Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận 3
Quận
VN-F-HC-Q3 position in city core.png
Vị trí quận 3 trong Thành phố Hồ Chí Minh
Địa lý
Tọa độ: 10°46′48″B 106°40′46″Đ / 10,78°B 106,67944°Đ / 10.78000; 106.67944Tọa độ: 10°46′48″B 106°40′46″Đ / 10,78°B 106,67944°Đ / 10.78000; 106.67944
Diện tích 5 km2[1][2]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 188.945 người[1][2]
 Thành thị 100%
 Nông thôn 0%
 Mật độ 38.403 người/km2[2]
Dân tộc Việt, người nước ngoài,...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh
Thành lập 27 tháng 5 năm 1959
 Chủ tịch UBND Võ Khắc Thái
 Bí thư Quận ủy Nguyễn Hồ Hải[3]
 Trụ sở UBND 296 Nguyễn Thiện Thuật, Phường 03 Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Phân chia hành chính Gồm 14 phường.
Mã hành chính 770[1]
Website Trang chính thức

Quận 3 là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong các quận trung tâm và cũng thuộc khu vực Sài Gòn, Bến Nghé trước đây. Quận được Pháp thành lập từ năm 1920, đến 1956 thì trở thành một phần của Đô thành Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở UBND quận 3

Quận gồm 14 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14.

Trong đó, phường 3 là trung tâm của quận.

Văn hóa - Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 là nơi tập trung các biệt thự thời Pháp thuộc và là quận có mật độ cây xanh cao. Ga Sài Gòn, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Xá Lợi cũng nằm tại Quận 3.

Quận 3 cũng là nơi có cơ sở của một số đại học lớn: Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh...

Đầu cầu Công Lý trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, ngày 12 tháng 4 năm 1861, chính quyền Pháp thành lập thành phố Sài Gòn, trên địa bàn một số thôn của hai tổng: Bình Trị Thượng và Bình Trị Trung thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Địa giới hành chính lúc đầu của thành phố Sài Gòn chỉ gồm một phần của hai quận: Quận 1 và Quận 3 hiện nay. Tháng 1 năm 1877, Tổng thống Pháp công nhận thành phố Sài Gòn là thành phố loại I, đứng đầu là viên Đốc lý do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm.

Đến tháng 9 năm 1889, thành phố Sài Gòn được chia thành hai quận cảnh sát (arrondissement policier): Quận 1 và Quận 2, đứng đầu mỗi quận cảnh sát là vị Quận trưởng cảnh sát (Commissaire). Tháng 12 năm 1920, lập thêm Quận 3.

Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu (một số tài liệu gọi là "Địa phương") Sài Gòn - Chợ Lớn (Région Saigon - Cholon ou Région de Saigon - Cholon). Quận 3 thuộc Khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ngày 30 tháng 6 năm 1951, Thủ tướng chính quyền Quốc gia Việt Nam ký sắc lệnh số 311-cab/SG cải danh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Lúc này, Quận 3 thuộc Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Khi đó, quận 3 lại thuộc Đô thành Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 3 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 110-NV về việc phân chia sáu quận đang có thành tám quận mới: Nhứt, Nhì, Ba, Tư, Năm, Sáu, Bảy và Tám (trừ ba quận: Nhứt, Nhì, Ba giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính). Lúc này, quận Ba trùng với địa giới quận 3 cũ, có 05 phường: Chí Hoà, Bàn Cờ, Đài Chiến Sĩ, Trương Minh Giảng, Yên Đổ.

Năm 1962, quận Ba giải thể phường Đài Chiến Sĩ; lập mới sáu phường: Cộng Hoà, Cư Xá Đô Thành, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản. Như thế lúc này quận có 10 phường.

Năm 1969 tách đất của 02 quận: Ba, Năm để lập mới quận Mười với 04 phường (Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Chí Hòa). Như thế quận Ba còn 08 phường.

Năm 1974 lập thêm phường Trần Quang Diệu tại quận Ba (quận này có 09 phường). Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận 3 (quận Ba) gồm 09 phường: Cộng Hoà, Cư Xá Đô Thành, Bàn Cờ, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Trần Quang Diệu, Trương Minh Giảng, Yên Đổ.

Từ năm 1975 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975 thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Lúc này, Quận 3 (Quận Ba) thuộc Thành phố Sài Gòn - Gia Định cho đến tháng 7 năm 1976.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chánh Thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần hai (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, vẫn giữ nguyên Quận 3 cũ có từ trước đó. Lúc này, các phường cũ đều giải thể, lập các phường mới có diện tích, dân số nhỏ hơn và mang tên số. Quận 3 có 25 phường, đánh số từ 1 đến 25.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 3 trở thành quận trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 9 năm 1981, giải thể ba phường: 2, 4 và 6, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 22.

Ngày 26 tháng 8 năm 1982, theo Quyết định số 147-HĐBT[4] của Hội đồng Bộ trưởng, quận 3 giải thể Phường 16 và Phường 18, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 20:

1.Giải thể Phường 16 để sáp nhập vào Phường 15 và Phường 17.

2.Giải thể Phường 18 để sáp nhập vào Phường 21.

Ngày 17 tháng 9 năm 1988, ngoài Phường 1 và Phường 3 không thay đổi, quận 3 giải thể 18 phường còn lại, thay thế bằng 12 phường mang tên số mới: 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 vá 14. Tổng cộng quận 3 còn 14 phường, sự phân chia đơn vị hành chính này giữ ổn định cho đến nay.

Thông tin thêm về các phường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phường Cộng Hòa cũ: Phường 1 và một phần Phường 2 hiện nay
  • Phường Phan Đình Phùng cũ: Phường 5 và một phần Phường 2 hiện nay
  • Phường Bàn Cờ cũ: Phường 3 hiện nay
  • Phường Cư Xá Đô Thành cũ: Phường 4 hiện nay
  • Phường Hiền Vương cũ: các Phường 6 và 7 hiện nay
  • Phường Yên Đổ cũ: các Phường 8 và 9 hiện nay
  • Phường Lê Văn Duyệt cũ: các Phường 10 và 11 hiện nay
  • Phường Trương Minh Giảng cũ: các Phường 12 và 13 hiện nay
  • Phường Trần Quang Diệu cũ: Phường 14 hiện nay

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 gồm những con đường đặc trưng như: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lý Chính Thắng, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thị Minh Khai, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Văn Sĩ, Hai Bà Trưng, Điện Biên Phủ... Đó là những con đường lớn ở Quận 3.

Đặc biệt, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở Quận 3 còn được xem là con đường chính vì nó nối liền từ sân bay Tân Sơn Nhất tới Dinh Thống Nhất - một Dinh thự lớn nhất và là một nét đặc trưng của Thành phố Hồ Chí Minh.

Quận 3, Quận 1Quận 5 là ba quận còn mang những nét đặc trưng nhất của trung tâm Sài Gòn từ xưa.

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Bà Huyện Thanh Quan

Bàn Cờ

Cách mạng Tháng Tám

Cao Thắng

Cư xá Đô Thành số 1

Cư xá Đô Thành số 2

Cư xá Đô Thành số 3

Điện Biên Phủ

Đoàn Công Bửu

Hai Bà Trưng

Hồ Xuân Hương

Huỳnh Tịnh Của

Kỳ Đồng

Lê Ngô Cát

Lê Quý Đôn

Lê Văn Sĩ

Lý Chính Thắng

Lý Thái Tổ

Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Ngô Thời Nhiệm

Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Hiền

Nguyễn Sơn Hà

Nguyễn Thiện Thuật

Nguyễn Thị Diệu

Nguyễn Thị Minh Khai

Nguyễn Thông

Nguyễn Thượng Hiền

Nguyễn Văn Hai

Pasteur

Phạm Ngọc Thạch

Sư Thiện Chiếu

Trần Cao Vân

Trần Quang Diệu

Trần Quốc Thảo

Trần Văn Đang

Trương Định

Trương Quyền

Tú Xương

Võ Thị Sáu

Võ Văn Tần

Những tên đường trước năm 1975

Đường Hồng Thập Tự nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai

Đường Phan Thanh Giản nay là đường Điện Biên Phủ

Đường Phan Đình Phùng nay là đường Nguyễn Đình Chiểu

Đường Công Lý nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Đường Nguyễn Đình Chiểu nay là đường Trần Quốc Toản

Đường Trương Minh Giảng nay là đường Trần Quốc Thảo và Lê Văn Sĩ

Đường Yên Đỗ nay là đường Lý Chính Thắng

Đường Cư Xá Đô Thành nay là đường Nguyễn Hiền

Đường Hiền Vương nay là đường Võ Thị Sáu

Đường Duy Tân nay là đường Phạm Ngọc Thạch

Đường Trần Quý Cáp nay là đường Võ Văn Tần

Công Trường Chiến Sĩ nay là Công Trường Quốc tế

Đường Đốc Phủ Thạnh nay là đường Nguyễn Sơn Hà

Đường Lê Văn Thanh nay là đường Sư Thiện Chiếu

Đường Khái Hưng nay là đường Trần Văn Đang

Đường Trương Minh Ký nay là đường Nguyễn Thị Diệu

Đường Đoàn Thị Điểm nay là đường Trương Định

Đường Trần Tấn Phát nay là đường Trương Quyền

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]