậu được lựa chọn đi thi đấu ở giải Four Continents 2011, tại đây cậu giành được huy chương bạc và đạt được kỉ lục cá nhân mới.

Khi Hanyu đang tập trên sân trượt băng ở quê nhà Sendai thì trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011 tấn công thành phố và các khu xung quanh. Đường ống nước dưới mặt băng bị bung ra vì tác động của động đất và sóng thần. Hanyu phải chuyển sang tập luyên ở YokohamaHachinohe, Aomori cho tới khi sân băng ở quê nhà được mở lại vào tháng 7 năm 2011. Cậu đã biểu diễn ở tận 60 show trượt băng và coi đó như là dịp để luyện tập. Vào tháng 4, cậu và các vận động viên trượt băng khác tham gia vào một chương trình trượt băng để gây quỹ cho những nạn nhân của động đất và sóng thần Tōhoku 2011.

Mùa giải 2011–2012[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu cùng cựu huấn luyện viên Abe Nanami tại giải Cup of Russia 2011.

Hanyu bắt đầu mùa giải 2011–2012 với chiến thắng tại giải Nebelhorn Trophy. Cậu xếp thứ nhất ở cả hai bài thi ngắn và bài thi tự do với tổng điểm 226.26. Trong hệ thống giải Grand Prix 2011-2012, cậu tham gia thi đấu giải Cup of China 2011 và giải Rostelecom Cup 2011.[12] Cậu kết thúc ở vị trí thứ 4 tại Cup of China, sau đó chiến thắng giải Rostelecom Cup với một kỉ lục cá nhân mới, nhờ đó, cậu đủ điều kiện tham gia giải Grand Prix Final cấp độ Trưởng Thành (Senior) lần đầu tiên, tại đó cậu xếp thứ 4.

Cùng năm, Hanyu giành huy chương đồng tại giải Vô Địch Nhật Bản 2011, giành được vị trí trong đội tuyển Nhật Bản đi thi đấu tại giải Vô Địch Thế giới 2012. Tại giải thế giới, Hanyu xếp thứ 7 sau bài thi ngắn nhưng vươn lên vị trí thứ 2 sau bài thi tự do. Cậu giành được huy chương đồng chung cuộc với tổng điểm 251.06, đứng sau huy chương vàng Patrick Chan của Canada và huy chương bạc là đồng đội Daisuke Takahashi từ Nhật Bản.

Vào tháng 4 năm 2012, Hanyu chuyển sang theo học huấn luyện viên Brian OrserToronto, Canada. Từ đây, Hanyu phải thường xuyên bay tới Toronto trong khi vẫn tiếp tục học trung học ở Sendai. Sau khi chuyển tới Canada, Hanyu tăng thời gian luyện tập trên sân băng lên 3-4 tiếng/ngày so với 1-2 tiếng/ngày so với trước đó. Sự thay đổi này được là do nhiều nguyên nhân, từ việc hạn chế thời gian luyện tập ở Sendai do phải đi học và căn bệnh hen suyễn bẩm sinh. Cuốn hồi ký của Hanyu, Blue Flames, được xuất bản ở Nhật Bản vào tháng 4 năm 2012 với tiền bản quyền tác giả và lợi nhuận được gửi vào quỹ từ thiện cho nạn nhân động đất và sóng thần Tōhoku 2011.

Mùa giải 2012–2013[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu mùa thi đầu ở giải Finlandia Trophy và giành huy chương vàng. Anh thực hiện 2 cú nhảy quad (xoay 4 vòng trên không), là quad Toe và quad Salchow trong bài thi tự do. Đây là lần đầu tiên Hanyu thực hiện quad Salchow khi thi đấu.

Hanyu giành huy chương bạc ở giải Grand Prix đầu tiên của mùa là giải Skate America. Trong giải đấu thứ 2, giải NHK Trophy ở Sendai, anh ghi được 95.32 điểm sau bài thi ngắn, lập kỉ lục thế giới mới, và tiếp tục giành huy chương vàng trên quê hương. Hanyu đã đủ tiêu chuẩn cho giải Grand Prix FinalSochi, và anh giành huy chương bạc trong giải này.

Vào tháng 1 năm 2013, Hanyu giành được danh hiệu quốc gia đầu tiên tại Vô Địch Nhật Bản 2013 sau khi đứng thứ nhất sau bài thi ngắn và thứ 2 ở bài thi tự do. Anh đạt huy chương bạc tại Four Continents 2013 sau đó.

Ở giải Vô Địch Thế giới 2013, anh bị chấn thương nên phong độ rất kém nhưng vẫn cố gắng thi đấu, anh đứng thứ 9 ở bài thi ngắn và thứ 3 ở bài thi tự do và thứ 4 chung cuộc.

Mùa giải 2013–2014: Huy chương vàng Olympic đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thế vận hội Mùa đông 2014, Hanyu đã trở thành vận động viên giành tấm huy chương vàng Olympic cho hạng mục trượt băng đơn nam của Nhật Bản

Hanyu bắt đầu mùa thi đấu với giải Finlandia Trophy 2013, anh giành huy chương vàng sau khi đứng thứ nhất ở cả bài thi ngắn và bài thi tự do. Anh cũng giành được huy chương bạc ở 2 giải 2 Grand PrixSkate Canada 2013 và Trophée Eric Bompard 2013, giúp anh đủ điều kiện tham gia Grand Prix Final 2013-2014.

Tại giải Grand Prix FinalFukuoka, Hanyu lập kỉ lục thế giới mới trong bài thi ngắn với 99.84 điểm và giành được huy chương vàng chung cuộc sau khi đứng đầu ở cả hai bài thi ngắn và tự do.

Tháng 11 năm 2013, Hanyu tiếp tục giành được danh hiệu quốc gia thứ 2 sau khi đứng nhất ở cả hai phần thi. Anh tiếp tục được gọi vào đội tuyển quốc gia Nhật Bản tham gia Olympics và Vô Địch Thế giới.

Vào Olympic mùa đông 2014 tại Sochi, Hanyu đã phá vỡ kỉ lục thế giới do chính mình lập gia ở bài thi ngắn của nam, ghi được 101.45 điểm. Anh là vận động viên đầu tiên đạt trên 100 điểm trong bài thi ngắn. Hanyu mắc lỗi trong bài thi tự do nhưng vẫn đủ để giành huy chương vàng Olympic đầu tiên cho hạng mục trượt băng đơn nam của Nhật Bản.

Tháng 3 năm 2014, Hanyu xếp thứ 3 tại phần thi ngắn, và xếp thứ 1 tại bài thi tự do và giành huy chương vàng chung cuộc tại giải Vô Địch Thế giới 2014 ở Saitama, Nhật Bản với 0.33 điểm cách biệt trước người về nhì Tatsuki Machida.

Mùa giải 2014–2015[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu tại giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 2015

Hanyu rút tên khỏi danh sách tham gia Finlandia Trophy 2014 bởi chấn thương lưng. Tháng 11, 2014, anh tham gia Cup of China 2014 tại Thượng Hải, xếp thứ 2 sau bài thi ngắn. Ngay trước bài thi tự do, anh đã va chạm mạnh trên sân băng với vận động viên người Trung Quốc Yan Han trong 6 phút khởi động và bị nhiều chấn thương, phải băng bó ở trán và cằm. Sau đó, anh tiếp tục tham gia thi đấu, ngã 5 lần, xếp thứ 2 tại phần thi tự do và về nhì chung cuộc. Sau cuộc thi, anh phải khâu vết thương trên đầu và cằm, rồi quay về Nhật ngày hôm sau để kiểm tra chấn thương. Ngoài vết thương tại đầu và cằm, anh bị thương ở cơ hoành và đùi trái, bong gân mắt cá chân phải.

Cuối tháng 11, Hanyu vẫn tiếp tục thi đấu tại NHK Trophy 2014, dù chưa hoàn toàn hồi phục. Anh xếp thứ 5 tại phần thi ngắn và thứ 3 phần thi tự do, và giành vị trí thứ 4 chung cuộc. Anh vừa đủ điểm tham gia Grand Prix Final 2014-2015 tại Barcelona, Tây Ban Nha vào tháng 12. Tại đây, anh đã về nhất tại cả bài thi ngắn và bài tự do, trở thành nhà vô địch Grand Prix Final lần thứ 2 liên tiếp, hơn huy chương bạc Javier Fernandez 34.26 điểm.[13]

Cuối tháng 12, Hanyu lần thứ 3 liên tiếp vô địch giải Vô địch trượt băng nghệ thuật toàn Nhật Bản, sau khi về nhất cả hai phần thi ngắn và tự do. Anh phải phẫu thuật bụng ngay sau cuộc thi bởi một biến chứng bẩm sinh. Bác sĩ yêu cầu anh nằm viện khá lâu và anh mất rất nhiều thời gian để hồi phục, điều này ảnh hưởng rất nhiều tới phong độ thi đấu của Hanyu tại giải Vô Địch Thế giới vào tháng 3, năm 2015. Dù vậy, anh vẫn đoạt huy chương Bạc tại giải Vô Địch Thế giới ở Thượng Hải. Sau đó anh tham gia giải World Team Trophy 2015 tại Nhật Bản và đứng nhất ở cả hai phần thi.

Mùa giải 2015–2016: Phá kỷ lục thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu tại Grand Prix Final 2015-2016

Hanyu giành huy chương vàng giải Autumn Classic tại Canada. Sau đó 1 tháng anh giành huy chương bạc tại Skate Canada. Tiếp đó anh vô địch giải NHK Trophy, lập 3 kỷ lục thế giới và trở thành người đầu tiên vượt mốc 200 điểm cho bài thi tự do và vượt mốc 300 điểm tổng.[14] Sau đó anh tiếp tục vô địch Grand Prix Final 2015-2016 cũng tại Barcelona, đây là lần thứ 3 liên tiếp anh vô địch giải này. Hơn thế nữa anh còn phá vỡ kỷ lục thế giới chính mình lập ra 2 tuần trước đó với điểm tống hơn 330.[15] Cuối tháng 12 năm 2015, anh vô địch giải toàn Nhật Bản lần thứ 4 liên tiếp.

Sau giải quốc gia, Hanyu phải nghỉ tập luyện suốt 2 tháng trời do chấn thương chân trái. Nguyên do của chấn thương là do anh tập nhảy cú xoay bốn vòng quad Toe Loop quá nhiều dẫn đến tổn thương sâu và ảnh hưởng tới các cú nhảy khác nữa. Hanyu đến bác sĩ để tiêm thuốc giảm đau nhưng chấn thương vẫn ảnh hưởng rất nhiều đến phong độ của anh. Cú nhảy quad Toe Loop trước đây vốn là sở trường của anh giờ lại là trở ngại do chấn thương. Hanyu phải giảm cú quad Toe Loop, thay vào đó tăng cường nhảy quad Salchow. Hanyu tham dự giải vô địch thế giới 2016 tại Boston trong tình trạng chấn thương. Bài thi ngắn anh đã cố gắng thi tốt. Nhưng ngay sau đó chân anh sưng to rất đau đớn khiến anh mắc lỗi ở bài thi tự do. Rốt cuộc anh giành huy chương bạc. Ngay sau giải vô địch thế giới, Hanyu phải nghỉ tập luyện đến 3 tháng trời vì chấn thương.[16] Anh không tham gia bất kỳ show diễn mùa hè nào.

Mùa giải 2016–2017: Danh hiệu Vô địch Thế giới thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu và Uno Shoma tại giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 2017

Hai giải đấu trong chuỗi Grand Prix mà Hanyu tham gia là Skate Canada và NHK Trophy. Mùa giải này Hanyu sử dụng nhạc nền bài thi ngắn là "Let Go Crazy" của danh ca quá cố Prince, bài thi dài "Hope and Legacy" do Shae-lynn Bourne biên đạo. Bài thi được dựng nên từ hai bản nhạc "Hope and Legacy" và "View of Silence" của Hisaishi Joe. Hanyu tham dự giải Autumn Classic International, anh giành huy chương vàng và trở thành vận động viên trượt băng đầu tiên trong lịch sử thực hiện thành công cú nhảy Quad Loop trong thi đấu chính thức. Hanyu giành huy chương bạc tại Skate Canada 2016, đứng thứ 4 sau bài thi ngắn và đứng thứ nhất trong phần thi tự do. Tiếp đó, tại NHK Trophy, bài thi ngắn của Hanyu đạt 103.89 điểm và bài thi tự do đạt 197.58 điểm (dẫn đầu trong cả hai phần thi), giành tổng điểm là 301.47 để trở thành nhà vô địch. Ở giải đấu Grand Prix Final, Hanyu chiến thắng lần thứ 04 liên tiếp sau khi đứng nhất ở bài thi ngắn và đứng thứ 3 ở bài thi tự do.

Hanyu thông báo rút khỏi giải Vô địch Quốc gia Nhật Bản do mắc bệnh cúm. Mặc dù vậy anh đã được lựa chọn để cạnh tranh tại Giải vô địch Bốn châu lục 2017 và Vô Địch Thế giới 2017 .

Tại Giải vô địch Bốn châu lục địa 2017 , Hanyu xếp thứ 3 sau bài thi ngắn với số điểm 97,04 điểm theo sau Nathan Chen (thứ nhất) 6 điểm và 3.5 điểm sau Uno Shoma (thứ hai). Trong bài thi tự do, nhà vô địch Olympic đã thay đổi thứ tự các cú nhảy và thắng bài thi tự do với 206.67 điểm, chung cuộc giành huy chương bạc sau Nathan Chen (ít hơn 4 điểm) và hơn huy chương đồng Uno Shoma 15 điểm.

Tại Giải Vô địch Thế giới 2017 tại Phần Lan, Hanyu xếp thứ 5 sau bài thi ngắn với số điểm 98.39 do bị lỗi cú nhảy kết hợp và bị trừ điểm bắt đầu muộn. Trong bài thi tự do, Hanyu đã thực hiện hoàn hảo tất cả các cú nhảy và ghi được 223.20 điểm, phá kỷ lục thế giới của chính mình lần thứ 11, và giành huy chương vàng chung cuộc. Chung cuộc, Hanyu là người duy nhất liên tiếp đạt huy chương trong 4 kỳ Vô địch Thế giới từ 2014, 2015, 2016 và 2017 (2 vàng, 2 bạc).

Mùa giải 2017-2018: Huy chương vàng Olympic thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Cho mùa giải 2017-18, Hanyu sử dụng lại bài thi ngắn "Ballade No.1" của Chopin do Jeffrey Buttle biên đạo (2014-2015, 2015-2016) và bài thi tự do "Seimei" nhạc nền bộ phim Âm Dương Sư (2015-2016) với cấu trúc bài thi khó hơn so với năm 2015-2016. Đây là bài thi được Shae-lynn Bourne biên đạo.

Hai giải đấu trong Grand Prix series mà anh tham gia là Rostelecom Cup tại Nga và NHK Trophy tại quê nhà Nhật Bản.

Tại giải đấu đầu tiên của mùa giải, Skate Canada Autumn Classic International, bài thi ngắn của Hanyu đạt 112.72 điểm, phá vỡ kỷ lục thế giới do chính anh lập nên ở Grand Prix Final 2015-2016 (110.95). Hanyu thực hiện tốt toàn bộ các cú nhảy, 02 trong số đó nhận được điểm thưởng tuyệt đối (+3.00) từ các trọng tài. Anh không sử cú 4Lo trong bài thi do cơn đau ở đầu gối phải. Ở phần thi tự do, anh nhảy hỏng cú nhảy đầu tiên từ 3Lz thành 1Lz, ngã ở cú 3A, tiếp đó không hoàn thành 3 cú nhảy theo dự định và tiếp đất xấu cú 4T, bị giảm độ khó. Hanyu được 155.52 điểm và về nhì sau Fernandez.

Tại Rostelecom Cup 2017, Hanyu đứng thứ 2 sau bài thi ngắn. Anh xoay không đủ vòng cú nhảy 4Lo đầu tiên và gần như mất thăng bằng sau khi tiếp đất, đồng thời ngã ở cú nhảy cuối cùng (4T3T). Ngày tiếp theo, Hanyu lần đầu tiên thực hiện thành công cú nhảy 4Lz trong thi đấu và đạt được điểm thưởng 1.14 cho cú nhảy này. Mặc dù mắc lỗi ở 02 trong số những lần nhảy còn lại, bài biểu diễn vẫn đạt vị trí thứ nhất trong phần thi tự do với số điểm 195.92. Chung cuộc, Hanyu đứng thứ thứ 2 sau Nathan Chen (Mỹ) với cách biệt khoảng 3 điểm.

Hanyu bị chấn thương dây chằng bên mắt cá chân phải trong khi tập cú nhảy 4Lz ngày 9/11/2017, khiến anh phải rút lui khỏi giải đấu NHK Trophy, đồng nghĩa với việc từ bỏ việc dành chức vô địch Grand Prix Final lần thứ 5 liên tiếp. Vì việc hồi phục kéo dài hơn dự tính, Hanyu tiếp tục phải rút lui khỏi giải Vô địch Quốc gia Nhật Bản (2017 Japanese National Championships). Mặc dù không thể có mặt tại giải đấu quyết định suất tham gia Olympic này, anh vẫn giữ 01 vị trí trong đội tuyển nhờ có vị trí thứ nhất trong Bảng xếp hạng thế giới và vai trò đương kim vô địch thế giới.

Vào ngày 24/12/2017, Liên đoàn Trượt băng Nhật bản chính thức thông báo Hanyu sẽ đại diện cho Nhật Bản thi đấu tại Olympic 2018 tại Pyeongchang, Hàn Quốc và Giải vô địch Trượt băng Thế giới 2018 tại Milan, Italy. Ngày 3/2/2018, Liên đoàn thông báo Hanyu sẽ không tham gia hạng mục đồng đội ở Olympic để tập trung huấn luyện tại Toronto chuẩn bị cho hạng mục cá nhân.

Olympic Mùa Đông 2018

Hanyu có mặt tại Hàn Quốc vào ngày 11/2, dưới sự bảo vệ của đội ngũ an ninh và sự săn đón mạnh mẽ của giới truyền thông. Các buổi tập luyện của anh ở Olympic luôn là mục tiêu của báo chí và có sự tham gia của hàng trăm phóng viên. Tại buổi họp báo chính thức của Hanyu ngày 13/2, anh cho biết đã không thể tập luyện trên sân băng cho đến tận tháng 1 và bắt đầu tập nhảy 3 vòng chỉ 3 tuần và nhảy 4 vòng chỉ 2 tuần trước giải đấu, và vẫn chưa quyết định yếu tố kỹ thuật nào sẽ được sử dụng trong bài thi.

Ngày 16/2, Hanyu biểu diễn phần thi ngắn một cách hoàn hảo, dành được 111.68 điểm, giúp anh dẫn đầu. Điểm số này chỉ thấp hơn 1.04 điểm so với thành tích cá nhân của anh, đồng thời cũng là kỷ lục thế giới hiện tại. Ngày tiếp theo, anh đạt 206.17 điểm với bài thi tự do khá tốt gồm 4 cú Quad, 3 trong số đó tiếp đất hoàn hảo. Tổng số điểm 317.85 giúp anh chiến thắng ngôi vô địch Olympic lần thứ 2 liên tiếp, một thành tích mà không ai đạt được kể từ thời kì vận động viên Dick Button (1948, 1952). Huy chương vàng của Hanyu cũng là huy chương thứ 1000 trong lịch sử của Thế vận hội mùa đông. Đứng chung bục nhận giải với anh là người đồng hương Uno Shoma (HC bạc) và người bạn cùng CLB Javier Fernandez (HC đồng).

Trong buổi họp báo ngày 18/2, Hanyu cho biết anh đã phải sử dụng thuốc giảm đau liều mạnh khi tập luyện và thi đấu ở Olympic lần này, nhấn mạnh rằng nếu không dùng thuốc, anh không thể bật nhảy hoặc tiếp đất. Chấn thương mà Hanyu gặp phải từ tháng 11 khiến anh không thể thi đấu trong 03 tháng liên tục và phải giảm độ khó của bài thi nghiêm trọng hơn dự đoán. Anh chia sẻ rằng kế hoạch thi đấu trong tương lai của anh vẫn chưa được quyết định bởi chấn thương vẫn chưa lành và anh muốn tập trung hồi phục hoàn toàn. Mặc dù vậy, Hanyu cho biết anh không có ý định giải nghệ, mục tiêu tiếp theo là thực hiện thành công cú 4A, cú nhảy mà chưa một ai dám đưa vào thi đấu.

Mùa giải 2018-2019: Trở về cội nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Với mùa giải ngày, vào tháng 8/2018, Hanyu giới thiệu bài thi ngắn mang tên "Otoñal" (âm nhạc: Raúl di Blasio) do Jeffrey Buttle biên đạo, bản nhạc này từng được Johnny Weir sử dụng trong bài thi tự do vào mùa giải 2004-2005. Bài thi tự do có tên "Origin", kết hợp từ hai bản nhạc "Art on Ice" và "Magic Stradivarius" của Edvin Marton, biên đạo bởi Shae-Lynn Bourne, hai bản nhạc này cũng từng được một thần tượng khác của Hanyu là Evgeni Plushenko sử dụng làm bài thi tự do trong mùa giải 2003-2004 với cái tên "Tribute to Nijinsky". Lý giải về việc lựa chọn nhạc nền từng được thần tượng trong bộ môn trượt băng của mình sử dụng, Hanyu nói: "Trước đây, tôi phải đáp lại sự kỳ vọng của nhiều người và buộc phải đạt được kết quả tốt. Tôi đã chịu đựng rất nhiều áp lực như vậy. Tuy nhiên, tôi xem những kết quả đó như một sự thỏa mãn từ việc được giải thoát khỏi áp lực rằng mình phải thành công. Tôi nghĩ là từ giờ trở về sau, tôi có thể trượt vì chính bản thân mình. Tôi muốn quay trở về thuở ban sơ nơi bắt đầu đam mê trượt băng của mình".[17]

Hanyu đã ghi danh tham gia hai giải đấu thuộc Grand Prix series là Grand Prix Helsinki và Rostelecom Cup.

Kĩ thuật trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu nổi tiếng là vận động viên có tốc độ trượt nhanh đến chóng mặt, ngang ngửa với Patrick Chan của Canada. Kỹ thuật trượt băng của anh tiến bộ vượt bậc kể từ khi chuyển sang Canada luyện tập. Hiện nay anh là người nhận được điểm kỹ thuật trượt (SS) cao nhất.

Hanyu nhảy ngược chiều kim đồng hồ như hầu hết các vận động viên khác. Hanyu là một trong số ít vận động viên xuất chúng ở cả quad Toe (4 vòng trên không) và 3A (3,5 vòng trên không). Anh có thể trình diễn các cú nhảy liên hợp cực khó như 4Lo3A, 3A-3A, 4T-3A, 4S-3A và thậm chí 4T-3A-3A-3A trong show trượt băng. Anh có thể nhảy 3A kết hợp với 3T và 1lo3S ở nửa sau của bài thi và nhận được nhiều điểm thưởng.

Cú nhảy khó nhất hiện giờ của Hanyu hiên giờ là 4Lo tức quad Loop, và tỷ lệ thành công trong tập luyện của anh rất cao. Cú quad Salchow trước kia từng khiến gặp nhiều khó khăn, nhưng từ 2 mùa giải trở lại đây, anh đã có tiến bộ rõ rêt và tại giải Grand Prix Final anh còn nhận được điểm thưởng tuyệt đối cho cú 4S. Hanyu rất nhiều lần nhận được điểm thưởng tuyệt đối cho các cú nhảy quad và 3A.

Các động tác xoay tại chỗ (spin) của anh cũng được đánh giá rất cao vì tốc độ xoay tốt và tâm xoay ổn định. Anh có thể thực hiện các tư thế xoay tại chỗ rất khố như tư thế Biellmann và doughnut, cả hai đều là những tư thế xoay tại chỗ rất khó đối với các vận động viên nam vì cần có cơ thể mềm dẻo và linh hoạt. Hiện nay anh cũng là người được điểm thưởng cao nhất cho động tác xoay tại chỗ.

Hanyu và các vận động cùng đoạt huy chương tại Giải vô địch thế giới 2012.

Kỉ lục Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đến nay, Yuzuru Hanyu đã liên tục phá 12 kỉ lục thế giới:

Thành tích tổng hợp(SP + FS)
Ngày Điểm Giải đấu
12/12/2015 330.43 2015-16 Grand Prix Final
28/11/2015 322.40 2015 NHK Trophy
Thành tích cho Bài thi ngắn
Ngày Điểm Giải đấu
22/09/2017 112.72 2017 CS Autumn Classic International
10/12/ 2015 110.95 2015-16 Grand Prix Final
27/11/2015 106.33 2015 NHK Trophy
13/2/2014 101.45 2014 Winter Olympics
5/12/2013 99.84 2013-14 Grand Prix Final
23/11/2012 95.32 2012 NHK Trophy
19/10/2012 95.07 2012 Skate America
Thành tích bài thi tự do
Ngày Điểm Giải đấu
1/4/2017 223.20 2017 World Championships
12/12/2015 219.48 2015-16 Grand Prix Final
28/11/2015 216.07 2015 NHK Trophy

Bài biểu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Bài thi ngắn Bài thi tự do Bài trình diễn
2018-2019
  • Otoñal

Sáng tác: Raúl Di Blasio
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Origin:
  • Art on Ice

Sáng tác: Edvin Marton

  • Magic Stradivarius

Sáng tác Edvin Marton
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

2017-2018
  • Chopin Ballade No. 1

Sáng tác: Frédéric Chopin
Biên đạo: Jeffrey Buttle

  • Seimei

(Nhạc nền phim Onmyōji)
Sáng tác: Shigeru Umebayashi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Wings of Words

Sáng tác: Yukinojo Mori, Yoko Kasinagaya, Naohisa Taniguchi
Thể hiện: CHEMISTRY

Hope and Legacy:[18]
  • View of Silence

(Album: Pretender)

  • Asian Dream Song

(Album: Piano Stories II – The Wind of Life)

Sáng tác: Joe Hisaishi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Haru yo, Koi

Sáng tác: Yumi Matsutoya
Thể hiện: Shinya Kiyozuka
Biên đạo: David Wilson

  • Notte stellata (The Swan)

Sáng tác: Tony Renis, Camille Saint-Saëns
Thể hiện: Il Volo
Biên đạo: David Wilson

2016-2017
  • Let's Go Crazy

Thể hiện: Prince
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Hope and Legacy:
  • View of Silence

(Album: Pretender)

  • Asian Dream Song

(Album: Piano Stories II – The Wind of Life)

Sáng tác: Joe Hisaishi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Notte stellata (The Swan)

Sáng tác: Tony Renis, Camille Saint-Saëns
Thể hiện: Il Volo
Biên đạo: David Wilson

2015-2016
  • Chopin Ballade No. 1

Sáng tác: Frédéric Chopin
Biên đạo: Jeffrey Buttle

  • Seimei

(Nhạc nền phim Onmyōji)
Sáng tác: Shigeru Umebayashi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Requiem of Heaven and Earth

(Trích từ bản nhạc Requiem for the Great East Japan Earthquake 3.11
- Khúc truy điệu cho Thảm họa động đất - sóng thần ngày 11/03/2011)
Sáng tác: Yasunobu Matsuo
Biên đạo: Kenji Miyamoto

2014-2015

Sáng tác: Andrew Lloyd Webber
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Parisienne Walkways

Sáng tác: Gary Moore
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Thể hiện: Sarah Alainn
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Hana wa Saku

Thể hiện Fumiya Sashida
Biên đạo: Nanami Abe

2013-2014
  • Parisienne Walkways

Sáng tác: Gary Moore
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Sáng tác: Nino Rota
Biên đạo: David Wilson

  • O Verona

(Nhạc phim Romeo + Juliet)
Biên soạn: Craig Armstrong

  • Kissing You

(from Romeo + Juliet)
by Des'ree

  • Escape

(Nhạc phim Plunkett & Macleane)
by Craig Armstrong
choreo. by Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

  • Hana Ni Nare

Thể hiện: Fumiya Sashida
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Story

Thể hiện: AI
Biên đạo: Kenji Miyamoto

Biên soạn: Riccardo Cocciante
Biên đạo: David Wilson

  • Étude in D-sharp minor, Op. 8, No. 12

Sáng tác: Alexander Scriabin
Thể hiện: Maksim Mrvica
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

2012-2013

Biên soạn: Riccardo Cocciante
Biên đạo: David Wilson

  • Hana Ni Nare

Thể hiện: Fumiya Sashida
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Hello, I Love You

Thể hiện: The Doors
Adam Freeland remix
Biên đạo: Kurt Browning

2011-2012
  • Étude in D-sharp minor, Op. 8, No. 12

Sáng tác: Alexander Scriabin
Thể hiện: Maksim Mrvica
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • O Verona

(Nhạc phim) Romeo + Juliet)
Sáng tác: Craig Armstrong

  • Kissing You

(Nhạc phim Romeo + Juliet)
Thể hiện: Des'ree

  • Escape

(Nhạc phim Plunkett & Macleane)
Biên soạn: Craig Armstrong
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

  • Somebody to Love

Thể hiện: Justin Bieber
Biên đạo: Nanami Abe

2010-2011
  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Pablo de Sarasate
Biên đạo: Nanami Abe

  • Vertigo

Thể hiện: U2
Biên đạo: Nanami Abe

2009-2010
  • The Bait
  • Bare Island

(Nhạc phim Mission: Impossible II)
Biên soạn: Hans Zimmer
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Sergei Rachmaninov
Biên đạo: Nanami Abe

  • Change

Thể hiện: Monkey Majik + Yoshida Brothers
Biên đạo: Nanami Abe

2008-2009
  • Sing, Sing, Sing

Sáng tác: Louis Prima
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Igor Stravinsky
Biên đạo: Nanami Abe

  • Sing, Sing, Sing

Sáng tác: Louis Prima
Biên đạo: Nanami Abe

2007-2008
  • Amazonic

Sáng tác: Maksim Mrvica

Sáng tác: Camille Saint-Saëns
Biên đạo: Megumu Seki

  • Summer Storm

(Concerto L'estate (Mùa hạ) thuộc bộ Concerto Bốn mùa)
Sáng tác: Antonio Vivaldi
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Megumu Seki

2006-2007
  • From Russia with Love

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

2005-2006

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

  • From Russia with Love

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

Thành tích[19][sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu và các vận động viên đoạt huy chương tại giải Four Continents 2011
Hanyu tại lễ trao huy chương của giải Thiếu Niên Thế giới 2010

2008–Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế - cấp độ Trưởng Thành
Event 2008–09 2009–10 2010–11 2011–12 2012–13 2013–14 2014–15 2015–16 2016–17 2017–18 2018–19
Olympic Thứ 1 Thứ 1
Giải Vô Địch Thế giới Thứ 3 Thứ 4 Thứ 1 Thứ 2 Thứ 2 Thứ 1 WD
Four Continents Thứ 2 Thứ 2 Thứ 2
Grand Prix Final Thứ 4 Thứ 2 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1
GP Bompard Thứ 2
GP Cup of China Thứ 4 Thứ 2
GP NHK Trophy Thứ 4 Thứ 1 Thứ 4 Thứ 1 Thứ 1 WD
GP Rostelecom Thứ 7 Thứ 1 Thứ 2 TBD
GP Skate America Thứ 2
GP Skate Canada Thứ 2 Thứ 2 Thứ 2
GP Finland TBD
CS Finlandia Thứ 1 Thứ 1
CS Nebelhorn Thứ 1
SC Autumn Classic Thứ 1 Thứ 1 Thứ 2 Thứ 1
Quốc tế: Cấp độ Thiếu Niên
Thiếu Niên Thế giới Thứ 12 Thứ 1
JGP Final Thứ 1
JGP Croatia Thứ 1
JGP Italy Thứ 5
JGP Poland Thứ 1
Cấp Quốc gia
Vô Địch Nhật Bản Thứ 8 Thứ 6 Thứ 4 Thứ 3 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 WD WD
Thiếu Niên Nhật Bản Thứ 1 Thứ 1
Giải đồng đội
Olympic Thứ 5 T
(Thứ 1 P)
World Team
Trophy
Thứ 3 T
(Thứ 1 P)
TBD = Sẽ thi đấu, WD = Rút lui
T = Kết quả đồng đội; P: Kết quả cá nhân. Huy chương trao cho cả đội.

2004–2008[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế
Sự kiện 2004–05 2005–06 2006–07 2007–08
Skate Copenhagen thứ 1 N.
Quốc gia
Thiếu Niên Nhật Bản thứ 7 thứ 3
Thiếu Nhi Nhật Bản thứ 1 B. thứ 2 B. thứ 3 A. thứ 1 A.
Levels: N. = Thiếu Nhi; A. = Thiếu Nhi A; B. = Thiếu Nhi B

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 2004 Japan Novice Championships (Novice B)
  2. ^ 2006 Japan Novice Championships (Novice A)
  3. ^ 2006 Japan Junior Championships
  4. ^ 2007 Japan Novice Championships (Novice A)
  5. ^ 2007 Japan Junior Figure Skating Championships
  6. ^ 2008 Japan Junior Figure Skating Championships
  7. ^ 2008 Japan Figure Skating Championships
  8. ^ Japan Junior Figure Skating Championships 2009
  9. ^ Hanyu edges Song for junior title accessed ngày 5 tháng 12 năm 2009
  10. ^ Hanyu nabs Junior World title
  11. ^ “Entries Men- All 6 Events”. International Skating Union. 
  12. ^ ISU 2011-2 Grand Prix Assignments – men
  13. ^ “Kết quả GPF 2014”. 
  14. ^ “Kết quả NHK 2015”. 
  15. ^ “Kết quả GPF 2015”. 
  16. ^ “Hanyu nghỉ chấn thương”. 
  17. ^ https://www.ifsmagazine.com/hanyu-skating-for-himself-this-season/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  18. ^ "FIGURE SKATING/ Hanyu shows no signs of injured ankle at ice show in Nagano". The Yomiuri Shimbun. June 10, 2018. 
  19. ^ “Tổng hợp thành tích của Hanyu trên trang web của liên đoàn ISU”. 

Phương tiện liên quan tới Yuzuru Hanyu tại Wikimedia Commons