Sử Lương đệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sử Lương đệ
史良娣
Lệ Thái tử phi
Thông tin chung
Phu quânLệ Thái tử Lưu Cứ
Hậu duệĐiệu hoàng khảo Lưu Tiến
Thụy hiệuLệ hậu
(戾后)

Sử Lương đệ (chữ Hán: 史良娣; ? - 91 TCN), cũng gọi Lệ hậu (戾后), là trắc thất của Lệ Thái tử Lưu Cứ, sinh mẫu của Điệu hoàng khảo Lưu Tiến và là tổ mẫu của Hán Tuyên Đế Lưu Tuân.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hán Lệ hậu, Sử thị, tên không rõ, người Lỗ quốc (魯國; nay là thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), xuất thân từ gia tộc Lỗ Quốc Sử thị (魯國史氏). Không rõ cha bà là ai, chỉ biết gia tộc Sử thị khá có danh vọng. Mẹ bà là Trinh Quân (貞君), sinh ra con trai cả Sử Cung (史恭) cùng Sử thị, trừ Sử thị thì nhà Sử gia còn có một cô con gái gả cho Lỗ An vương Lưu Quang (劉光) làm Vương hậu[1]. Sau này, con trai Sử Cung nghênh thú con gái của Tế Bắc Thành vương Lưu Hồ (劉胡). Từ đây có thể thấy được danh vọng của Lỗ Quốc Sử thị đại gia tộc.

Năm Nguyên Đỉnh thứ 2 (115 TCN), Lỗ vương Lưu Quang đến triều bái Trường An, Sử thị do là thân thích của Lỗ vương hậu cũng đi theo bồi giá. Năm thứ 4 (113 TCN), Sử thị tiến vào Thái tử cung, liền được sủng hạnh bởi Vệ Thái tử Lưu Cứ, con trai cả của Hán Vũ Đế Lưu Triệt. Theo sử ký ghi lại, hậu cung của một Thái tử có Thái tử phi là chính thất, dưới là Lương đệ (良娣) và Nhụ tử (孺子) đều là thiếp, khi ấy Vệ Thái tử Lưu Cứ không có Thái tử phi, cưới Sử thị mà chỉ phong làm Lương đệ, nên được gọi [Sử Lương đệ][2]. Bà sinh ra Hoàng tôn Lưu Tiến, được gọi theo họ mẹ là [Sử Hoàng tôn; 史皇孙][3]. Trong mấy Hoàng tôn của Vệ Thái tử, chỉ có Lưu Tiến được gọi hiệu theo họ mẹ tương tự cha mình, điều này phần nào khẳng định địa vị của Sử Lương đệ tại Thái tử cung.

Cuối thời Hán Vũ Đế xảy ra Loạn Vu cổ, Vệ Thái tử Lưu Cứ cùng Sử hoàng tôn đều liên lụy mà thân bại danh liệt. Sử Lương đệ còn con dâu Vương Ông Tu, cùng hai con trai và một con gái khác, nhất loạt xử tử. Thi thể của Sử Lương đệ cùng mẹ chồng là Hoàng hậu Vệ Tử Phu đều được táng ở phía Nam thành Trường An[4].

Truy tôn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hán Chiêu Đế băng hà, Hoắc Quang lập Xương Ấp vương Lưu Hạ kế vị. Nhưng sau 27 ngày, Lưu Hạ bị phế truất do thiếu khả năng trị vì. Thế là, Hoằng tằng tôn Lưu Bệnh Dĩ - cháu nội Thái tử Lưu Cứ cùng Sử Lương đệ - được Hoắc Quang chọn làm người kế vị Chiêu Đế, sử gọi Hán Tuyên Đế.

Năm Nguyên Bình nguyên niên (74 TCN), tháng 7, ngày Canh Thân, Hán Tuyên Đế tức vị. Năm Bổn Thủy nguyên niên (73 TCN), tháng 6, hạ chiếu nói:"Cố Hoàng thái tử táng ở huyện Hồ, không có thụy hiệu, cũng không có bốn mùa hiến tế theo lễ, nay nên nghị định thụy hiệu, thiết trí viên tẩm cùng an bài dân hộ trông coi lăng viên". Quan viên lâu lên nên truy tôn cho Thái tử Lưu Cứ, Sử lương đệ, Sử hoàng tôn cùng Vương phu nhân[5][6]. Tấu viết:

Năm Nguyên Khang nguyên niên (65 TCN), Thừa tướng Ngụy Tương dâng tấu sớ nói:"Kinh Lễ viết:'Phụ vi sĩ, tử vi thiên tử, tế dĩ thiên tử'. Điệu viên nên thượng tôn làm Hoàng khảo, lập Miếu, ở trong lăng viên thành lập tẩm điện, dùng lễ nghi Thiên tử mà cúng bái. Gia tăng hộ cung phụng thành 1.800 hộ, thiết trí Phụng Minh huyện. Tôn Lệ phu nhân làm Lệ hậu, thiết trí lăng viên cùng thái ấp cung phụng lên 300 hộ"[7][8].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《史记 建元以来侯者年表》载: 平台(侯国名) 史子叔。集解名玄。以宣帝大母家封为侯,二千五百户。卫太子时,史氏内一女于太子,嫁一女鲁王,今见鲁王亦史氏外孙也。外家有亲,以故贵,数得赏赐。
  2. ^ 《汉书·卷九十七上·外戚传第六十七上》: 卫太子史良娣,宣帝祖母也。太子有妃,有良娣,有孺子,妻、妾凡三等,子皆称皇孙。
  3. ^ 班固《汉书 外戚传上》载:史良娣家本鲁国,有母贞君,史恭。以元鼎四年人为良娣,生男进,号史皇孙。
  4. ^ 班固《汉书 武五子传》载:初,太子有三男一女,女者平舆侯嗣子尚焉。及太子败,皆同时遇害。卫后、史良悌葬长安城南。
  5. ^ 班固《汉书 宣帝纪》载:六月,诏曰:“故皇太子在湖,未有号谥、岁时祠。其议谥,置园邑。”
  6. ^ 班固《汉书 武五子传》载:太子有遗孙一人,史皇孙子,王夫人男,年十八即尊位,是为孝宣帝,帝初即位,下诏曰:“故皇太子在湖,未有号谥,岁时祠,其议谥,置园邑。”有司奏请;“《礼》‘为人后者,为之子也’,故降其父母不得祭,尊祖之义也。陛下为孝昭帝后,承祖宗之祀,制礼不逾闲。谨行视孝昭帝所为故皇太子起位在湖,史良娣冢在博望苑北,亲史皇孙位在广明郭北。谥法曰‘谥者,行之迹也’,愚以为亲谥宜曰悼,母曰悼后,比诸侯王国,置奉邑三百家。故皇太子谥曰戾,置奉邑二百家。史良娣曰戾夫人,置守冢三十家。园置长丞,周卫奉守如法。”以湖阌乡邪里聚为戾园,长安白亭东为戾后园,广明成乡为悼园。皆改葬焉。
  7. ^ 班固《汉书 武五子传》载:后八岁,有司复言:“《礼》‘父为士,子为天子,祭以天子’。悼园宜称尊号曰皇考,立庙,因园为寝,以时荐享焉。益奉园民满千六百家,以为奉明县。尊戾夫人曰戾后,置园奉邑,及益戾园各满三百家。”
  8. ^ 班固《汉书 宣帝纪》载:夏五月,立皇考庙。益奉明园户为奉明县。