Hanyu Yuzuru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yuzuru Hanyu
2018 Rostelecom Cup Yuzuru Hanyu IMG 9280.jpg Hanyu tại lễ trao huy chương giải Rostelecom Cup 2018 (Nga)
Thông tin cá nhân
Đại diện cho quốc giaNhật Bản
Sinh7 tháng 12, 1994 (24 tuổi)
Sendai, Miyagi, Nhật Bản
Quê nhàSendai
Nơi cư trúSendai
Cao1,72 m (5 ft 8 in)
Huấn luyện viênBrian Orser, Tracy Wilson, Ghislain Briand
Huấn luyện viên trước đâyAbe Nanami, Tsuzuki Shoichiro
Biên đạo múaShae-lynn Bourne, Jeffrey Buttle, David Wilson
Biên đạo múa trước đâyMiyamoto Kenji, Abe Nanami, Kurt Browning
Câu lạc bộ trượt băng nghệ thuậtANA Minato Tokyo
Toronto Cricket Curling and Skating Club
Bắt đầu trượt băng từ1998
Điểm cá nhân tốt nhất do ISU chấm
Điểm tổng322,59
Skate Canada 2019
Short program110,53 (Kỷ lục thế giới)
Rostelecom Cup 2018
Free skate212,99
Skate Canada 2019
Tên tiếng Nhật
Kanji羽生 結弦
Hiraganaはにゅう ゆづる

Hanyu Yuzuru (羽生 (はにゅう) 結弦 (ゆづる) (Vũ Sinh Kết Huyền) Ha'nyū Yuzuru?, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1994) là vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật Bản, thi đấu ở hạng mục đơn nam. Anh là nhà vô địch Olympic 2014 và 2018, Vô Địch Thế giới 2014 và 2017, 4 lần liên tiếp vô địch Grand Prix Final (2013-2014 đến 2016-2017), huy chương bạc Four Continents 2011, 2013, 2017, vô địch giải Thiếu Niên Thế giới 2010 và Grand Prix Final Thiếu Niên 2009-2010, 4 lần liên tiếp vô địch Quốc gia Nhật Bản (2012-2015). Anh còn đoạt huy chương trong 4 giải Vô Địch Thế giới khác gồm huy chương đồng 2012, huy chương bạc năm 2015, 2016 và 2019.

Hanyu đã đi vào lịch sử với tư cách vận động viên nam người châu Á đầu tiên đoạt huy chương vàng Olympic hạng mục đơn nam tại Olympic 2014 (Sochi). Ở độ tuổi 19, anh trở thành vận động viên đơn nam trẻ nhất vô địch Olympic sau Dick Button (năm 1948). Năm 2018, Hanyu tiếp tục con đường trở thành huyền thoại với thành tích vô địch 2 kỳ Olympic liên tiếp tại Olympic Pyeongchang, điều mà đã 66 năm chưa có ai làm được. Anh đồng thời cũng là vận động viên châu Á đầu tiên chiến thắng giải Vô Địch Thế giới nhiều lần.

Được biết đến với tư cách là vận động viên trượt băng vĩ đại nhất trong lịch sử, Hanyu đã phá vỡ 18 kỷ lục thế giới, trong đó hầu hết là kỷ lục do chính anh thiết lập. Anh là một trong những người mở đường của kỷ nguyên quad (nhảy 4 vòng). Theo hệ thống tính điểm từ mùa giải 2017-2018 trở về trước, Hanyu là người đầu tiên vượt 100 điểm bài thi ngắn, 200 điểm bài thi tự do và 300 điểm tổng, đồng thời là người duy nhất vượt mức 110, 220 và 330 điểm. Đối với hệ thống tính điểm mới (kể từ mùa giải 2018-2019), anh cũng là người đầu tiên vượt mức 110 điểm bài thi ngắn, 200 điểm bài thi tự do và 300 điểm tổng. Nhờ khả năng kết hợp các động tác kỹ thuật và khả năng trình diễn tuyệt vời, Hanyu được coi là tiêu chuẩn vàng trong trượt băng nghệ thuật đơn nam.

Nhờ những cống hiến của mình, Hanyu đã nhiều lần được trao tặng các danh hiệu danh giá, trong đó quan trọng nhất phải kể đến Giải thưởng Danh dự Quốc dân (Tiếng Nhật: 国民栄誉賞, tiếng Anh: People's Honour Award) được đích thân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trao tặng năm 2018, Huân chương danh dự ribbon tím (năm 2014 và 2018).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu sinh ra và lớn lên tại thành phố Sendai, tỉnh Miyagi, Nhật Bản. Anh có một người chị tên là Saya hơn 4 tuổi. Bố mẹ anh đặt tên Yuzuru (結弦 - Kết Huyền) mang ý nghĩa "dây cung được kéo căng", tượng trưng cho sự tự tin, sức mạnh và lòng ngay thẳng. Bố mẹ anh muốn anh có một cuộc sống chính trực, đường hoàng và mạnh mẽ, không cúi đầu trước khó khăn.

Anh bị bệnh suyễn bẩm sinh và phải uống thuốc hằng ngày. Ngoài trượt băng ra, anh rất yêu thích môn bóng chày và từng có ý định bỏ trượt băng để tập bóng chày.

Anh từng theo học trường trung học thể thao Tohoku, nơi sản sinh ra các vận động trượt băng nổi tiếng của Nhật Bản như Honda Takeshi và Arakawa Shizuka. Hanyu có khả năng tập trung rất tốt, hồi còn đi học anh là học sinh giỏi toàn diện. Anh thích các môn toán, tự nhiên và không thích tiếng Anh. Tuy vậy, khi chuyển sang Canada luyện tập, tiếng Anh của Hanyu cũng đã tiến bộ khá nhiều.

Căn nhà của gia đình anh bị hư hỏng sau đại thảm họa động đất và sóng thần Tōhoku 2011. Sau khi anh trở nên quá nổi tiếng và bị báo giới làm phiền, gia đình anh đã phải di chuyển đến một nơi khác kín đáo hơn. Hiện tại anh là sinh viên Đại học Waseda, chương trình đào tạo trực tuyến chuyên ngành Human Informatics and Cognitive Sciences (tạm dịch: Nhân học & Khoa học nhận thức).

Hanyu rất thích chú gấu Winnie the Pooh và thường được nhận những món quà liên quan đến Pooh từ người hâm mộ khi kết thúc phần thi của mình, đến mức "Cơn mưa gấu Pooh" trút xuống sân băng đã trở thành khung cảnh quen thuộc đối với khán trả theo dõi trượt băng nghệ thuật.

Hanyu không có bất kỳ tài khoản mạng xã hội nào như facebook hay twitter. Anh nói là vì muốn nghe theo lời khuyên của huấn luyện viên rằng nên tránh xa mạng xã hội để không bị ảnh hưởng đến tâm lý.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu trượt băng khi 4 tuổi khi theo chị gái đến sân băng. Cậu tham gia thi đấu lần đầu tiên ở giải quốc gia cấp độ Thiếu Nhi (Novice) vào mùa giải 2004-2005. Cậu thi đấu cấp độ Thiếu Nhi B là cấp độ trẻ hơn trong hai cấp độ Thiếu Nhi và giành huy chương vàng ở giải toàn quốc.[1]

Sau đó sân băng tại quê nhà đóng cửa do vấn đề tài chính, khiến cậu thiếu thời gian tập luyện. Abe Nanami trở thành huấn luyện viên của cậu vào thời điểm này. Trong mùa giải 2006-2007, Hanyu thi đấu ở hạng mục Thiếu Nhi A và đạt huy chương đồng.[2] Nhờ đó cậu được tham gia giải đấu ở cấp độ cao hơn là cấp độ Thiếu Niên (Junior) và giành vị trí thứ 7.[3]

Sân băng Hanyu tập luyện tái mở cửa vào năm 2007. Cậu thi đấu ở cấp độ Thiếu Nhi A và giành chiến thắng.[4] Nhờ đó cậu được tham dự giải cao hơn là Thiếu Niên Nhật Bản 2007 và giành huy chương đồng.[5]

Cấp độ Thiếu Niên (Junior)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu chuyển hẳn lên cấp độ Thiếu Niên (Junior) và thi đấu tại hệ thống Grand Prix Thiếu Niên của Liên đoàn trượt băng thế giới ISU. Sau loạt giải Grand Prix Thiếu Niên, cậu tham gia giải Thiếu Niên Nhật Bản 2008.[6] Cuộc thi này vừa là giải Thiếu Niên toàn quốc vừa là kì sát hạch cho giải Thiếu Niên Thế giới. Nhờ thắng cuộc, Hanyu đạt đủ tiêu chuẩn tham dự giải Thiếu Niên Thế giới 2009.

Khi mới 13 tuổi, cậu tham gia thi đấu ở cấp độ Trưởng Thành (Senior) tại giải Vô Địch Nhật Bản 2008 và xếp hạng thứ 8.[7] Tháng 2 năm 2009, tại giải Thiếu Niên thế giới 2009, Hanyu thi đấu không tốt do cơ thể còn đang lớn và chưa thích nghi được với kỹ thuật, cậu xếp thứ 12 chung cuộc.

Mùa giải 2009–2010[sửa | sửa mã nguồn]

Yuzuru Hanyu tại Giải vô địch thiếu niên thế giới 2010

Trong mùa giải 2009-2010, Hanyu chiến thắng cả hai giải Grand Prix Thiếu Niên. Tại giải Thiếu Niên Nhật Bản 2009, cậu thắng bài thi ngắn, đạt vị trí thứ 2 sau bài thi tự do và giành chiến thắng chung cuộc.[8] Sau đó, cậu tham gia giải Grand Prix Final Thiếu Nhiên, tại đây, cậu giành chiến thắng và lập kỉ luc cá nhân mới.[9] Tại giải đấu Thiếu Niên Nhật Bản 2009-2010, cậu giành vị trí thứ nhất.

Trong mùa này cậu cũng tham gia tranh giải Vô Địch Nhật Bản ở cấp độ Trưởng Thành và giành vị trí thứ 6. Nhờ vào bảng thành tích này, Hanyu đã được chọn thi đấu giải Thiếu Niên Thế giới 2010. Cậu chiến thắng chung cuộc sau khi xếp thứ 3 sau bài thi ngắn và vị trí thứ nhất sau bài thi tự do và lập kỉ lục cá nhân với tổng điểm là 216,10, trở thành vận động viên nam thứ tư của Nhật Bản chiến thắng giải Thiếu Niên Thế giới.[10]

Cấp độ Trưởng Thành (Senior)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu chuyển lên cấp độ trưởng Thành vào mùa giải 2010-2011. Trong hệ thống giải Grand Prix của ISU mùa này, cậu thi đấu tại NHK Trophy 2010 và Cup of Russia.[11] Tại giải đầu tiên là NHK Trophy, Hanyu đứng vị trí thứ 5 ở bài thi ngắn; trong bài thi tự do, Hanyu đã thực hiện thành công cú 4T (xoay 4 vòng toe loop trên không) đầu tiên của mình trong hệ thống giải ISU và xếp thứ 4 chung cuộc. Hanyu kết thúc với vị trí thứ 7 tại giải Cup of Russia. Trong giải Vô Địch Nhật Bản 2010, Hanyu xếp thứ 2 sau bài thi ngắn, bị ngã trong bài thi tự do và kết thúc với vị trí thứ 4 chung cuộc. Nhờ thành tích này, cậu được lựa chọn đi thi đấu ở giải Four Continents 2011, tại đây cậu giành được huy chương bạc và đạt được kỉ lục cá nhân mới.

Khi Hanyu đang tập trên sân trượt băng ở quê nhà Sendai thì trận động đất và sóng thần Tōhoku 2011 tấn công thành phố và các khu xung quanh. Đường ống nước dưới mặt băng bị bung ra vì tác động của động đất và sóng thần. Hanyu phải chuyển sang tập luyên ở YokohamaHachinohe, Aomori cho tới khi sân băng ở quê nhà được mở lại vào tháng 7 năm 2011. Suốt mùa hè năm 2011, cậu đã tham gia tận 60 show trượt băng và xem đó như là dịp để luyện tập. Vào tháng 4, cậu và các vận động viên trượt băng khác tham gia vào một chương trình trượt băng để gây quỹ cho những nạn nhân của động đất và sóng thần Tōhoku 2011.

Mùa giải 2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu cùng cựu huấn luyện viên Abe Nanami tại giải Rostelecom Cup 2011.

Hanyu bắt đầu mùa giải 2011-2012 với chiến thắng tại giải Nebelhorn Trophy. Cậu xếp thứ nhất ở cả hai bài thi ngắn và bài thi tự do với tổng điểm 226,26. Trong hệ thống giải Grand Prix 2011-2012, cậu tham gia thi đấu giải Cup of China 2011 và giải Rostelecom Cup 2011.[12] Cậu kết thúc ở vị trí thứ 4 tại Cup of China, sau đó chiến thắng Rostelecom Cup với một kỉ lục cá nhân mới, nhờ đó, cậu đủ điều kiện tham gia Grand Prix Final cấp độ Trưởng Thành lần đầu tiên, tại đó cậu xếp thứ 4.

Cùng năm, Hanyu giành huy chương đồng tại giải Vô Địch Nhật Bản 2011, giành được suất trong đội tuyển Nhật Bản đi thi đấu tại giải Vô Địch Thế giới 2012. Tại giải thế giới, Hanyu xếp thứ 7 sau bài thi ngắn nhưng vươn lên vị trí thứ 2 sau bài thi tự do. Cậu giành được huy chương đồng chung cuộc với tổng điểm 251,06, đứng sau huy chương vàng Patrick Chan của Canada và huy chương bạc là đồng đội Daisuke Takahashi từ Nhật Bản.

Tháng 4 năm 2012, Hanyu chuyển đến Toronto (Canada) để theo học huấn luyện viên Brian Orser. Brian Orser từng hai lần giành huy chương bạc Olympic và nổi tiếng với việc dẫn dắt Kim Yuna (Hàn Quốc) giành huy chương vàng Olympic 2010. Từ đây, Hanyu phải thường xuyên bay tới Toronto trong khi vẫn đang học trung học ở Sendai. Sau khi chuyển tới Canada, Hanyu tăng thời gian luyện tập trên sân băng lên 3-4 tiếng/ngày so với 1-2 tiếng/ngày so với trước đó. Sự thay đổi này là do nhiều nguyên nhân, từ việc hạn chế thời gian luyện tập ở Sendai do phải đi học và căn bệnh hen suyễn bẩm sinh. Trong tháng 4 năm này, Hanyu xuất bản cuốn hồi ký có tên "Ngọn lửa xanh" ở Nhật Bản, anh giành toàn bộ tiền bản quyền tác giả và lợi nhuận cho quỹ từ thiện nạn nhân động đất và sóng thần Tōhoku 2011.

Mùa giải 2012-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu bắt đầu mùa thi đấu ở giải Finlandia Trophy và giành huy chương vàng. Anh thực hiện 2 cú nhảy quad (xoay 4 vòng trên không), là quad Toe và quad Salchow trong bài thi tự do. Đây là lần đầu tiên Hanyu thực hiện quad Salchow khi thi đấu.

Hanyu giành huy chương bạc ở giải Grand Prix đầu tiên của mùa là Skate America. Trong giải đấu thứ 2 - NHK Trophy ở Sendai, anh ghi được 95,32 điểm sau bài thi ngắn, lập kỉ lục thế giới mới, và tiếp tục giành huy chương vàng trên quê hương. Hanyu đã đủ tiêu chuẩn cho giải Grand Prix FinalSochi, và anh giành huy chương bạc trong giải này.

Tháng 1 năm 2013, Hanyu giành được danh hiệu quốc gia đầu tiên tại Giải vô địch Nhật Bản sau khi đứng thứ nhất sau bài thi ngắn và thứ 2 ở bài thi tự do. Anh đạt huy chương bạc tại Four Continents 2013 diễn ra sau đó.

Ở giải Vô Địch Thế giới 2013, anh bị chấn thương nên phong độ rất kém nhưng vẫn cố gắng thi đấu, anh đứng thứ 9 ở bài thi ngắn và thứ 3 ở bài thi tự do và thứ 4 chung cuộc.

Mùa giải 2013-2014: Vận động viên châu Á đầu tiên vô địch Olympic hạng mục đơn nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thế vận hội Mùa đông 2014, Hanyu đã trở thành vận động viên đầu tiên giành huy chương vàng Olympic cho hạng mục trượt băng đơn nam của Nhật Bản

Hanyu bắt đầu mùa thi đấu với giải Finlandia Trophy 2013, anh giành huy chương vàng sau khi đứng thứ nhất cả 2 phần thi. Anh cũng giành được huy chương bạc ở 2 giải Grand Prix là Skate Canada 2013 và Trophée Eric Bompard 2013, giúp anh đủ điều kiện tham gia Grand Prix Final 2013-2014.

Tại Grand Prix FinalFukuoka, Hanyu lập kỉ lục thế giới mới trong bài thi ngắn với 99,84 điểm và giành được huy chương vàng chung cuộc sau khi đứng đầu ở cả hai bài thi ngắn và tự do, đánh bại nhà vô địch thế giới Patrick Chan.

Tháng 11 năm 2013, Hanyu tiếp tục giành được danh hiệu quốc gia thứ 2 sau khi đứng nhất ở cả hai phần thi. Anh tiếp tục được gọi vào đội tuyển quốc gia Nhật Bản tham gia Olympic và Vô Địch Thế giới.

Tại Olympic mùa đông 2014 tổ chức tại Sochi, Hanyu đã phá vỡ kỉ lục thế giới do chính mình thiết lập vào tháng 12/2013, ghi được 101,45 điểm cho phần thi ngắn. Anh là vận động viên đầu tiên đạt trên 100 điểm đối với phần thi này. Hanyu mắc lỗi trong bài thi tự do nhưng vẫn đủ để đứng nhất chung cuộc và ghi danh vào lịch sử với tư cách vận động viên châu Á đầu tiên giành huy chương vàng hạng mục đơn nam.

Tháng 3 năm 2014, Hanyu xếp thứ 3 tại phần thi ngắn, và xếp thứ 1 tại bài thi tự do và giành huy chương vàng chung cuộc tại giải Vô Địch Thế giới 2014 ở Saitama (Nhật Bản) với 0,33 điểm cách biệt trước người về nhì Tatsuki Machida. Anh là người thứ 2 chiến thắng cả 3 giải đấu lớn là Olympic, Vô địch thế giới, Grand Prix Final trong cùng một mùa giải sau Alexei Yagudin (mùa giải 2001-2002).

Mùa giải 2014-2015[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu thực hiện bài thi tự do tại Cup of China 2014 sau tai nạn trong 6 phút khởi động trước bài thi.

Hanyu rút tên khỏi danh sách tham gia Finlandia Trophy 2014 bởi chấn thương lưng. Tháng 11/2014, anh tham gia Cup of China 2014 tại Thượng Hải, xếp thứ 2 sau phần thi ngắn. Ngay trước phần thi tự do, anh đã va chạm mạnh trên sân băng với vận động viên người Trung Quốc Han Yan trong 6 phút khởi động và bị nhiều chấn thương, phải băng bó ở trán và cằm. Sau đó, anh tiếp tục tham gia thi đấu, ngã 5 lần, xếp thứ 2 tại phần thi tự do và về nhì chung cuộc. Sau cuộc thi, anh phải khâu vết thương trên đầu và cằm, rồi quay về Nhật ngày hôm sau để kiểm tra chấn thương. Ngoài vết thương tại đầu và cằm, anh bị thương ở cơ hoành và đùi trái, bong gân mắt cá chân phải.

Cuối tháng 11, Hanyu vẫn tiếp tục thi đấu tại NHK Trophy thuộc hệ thống Grand Prix, dù chưa hoàn toàn hồi phục. Anh xếp thứ 5 tại phần thi ngắn và thứ 3 phần thi tự do, đứng thứ 4 chung cuộc. Anh vừa đủ điểm tham gia Grand Prix Final 2014-2015 tại Barcelona, Tây Ban Nha vào tháng 12. Tại đây, anh đã về nhất cả hai phần thi và vô địch Grand Prix Final lần thứ 2 liên tiếp, hơn huy chương bạc Javier Fernandez 34,26 điểm, đồng thời trở thành vận động viên đơn nam đầu tiên chiến thắng cả 3 giải Grand Prix Final, OlympicVô địch thế giới trong cùng một năm.[13]

Cuối tháng 12, Hanyu lần thứ 3 liên tiếp chiến thắng giải Vô địch quốc gia sau khi về nhất cả hai phần thi ngắn và tự do. Anh phải phẫu thuật bụng ngay sau cuộc thi bởi một biến chứng bẩm sinh. Anh mất khá nhiều thời gian để hồi phục vì bác sĩ yêu cầu phải nằm viện, điều này ảnh hưởng rất nhiều tới phong độ thi đấu của Hanyu tại giải Vô Địch Thế giới 2015. Dù vậy, anh vẫn đoạt huy chương Bạc tại giải này. Sau đó anh tham gia giải World Team Trophy 2015 tại Nhật Bản và đứng nhất ở cả hai phần thi, giành huy chương đồng chung cuộc.

Mùa giải 2015-2016: 6 kỷ lục thế giới với SEIMEI[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu tại Grand Prix Final 2015-2016

Hanyu sử dụng lại bài thi ngắn của mùa giải trước là Ballade no.1 (Chopin), do Jeffrey Buttle biên đạo, và bài thi tự do mới mang tên SEIMEI (ghép từ 7 bản nhạc nền của bộ phim Âm Dương sư), biên đạo bởi Shae-Lynn Bourne.

Hanyu giành huy chương vàng giải Autumn Classic tại Canada. 1 tháng sau đó, anh giành huy chương bạc tại Skate Canada thuộc hệ thống giải Grand Prix. Tiếp theo anh vô địch giải NHK Trophy, lập 3 kỷ lục thế giới với 106,33 bài thi ngắn, 216,07 bài thi tự do và 322,40 điểm tổng, đồng thời trở thành người đầu tiên vượt mốc 200 điểm cho bài thi tự do và 300 điểm tổng.[14] Tháng 12, anh vô địch Grand Prix Final 2015-2016 lần thứ 3 liên tiếp tại Barcelona. Hơn nữa, anh còn phá vỡ 3 kỷ lục thế giới chính mình lập ra 2 tuần trước đó, trở thành người đầu tiên vượt mức 110 điểm cho bài thi ngắn và 330 điểm cho bài thi tự do.[15] Mốc điểm 110 và 330 cho tới nay vẫn chưa có vận động viên nào đạt được.

Cuối tháng 12/2015, anh vô địch Nhật Bản lần thứ 4 liên tiếp.

Sau giải quốc gia, Hanyu phải nghỉ tập luyện suốt 2 tháng do chấn thương chân trái. Nguyên nhân là do anh tập nhảy cú 4T quá nhiều dẫn đến tổn thương sâu và ảnh hưởng tới các cú nhảy khác. Dù đã tiêm thuốc giảm đau nhưng chấn thương vẫn ảnh hưởng rất nhiều đến phong độ của anh. Hanyu tham dự giải vô địch thế giới 2016 tại Boston trong tình trạng chấn thương. Bài thi ngắn anh đã cố gắng thi tốt, nhưng ngay sau đó anh mắc lỗi ở bài thi tự do vì chân sưng to gây đau đớn. Chung cuộc, anh giành huy chương bạc. Chấn thương này khiến Hanyu phải nghỉ tập luyện suốt 3 tháng sau Giải vô địch thế giới.[16]

Mùa giải 2016-2017: Danh hiệu Vô địch Thế giới thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải này Hanyu sử dụng nhạc nền bài thi ngắn là "Let's go Crazy" của danh ca quá cố Prince, bài thi tự do "Hope and Legacy", kết hợp từ hai bản nhạc "Asian Dream song" và "View of Silence" của Hisaishi Joe, do Shae-lynn Bourne biên đạo.

Hanyu tham dự giải Autumn Classic International, anh giành huy chương vàng và trở thành vận động viên trượt băng đầu tiên trong lịch sử thực hiện thành công cú nhảy Quad loop trong thi đấu chính thức. Tiếp đó anh về nhì tại Skate Canada 2016. Tại NHK Trophy, bài thi ngắn của Hanyu đạt 103,89 điểm và bài thi tự do đạt 197,58 điểm (dẫn đầu trong cả hai phần thi), giành tổng điểm là 301,47 để trở thành nhà vô địch. Tại Grand Prix Final, Hanyu vô địch lần thứ 4 liên tiếp sau khi đứng nhất ở bài thi ngắn và đứng thứ 3 ở bài thi tự do.

Hanyu thông báo rút khỏi giải Vô địch Quốc gia Nhật Bản 2016 do mắc bệnh cúm. Mặc dù vậy anh đã được lựa chọn để cạnh tranh tại Four Continents 2017 và Vô Địch Thế giới 2017 .

Tại Four Continents 2017, Hanyu xếp thứ 3 sau bài thi ngắn với số điểm 97,04 điểm theo sau Nathan Chen (thứ nhất) 6 điểm và 3,5 điểm sau Uno Shoma (thứ hai). Trong bài thi tự do, anh đã thay đổi thứ tự các cú nhảy và thắng bài thi tự do với 206,67 điểm, chung cuộc giành huy chương bạc sau Nathan Chen (ít hơn 4 điểm) và hơn huy chương đồng Uno Shoma 15 điểm.

Tại Giải Vô địch Thế giới 2017 tổ chức ở Phần Lan, Hanyu xếp thứ 5 sau bài thi ngắn với số điểm 98,39 do bị lỗi cú nhảy kết hợp và bị trừ điểm bắt đầu muộn. Trong phần thi tự do, Hanyu đã thực hiện một bài thi hoàn hảo và ghi được 223,20 điểm, phá kỷ lục thế giới của chính mình lần thứ 11, đồng thời trở thành người đầu tiên chinh phục mốc điểm 220. Chung cuộc, anh giành huy chương vàng.

Mùa giải 2017-2018: Huy chương vàng Olympic thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu sử dụng lại bài thi ngắn "Ballade No.1" do Jeffrey Buttle biên đạo (mùa giải 2014-2015, 2015-2016) và bài thi tự do "Seimei" (mùa giải 2015-2016) với cấu trúc dự định khó hơn. Cụ thể anh tăng tổng số lượng quad lên đến 7 cú nhảy (bài thi ngắn 2, bài thi tự do 5), bổ sung cú nhảy khó nhất là quad Lutz (4Lz).

Tại giải đấu đầu tiên của mùa giải, Autumn Classic International, bài thi ngắn của Hanyu đạt 112,72 điểm, phá vỡ kỷ lục thế giới do chính anh lập nên ở Grand Prix Final 2015-2016. Hanyu thực hiện tốt toàn bộ các cú nhảy, 2 trong số đó nhận được điểm thưởng tuyệt đối (+3). Anh không sử dụng cú 4Lo do cơn đau ở đầu gối phải. Ở phần thi tự do, anh nhảy hỏng cú nhảy đầu tiên từ 3Lz thành 1Lz, ngã ở cú 3A, tiếp đó không hoàn thành 3 cú nhảy theo dự định và tiếp đất xấu cú 4T, bị giảm độ khó. Hanyu được 155,52 điểm và về nhì sau Javier Fernandez.

Tại Rostelecom Cup 2017, Hanyu đứng thứ 2 sau bài thi ngắn. Anh xoay không đủ vòng cú 4T đầu tiên và gần như mất thăng bằng sau khi tiếp đất, đồng thời ngã ở tổ hợp cú nhảy cuối cùng (4T3T). Ngày tiếp theo, Hanyu lần đầu tiên thực hiện thành công cú nhảy 4Lz trong thi đấu và đạt được điểm thưởng 1,14 cho cú nhảy này. Mặc dù mắc lỗi ở 2 trong số những lần nhảy còn lại, bài biểu diễn vẫn đạt vị trí thứ nhất trong phần thi tự do với số điểm 195,92. Chung cuộc, Hanyu đứng thứ thứ 2 sau Nathan Chen (Mỹ) với cách biệt khoảng 3 điểm.

Ngày 9/11/2017, Hanyu bị chấn thương dây chằng bên mắt cá chân phải trong khi tập cú nhảy 4Lz, khiến anh phải rút lui khỏi giải đấu NHK Trophy, đồng nghĩa từ bỏ cơ hội giành chức vô địch Grand Prix Final lần thứ 5 liên tiếp. Vì việc hồi phục kéo dài hơn dự tính, Hanyu tiếp tục phải rút lui khỏi giải Vô địch Quốc gia Nhật Bản 2017. Mặc dù không thể có mặt tại giải đấu quyết định suất tham dự Olympic này, anh vẫn có một chân trong đội tuyển nhờ giữ vị trí số 1 trong Bảng xếp hạng thế giới và vai trò đương kim vô địch thế giới.

Ngày 24/12/2017, Liên đoàn Trượt băng Nhật bản chính thức thông báo Hanyu sẽ đại diện cho Nhật Bản thi đấu tại Olympic 2018 tại Pyeongchang và Giải vô địch Trượt băng Thế giới 2018 tại Milan, Italy. Ngày 3/2/2018, Liên đoàn thông báo Hanyu sẽ không tham gia hạng mục đồng đội ở Olympic để tập trung huấn luyện tại Toronto chuẩn bị cho hạng mục cá nhân.

Olympic Mùa Đông 2018

Yuzuru Hanyu cùng Uno Shoma (trái) và Javier Fernandez (phải) tại Olympic 2018

Hanyu có mặt tại Hàn Quốc vào ngày 11/02/2018, dưới sự bảo vệ của đội ngũ an ninh và sự săn đón mạnh mẽ của giới truyền thông. Các buổi tập luyện của anh ở Olympic luôn là mục tiêu của báo chí và có sự tham gia của hàng trăm phóng viên. Tại buổi họp báo chính thức của Hanyu ngày 13/02, anh cho biết đã không thể tập luyện trên sân băng cho đến tận tháng 1 và bắt đầu tập nhảy 3 vòng chỉ 3 tuần và nhảy 4 vòng chỉ 2 tuần trước giải đấu, và vẫn chưa quyết định yếu tố kỹ thuật nào sẽ được sử dụng trong bài thi. Sau các buổi tập, anh quyết định không dùng đến 4Lo trong bài thi, vốn là cú nhảy tạo áp lực lên chân phải khi bật nhảy lẫn khi tiếp đất, mà chỉ sử dụng 4T và 4S là hai loại quad dễ nhất và ít gây áp lực lên chân phải.

Ngày 16/02, Hanyu biểu diễn một bài thi ngắn xuất chúng, giành được 111,68 điểm, giúp anh dẫn đầu. Điểm số này chỉ thấp hơn 1,04 điểm so với thành tích cá nhân của anh, đồng thời cũng là kỷ lục thế giới hiện tại. Ngày tiếp theo, anh đạt 206,17 điểm với bài thi tự do khá tốt gồm 4 cú Quad, 3 trong số đó tiếp đất hoàn hảo. Tổng số điểm 317,85 giúp anh giành ngôi vô địch Olympic lần thứ 2 liên tiếp, một thành tích mà chưa một vận động viên đơn nam nào đạt được được kể từ thời Dick Button (1948, 1952). Huy chương vàng của Hanyu cũng là huy chương thứ 1000 trong lịch sử Thế vận hội mùa đông. Đứng chung bục nhận giải với anh là người đồng hương Uno Shoma (huy chương bạc) và người bạn cùng CLB Javier Fernandez (huy chương đồng).

Trong buổi họp báo ngày 18/02, Hanyu cho biết anh đã phải sử dụng thuốc giảm đau liều mạnh khi tập luyện và thi đấu ở Olympic lần này, nhấn mạnh rằng nếu không dùng thuốc, anh không thể bật nhảy hoặc tiếp đất. Chấn thương mà Hanyu gặp phải từ tháng 11 khiến anh không thể thi đấu trong 3 tháng liên tục và phải giảm độ khó của bài thi nghiêm trọng hơn dự đoán. Anh chia sẻ rằng kế hoạch thi đấu trong tương lai của anh vẫn chưa được quyết định bởi chấn thương vẫn chưa lành và anh muốn tập trung hồi phục hoàn toàn. Mặc dù vậy, anh nói không có ý định giải nghệ, mục tiêu tiếp theo là thực hiện thành công cú quad Axel (4,5 vòng Axel), cú nhảy mà chưa một ai dám đưa vào thi đấu.

Sau Olympic, Liên đoàn trượt băng Nhật Bản thông báo Hanyu sẽ không tham dự Giải vô địch thế giới 2018, theo đó, anh cần nghỉ ngơi sau kỳ Olympic căng thẳng và 3 tháng để phục hồi chấn thương.[17]

Mùa giải 2018-2019: Tái chấn thương và huy chương bạc Thế giới lần thứ 3[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải này Hanyu sử dụng các bản nhạc nền từ bài thi nổi tiếng nhất của Evgeni Plushenko (Nga) và Johnny Weir (Mỹ) - thần tượng trong giới trượt băng của anh. Bài thi ngắn có tên "Otoñal" do Jeffrey Buttle biên đạo, bài thi tự do "Origin", biên đạo bởi Shae-Lynn Bourne. [18]

Cuối tháng 9/2018, tại giải Autumn Classic International (Canada), anh đạt 97,74 điểm cho bài thi ngắn, 165,91 điểm cho bài thi tự do, giành huy chương vàng giải đấu.

Đầu tháng 11/2018, tại giải Grand Prix Helsinki (Phần Lan), Hanyu thiết lập 3 kỷ lục thế giới đối với bài thi ngắn (106,69 điểm), bài thi tự do (190,43 điểm) và điểm tổng (297,12 điểm) theo luật tính điểm mới kể từ mùa giải này[19] và giành huy chương vàng[20], đồng thời trở thành người đầu tiên thực hiện thành công chuỗi cú nhảy 4T-3A-SEQ trong thi đấu.

Yuzuru Hanyu tại lễ trao giải Rostelecom Cup 2018

Tại giải Rostelecom Cup (Nga), Hanyu lập kỷ lục mới cho bài thi ngắn với 110,53 điểm. Ngày tiếp theo, anh bị tái chấn thương chân phải khi tập cú nhảy 4Lo. Anh quyết định vẫn tiếp tục thi đấu, đồng thời giảm độ khó của bài thi tự do và chiến thắng với tổng điểm 278,42. Tại lễ trao giải, Hanyu phải chống nạng để bước lên bục huy chương và rút tên khỏi Gala biểu diễn. Anh chia sẻ: "Tôi đã cân nhắc việc rút lui khỏi giải đấu này bởi chấn thương, nhưng đây là lựa chọn của tôi. Tôi thực sự rất muốn thực hiện bài thi này ở nước Nga".[21] Chấn thương này khiến Hanyu tiếp tục lỡ hẹn với Grand Prix Final và Giải vô địch quốc gia Nhật Bản.

Tháng 3/2019, Hanyu trở lại thi đấu tại Giải vô địch thế giới 2019 (Saitama, Nhật Bản) dù chấn thương vẫn chưa khỏi hẳn.[22] Trong phần thi ngắn, anh nhảy hỏng cú 4S đầu tiên thành 2S, tạm thời đứng thứ 3.[23] 2 ngày sau, dưới áp lực vô cùng lớn vì đang thua điểm và thi đấu ngay trên quê nhà, Hanyu đã thực hiện bài thi tự do khá tốt. Anh lập kỷ lục thế giới với 206,10 điểm (phần thi tự do) và 300,97 điểm (điểm tổng). Chung cuộc, anh giành huy chương bạc.[24] Trả lời phỏng vấn sau giải đấu, Hanyu bộc lộ sự tiếc nuối và khẳng định đã có thêm động lực để tiếp tục thi đấu, bao gồm cả việc thực hiện đủ 6 loại quad, đặc biệt là quad Axel.[25]

Sau Giải vô địch thế giới, Liên đoàn trượt băng Nhật Bản thông báo Hanyu sẽ không tham gia Giải đồng đội thế giới 2019 để tập trung hồi phục chấn thương.[26] Chấn thương ở chân phải của anh bao gồm tổn thương khớp bên, dây chằng tam giác và dây chằng cơ mác, dự kiến cần từ 2-3 tháng để điều trị.[27]

Mùa giải 2019-2020[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải này, Hanyu tái sử dụng bài thi của mùa giải 2018-2019 với cấu trúc dự kiến được tăng cường độ khó.

Tháng 9/2019, Hanyu mở đầu mùa giải 2019-2020 bằng chiến thắng tại giải Autumn Classic International (Canada) với tổng số điểm là 279,05.[28]

Giải đấu tiếp theo Hanyu tham dự là Skate Canada International thuộc khuôn khổ Grand Prix được tổ chức vào tháng 10/2019 tại Kelowna, Canada. Tại đây, Hanyu ghi được 109,60 điểm cho bài thi ngắn, 212,99 điểm cho bài thi tự do, giành huy chuơng vàng với tổng điểm là 322,59[29], điểm số này chỉ kém 0,83 điểm so với kỷ lục thế giới hiện tại của Nathan Chen, mặc dù Hanyu sử dụng các cú quad có độ khó thấp hơn và một số cú nhảy tiếp đất chưa được tốt. Khoảng cách 59,82 điểm giữa anh và huy chương bạc Nam Nguyen (Canada) được xem là cách biệt điểm số lớn nhất trong lịch sử Grand Prix.[30] Ngoài ra, trong giải đấu này, Hanyu còn trở thành người đầu tiên thực hiện thành công tổ hợp cú nhảy 4T+1Eu+3F.

Kĩ thuật trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Được biết đến là một vận động viên toàn diện, Hanyu có khả năng kết hợp hoàn hảo giữa các yếu tố kỹ thuật và nghệ thuật. Anh có tốc độ trượt rất nhanh. Kỹ thuật trượt băng của anh tiến bộ vượt bậc kể từ khi chuyển sang Canada luyện tập.

Hanyu biểu diễn động tác Biellman spin

Các động tác xoay tại chỗ (spin) của anh cũng được đánh giá rất cao vì tốc độ xoay tốt và tâm xoay ổn định. Anh có thể thực hiện các tư thế xoay tại chỗ rất khó như Biellmann và doughnut, cả hai đều là những tư thế xoay tại chỗ rất khó đối với các vận động viên nam vì cần có cơ thể mềm dẻo và linh hoạt. Một số động tác tiêu biểu khác của Hanyu là Ina Bauer, hydroblading và side lunge.

Hanyu nhảy ngược chiều kim đồng hồ như hầu hết các vận động viên khác. Các cú nhảy của Hanyu được mô tả là chính xác, mượt mà và độ bao phủ sân băng rộng.[31] Anh nổi tiếng sở hữu cú nhảy 3A có độ khó rất cao, với entry (động tác tiến vào bước nhảy) là back counter, twizzle hay spread eagle, hoặc thậm chí anh có thể nhảy 3A ở tư thế đứng yên, không lấy đà. Cú nhảy 3A của Hanyu từng nhiều lần đạt điểm thưởng tối đa và được Liên đoàn trượt băng quốc tế sử dụng trong video hướng dẫn đối với cú nhảy này. Trong show trượt băng, Anh có thể trình diễn các cú nhảy liên hợp cực khó như 4Lo3A, 3A+3A, 4T+3A, 4S+3A và thậm chí 4T+3A+3A+3A.

Hanyu có thể thực hiện 4/6 loại quad khác nhau: toe loop, Salchow, loop và Lutz. Hiện tại, anh đang nhắm đến mục tiêu thực hiện quad Axel (4,5 vòng trên không) trong thi đấu.

Hanyu và các vận động viên cùng đoạt huy chương tại Giải vô địch thế giới 2012.

Kỷ lục thế giới và thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đến nay, Yuzuru Hanyu đã phá 18 kỷ lục thế giới, bao gồm 12 kỷ lục theo hệ thống tính điểm cũ và 6 kỷ lục theo hệ thống tính điểm mới.

Các kỷ lục mới[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cách tính điểm kể từ mùa giải 2018-2019[32]:

Thành tích tổng hợp (SP + FS)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
23/03/2019 300,97 Giải vô địch thế giới 2019 Người đầu tiên vượt mức điểm 300.

Kỷ lục này bị phá vỡ bởi Nathan Chen trong cùng giải đấu.

04/11/2018 297,12 Grand Prix Helsinki 2018
Thành tích cho Bài thi ngắn (SP)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
16/11/2018 110,53 Rostelecom Cup 2018 Kỷ lục thế giới hiện tại.

Người đầu tiên vượt mức điểm 110.

03/11/2018 106,69 Grand Prix Helsinki 2018
Thành tích cho bài thi tự do (FS)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
23/03/2019 206,10 Giải vô địch thế giới 2019 Người đầu tiên vượt mức điểm 200.

Kỷ lục này bị phá vỡ bởi Nathan Chen trong cùng giải đấu.

04/11/2018 190,43 Grand Prix Helsinki 2018 Bị phá vỡ bởi Shoma Uno tại Four Continents 2019.

Các kỷ lục cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cách tính điểm từ mùa giải 2017-2018 trở về trước:

Thành tích tổng hợp (SP + FS)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
12/12/2015 330,43 Grand Prix Final 2015-2016 Kỷ lục thế giới theo cách tính điểm từ mùa giải 2017-2018 trở về trước.

Người đầu tiên và duy nhất vượt mốc điểm 330.

28/11/2015 322,40 NHK Trophy 2015 Phá vỡ kỷ lục thiết lập từ tháng 11/2013 của Patrick Chan và trở thành vận động viên đơn nam đầu tiên vượt mốc điểm 300.
Thành tích cho Bài thi ngắn (SP)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
22/09/2017 112,72 CS Autumn Classic International 2017 Kỷ lục thế giới theo cách tính điểm từ mùa giải 2017-2018 trở về trước.
10/12/2015 110,95 Grand Prix Final 2015-2016 Người đầu tiên và duy nhất vượt mốc điểm 110.
27/11/2015 106,33 NHK Trophy 2015
13/02/2014 101,45 Olympic mùa đông 2014 Người đầu tiên vượt mốc điểm 100.
05/12/2013 99,84 Grand Prix Final 2013-2014 Phá vỡ kỷ lục thiết lập từ tháng 11/2013 của Patrick Chan.
23/11/2012 95,32 NHK Trophy 2012
19/10/2012 95,07 Skate America 2012 Phá vỡ kỷ lục thiết lập từ tháng 4/2012 của Daisuke Takahashi.
Thành tích bài thi tự do (FS)
Ngày Điểm Giải đấu Ghi chú
01/04/2017 223,20 Giải vô địch thế giới 2017 Kỷ lục thế giới theo cách tính điểm từ mùa giải 2017-2018 trở về trước.

Người đầu tiên và duy nhất vượt mốc điểm 220.

12/12/2015 219,48 Grand Prix Final 2015-2016
28/11/2015 216,07 NHK Trophy 2015 Phá vỡ kỷ lục thiết lập từ tháng 11/2013 của Patrick Chan và trở thành vận động viên đơn nam đầu tiên vượt mốc điểm 200.

Các thành tựu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vận động viên châu Á đầu tiên giành huy chương vàng Olympic hạng mục trượt băng nghệ thuật đơn nam.
  • Vận động viên trượt băng đơn nam đầu tiên chiến thắng 2 kỳ Olympic liên tiếp sau 66 năm (kể từ năm 1952).[33]
  • Vận động viên đầu tiên chiến thắng 4 kỳ Grand Prix Final liên tiếp.
  • Vận động viên đầu tiên tiếp đất thành công cú nhảy quad loop trong thi đấu.[34]
  • Vận động viên đầu tiên thực hiện thành công chuỗi cú nhảy quad toe loop - triple Axel (4T+3A+SEQ) trong thi đấu.[35]
  • Vận động viên đầu tiên thực hiện thành công tổ hợp cú nhảy quad toe loop - euler - triple flip (4T+1Eu+3F) trong thi đấu.

Bài thi[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Bài thi ngắn Bài thi tự do Bài biểu diễn Gala
2019-2020
  • Otoñal

Sáng tác: Raúl Di Blasio
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Origin:
  • Art on Ice

Sáng tác: Edvin Marton

  • Magic Stradivarius

Sáng tác Edvin Marton
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Parisienne Walkways

Sáng tác: Gary Moore
Biên đạo: Jeffrey Buttle

2018-2019
  • Haru yo, Koi

Sáng tác: Yumi Matsuyoya
Biểu diễn: Shinya Kiyozuka
Biên đạo: David Wilson

2017-2018
  • Chopin Ballade No. 1

Sáng tác: Frédéric Chopin
Biên đạo: Jeffrey Buttle

  • Seimei

(Nhạc nền phim Onmyōji)
Sáng tác: Shigeru Umebayashi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Wings of Words

Sáng tác: Yukinojo Mori, Yoko Kasinagaya, Naohisa Taniguchi
Thể hiện: CHEMISTRY

Hope and Legacy:[36]
  • View of Silence

(Album: Pretender)

  • Asian Dream Song

(Album: Piano Stories II – The Wind of Life)

Sáng tác: Joe Hisaishi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Haru yo, Koi

Sáng tác: Yumi Matsutoya
Biểu diễn: Shinya Kiyozuka
Biên đạo: David Wilson

  • Notte stellata (The Swan)

Sáng tác: Tony Renis, Camille Saint-Saëns
Thể hiện: Il Volo
Biên đạo: David Wilson

2016-2017
  • Let's Go Crazy

Thể hiện: Prince
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Hope and Legacy:
  • View of Silence

(Album: Pretender)

  • Asian Dream Song

(Album: Piano Stories II – The Wind of Life)

Sáng tác: Joe Hisaishi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Notte stellata (The Swan)

Sáng tác: Tony Renis, Camille Saint-Saëns
Thể hiện: Il Volo
Biên đạo: David Wilson

2015-2016
  • Chopin Ballade No. 1

Sáng tác: Frédéric Chopin
Biên đạo: Jeffrey Buttle

  • Seimei

(Nhạc nền phim Onmyōji)
Sáng tác: Shigeru Umebayashi
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Requiem of Heaven and Earth

(Trích từ bản nhạc Requiem for the Great East Japan Earthquake 3.11
- Khúc truy điệu cho Thảm họa động đất - sóng thần ngày 11/03/2011)
Sáng tác: Yasunobu Matsuo
Biên đạo: Kenji Miyamoto

2014-2015

Sáng tác: Andrew Lloyd Webber
Biên đạo: Shae-Lynn Bourne

  • Parisienne Walkways

Sáng tác: Gary Moore
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Thể hiện: Sarah Alainn
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Hana wa Saku

Thể hiện Fumiya Sashida
Biên đạo: Nanami Abe

2013-2014
  • Parisienne Walkways

Sáng tác: Gary Moore
Biên đạo: Jeffrey Buttle

Sáng tác: Nino Rota
Biên đạo: David Wilson

  • O Verona

(Nhạc phim Romeo + Juliet)
Biên soạn: Craig Armstrong

  • Kissing You

(Nhạc phim Romeo + Juliet)
Biên soạn: Des'ree

  • Escape

(Nhạc phim Plunkett & Macleane)
Biên soạn Craig Armstrong
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

  • Hana Ni Nare

Thể hiện: Fumiya Sashida
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Story

Thể hiện: AI
Biên đạo: Kenji Miyamoto

Biên soạn: Riccardo Cocciante
Biên đạo: David Wilson

  • Étude in D-sharp minor, Op. 8, No. 12

Sáng tác: Alexander Scriabin
Thể hiện: Maksim Mrvica
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

2012-2013

Biên soạn: Riccardo Cocciante
Biên đạo: David Wilson

  • Hana Ni Nare

Thể hiện: Fumiya Sashida
Biên đạo: Kenji Miyamoto

  • Hello, I Love You

Thể hiện: The Doors
Adam Freeland remix
Biên đạo: Kurt Browning

2011-2012
  • Étude in D-sharp minor, Op. 8, No. 12

Sáng tác: Alexander Scriabin
Thể hiện: Maksim Mrvica
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • O Verona

(Nhạc phim) Romeo + Juliet)
Sáng tác: Craig Armstrong

  • Kissing You

(Nhạc phim Romeo + Juliet)
Thể hiện: Des'ree

  • Escape

(Nhạc phim Plunkett & Macleane)
Biên soạn: Craig Armstrong
Biên đạo: Nanami Abe, Natalia Bestemianova, Igor Bobrin

  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

  • Somebody to Love

Thể hiện: Justin Bieber
Biên đạo: Nanami Abe

2010-2011
  • White Legend

(Cải biên từ Hồ thiên nga)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Pablo de Sarasate
Biên đạo: Nanami Abe

  • Vertigo

Thể hiện: U2
Biên đạo: Nanami Abe

2009-2010
  • The Bait
  • Bare Island

(Nhạc phim Mission: Impossible II)
Biên soạn: Hans Zimmer
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Sergei Rachmaninov
Biên đạo: Nanami Abe

  • Change

Thể hiện: Monkey Majik + Yoshida Brothers
Biên đạo: Nanami Abe

2008-2009
  • Sing, Sing, Sing

Sáng tác: Louis Prima
Biên đạo: Nanami Abe

Sáng tác: Igor Stravinsky
Biên đạo: Nanami Abe

  • Sing, Sing, Sing

Sáng tác: Louis Prima
Biên đạo: Nanami Abe

2007-2008
  • Amazonic

Sáng tác: Maksim Mrvica

Sáng tác: Camille Saint-Saëns
Biên đạo: Megumu Seki

  • Summer Storm

(Concerto L'estate (Mùa hạ) thuộc bộ Concerto Bốn mùa)
Sáng tác: Antonio Vivaldi
Thể hiện: Ikuko Kawai
Biên đạo: Megumu Seki

2006-2007
  • From Russia with Love

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

2005-2006

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

  • From Russia with Love

Biên đạo: Shoichiro Tsuzuki

Thành tích[37][sửa | sửa mã nguồn]

Hanyu và các vận động viên đoạt huy chương tại giải Four Continents 2011

2008–Nay[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế - cấp độ Trưởng Thành
Giải đấu 2008-09 2009-10 2010-11 2011-12 2012-13 2013-14 2014-15 2015-16 2016-17 2017-18 2018-19 2019-20
Olympic Thứ 1 Thứ 1
Vô Địch Thế giới Thứ 3 Thứ 4 Thứ 1 Thứ 2 Thứ 2 Thứ 1 WD Thứ 2
Four Continents Thứ 2 Thứ 2 Thứ 2
Grand Prix Final Thứ 4 Thứ 2 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 WD
GP Bompard Thứ 2
GP Cup of China Thứ 4 Thứ 2
GP NHK Trophy Thứ 4 Thứ 1 Thứ 4 Thứ 1 Thứ 1 WD TBD
GP Rostelecom Thứ 7 Thứ 1 Thứ 2 Thứ 1
GP Skate America Thứ 2
GP Skate Canada Thứ 2 Thứ 2 Thứ 2 Thứ 1
GP Finland Thứ 1
CS Finlandia Thứ 1 Thứ 1
CS Nebelhorn Thứ 1
SC Autumn Classic Thứ 1 Thứ 1 Thứ 2 Thứ 1 Thứ 1
Quốc tế: Cấp độ Thiếu Niên
Thiếu Niên Thế giới Thứ 12 Thứ 1
JGP Final Thứ 1
JGP Croatia Thứ 1
JGP Italy Thứ 5
JGP Poland Thứ 1
Cấp Quốc gia
Vô Địch Nhật Bản Thứ 8 Thứ 6 Thứ 4 Thứ 3 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 Thứ 1 WD WD WD
Thiếu Niên Nhật Bản Thứ 1 Thứ 1
Giải đồng đội
Olympic Thứ 5 T
(Thứ 1 P)
World Team
Trophy
Thứ 3 T
(Thứ 1 P)
Thứ 1 T

(Thứ 3 P)

TBD = Sẽ thi đấu, WD = Rút lui
T = Kết quả đồng đội; P: Kết quả cá nhân. Huy chương trao cho cả đội.

2004-2008[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế
Giải đấu 2004-05 2005-06 2006-07 2007-08
Skate Copenhagen Thứ 1 N.
Quốc gia
Thiếu Niên Nhật Bản Thứ 7 Thứ 3
Thiếu Nhi Nhật Bản Thứ 1 B. Thứ 2 B. Thứ 3 A. Thứ 1 A.
Levels: N. = Thiếu Nhi; A. = Thiếu Nhi A; B. = Thiếu Nhi B

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 2004 Japan Novice Championships (Novice B)
  2. ^ 2006 Japan Novice Championships (Novice A)
  3. ^ 2006 Japan Junior Championships
  4. ^ 2007 Japan Novice Championships (Novice A)
  5. ^ 2007 Japan Junior Figure Skating Championships
  6. ^ 2008 Japan Junior Figure Skating Championships
  7. ^ 2008 Japan Figure Skating Championships
  8. ^ Japan Junior Figure Skating Championships 2009
  9. ^ Hanyu edges Song for junior title accessed ngày 5 tháng 12 năm 2009
  10. ^ Hanyu nabs Junior World title
  11. ^ “Entries Men- All 6 Events”. International Skating Union. 
  12. ^ ISU 2011-2 Grand Prix Assignments – men
  13. ^ “Kết quả GPF 2014”. 
  14. ^ “Kết quả NHK 2015”. 
  15. ^ “Kết quả GPF 2015”. 
  16. ^ “Hanyu nghỉ chấn thương”. 
  17. ^ “Hanyu rút lui khỏi giải vô địch thế giới 2018”. 
  18. ^ https://www.ifsmagazine.com/hanyu-skating-for-himself-this-season/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  19. ^ “Yuzuru Hanyu thiết lập kỷ lục thế giới mới trong mùa giải 2018-2019”. 
  20. ^ “Yuzuru Hanyu chiến thắng tại Grand Prix Helsinki 2018”. 
  21. ^ “Yuzuru Hanyu giành huy chương vàng Rostelecom Cup 2018”. 
  22. ^ “Yuzuru Hanyu sẵn sàng thi đấu sau khi hồi phục chấn thương (Japan Times)”. 
  23. ^ “Yuzuru Hanyu đứng thứ 3 sau phần thi ngắn tại Giải vô địch thế giới 2019”. 
  24. ^ “Yuzuru Hanyu giành huy chương bạc tại Giải vô địch thế giới 2019”. 
  25. ^ https://www.sponichi.co.jp/sports/news/2019/03/23/kiji/20190323s00079000483000c.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  26. ^ “Yuzuru Hanyu không tham gia Giải trượt băng nghệ thuật đồng đội 2019 vì chấn thương”. 
  27. ^ “Chấn thương của Yuzuru Hanyu cần từ 2-3 tháng để điều trị”. 
  28. ^ “Hanyu mở đầu mùa giải bằng chiến thắng ở Canada”. 
  29. ^ “Yuzuru Hanyu chiến thắng tại Skate Canada”. 
  30. ^ “Hanyu vô địch Skate Canada với cách biệt điểm số lớn nhất trong lịch sử”. 
  31. ^ https://ice.edeaskates.com/en/our-skaters/yuzuru-hanyu/.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  32. ^ “Thống kê điểm của ISU”. 
  33. ^ “Hanyu đi vào lịch sử với chiến thắng tại 2 kỳ Olympic liên tiếp”. 
  34. ^ “Hanyu tiếp đất thành công cú nhảy quad loop đầu tiên trong thi đấu”. 
  35. ^ “Chuỗi cú nhảy 4T+3A+SEQ đầu tiên trong thi đấu”. 
  36. ^ "FIGURE SKATING/ Hanyu shows no signs of injured ankle at ice show in Nagano". The Yomiuri Shimbun. June 10, 2018. 
  37. ^ “Tổng hợp thành tích của Hanyu trên trang web của liên đoàn ISU”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Yuzuru Hanyu tại Wikimedia Commons