Nha Kỹ thuật, Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nha Kỹ thuật
Việt Nam Cộng hòa
Huy hiệu Nha kỹ thuật Quân lực Việt Nam Cộng hòa.png
Các Huy hiệu của đơn vị
Hoạt động 1963-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Quân báo
Phân loại Đơn vị Đặc biệt
Bộ phận của ARVN Joint General Staff Insignia.svg Phòng 7/BTTM
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Với nhiệm vụ:
- Nhảy toán thâm nhập miền Bắc
- Nhảy toán thâm nhập các Mật khu
của đối phương
- Hoạt động thám báo khu vực
biên giới Việt-Lào và Việt-Miên
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Lê Quang Tung
-Lê Văn Nghiêm
-Trần Văn Hổ

Nha Kỹ thuật (tiếng Anh: Strategic Technical Directorate - STD) là Cơ quan Tình báo chiến lược của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, đặc trách tổ chức, hoạt động biệt kích thu thập tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược chống lại chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòaMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam[1].

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Nha Kỹ thuật là Sở Khai thác Địa hình (Topographic Exploitation Service) do Đại tá Lê Quang Tung chỉ huy. Sau cuộc Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963, Sở Khai thác Địa hình bị giải tán. Các phòng ban được giải thể hoặc phân vào các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng. Riêng các đơn vị tác chiến được tập hợp để hình thành một Đơn vị độc lập với Bộ chỉ huy riêng.

Nha Kỹ thuật thành lập tháng 12 tháng 2 năm 1965,[2] giải tán vào ngày 28 tháng 4 năm 1975 theo khẩu lệnh của Đại tướng Tổng Tham mưu Trưởng.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Nha Kỹ thuật có cấp số ngang cấp Sư đoàn bao gồm:

1 -Sở Công tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng. Sở có các Đoàn 11, 71 và 72 đóng tại Ðà nẵng, Đoàn 75 đóng trên Pleiku (Quân khu 2) và Đoàn 68 tại Sài Gòn (Biệt khu Thủ đô). Các toán trong Đoàn công tác có nhiệm vụ xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng đối phương tại Bắc Việt hay biên giới Lào, Campuchia hoặc Thái Lan. Chỉ huy trưởng đầu tiên của Sở Công tác là Đại tá Ngô Thế Linh, nguyên là Phó Giám đốc Nha Kỹ thuật. Các chỉ huy kế tiếp là các Đại tá Trần Văn HaiNgô xuân Nghị.

2 -Sở Liên lạc (Biệt kích Lôi hổ) đóng tại Sài gòn. Sở có các Chiến đoàn 1 tại Ðà Nẵng, Chiến đoàn 2 trên Kon Tum và Chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc Sở Liên lạc có nhiệm vụ xâm nhập vào hậu tuyến đối phương từ vĩ tuyến 17 trở ra, những đợt xâm nhập này thường là dò định các vị trí hậu cần, kho xăng và bắt sống quân nhân Cộng Sản Bắc Việt.

3 -Sở Phòng vệ Duyên hải (Coastal Security Service) đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải tuần và Lực lượng Biệt Hải. Lực lượng Hải tuần có nhiệm vụ chính là thi hành những công tác hành quân đặc biệt bằng đường biển trong vùng lãnh hải Bắc Việt từ vĩ tuyến 17 Bắc trở lên, thả và vớt các toán Biệt hải, các chiến đĩnh thuộc Lực lượng Hải tuần. Ngoài ra, còn thực hiện nhiều công tác riêng biệt khác như pháo kích, chận bắt tàu bè, chiến tranh tâm lý v.v... Lực lượng Biệt hải có nhiệm vụ dùng người nhái xâm nhập Bắc Việt.

4 -Sở Tâm lý chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự,[3] Sài Gòn. Sở có nhiệm vụ tổ chức và điều hành Đài Tiếng nói Tự do và Đài Gươm thiêng Ái quốc.

5 -Sở Không yểm đóng tại Sài Gòn thuộc Không quân Việt Nam Cộng hòa có nhiệm vụ phối trí với các Phi đoàn trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và rút các toán hoạt động trong lòng đối phương.

6 -Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng đóng tại Long Thành, Biên Hòa huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đất đối phương, hoạt động nơi hậu phương đối phương, đột kích, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v.

Chỉ huy trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Lê Quang Tung[4]
Võ khoa Thủ Đức K3p
(Khóa 9B trừ bị Đà Lạt)
[5]
Đại tá[6]
4/1963-11/1963
Thời kỳ Nha Kỹ thuật còn mang tên Sở Khai thác Địa hình.
2
Lê Văn Nghiêm
Võ bị Pháp
Trung tướng
11/1963-2/1964
Kiêm Tư lệnh Binh chủng Nhảy dù, tạm thay thế Đại tá Cao Văn Viên 1 tuần lễ.[7]
3
Trần Văn Hổ
(Blanchard)
Võ bị Huế K1[8]
Đại tá
2/1964-6/1968
4
Đoàn Văn Nu[9]
Võ bị Địa phương
Trung Việt-Đập Đá Huế K3
nt
6/1968-4/1975

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch sử Nha Kỹ thuật
  2. ^ Lúc đầu là cấp sở do Đại tá Trần Văn Hổ chỉ huy, sau nâng lên cấp Nha,
  3. ^ Nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai
  4. ^ Sinh năm 1919 tại Thừa Thiên
  5. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan (Trường Võ khoa Thủ Đức còn gọi là Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức hoặc Trường Bộ binh Thủ Đức).
  6. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.
  7. ^ Đại tá Cao Văn Viên không ủng hộ Tổng thống Diệm nhưng cũng không tham gia đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, nên bị tạm ngưng chức vụ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù một tuần lễ.
  8. ^ Để phân biệt với Đại tá Trần Văn Hổ (Paul, xuất thân trường Võ bị Huế K2), nguyên Tư lệnh Không quân. Cả hai đều có Quốc tịch Pháp.
  9. ^ Sinh năm 1932 tại Thừa Thiên

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]