Shonan Bellmare

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Shonan Bellmare
湘南ベルマーレ
Logo
Tên đầy đủShonan Bellmare
Thành lập, 1968; 51 năm trước
Sân vận độngSân vận động Shonan BMW Hiratsuka
Hiratsuka, Kanagawa
Sức chứa sân18,500
Chủ tịch điều hànhKiyoshi Makabe
Người quản lýCho Kwi-Jea
Giải đấuJ. League Hạng 1
201813
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách

Shonan Bellmare (湘南ベルマーレ Shōnan Berumāre?) là một câu lạc bộ bóng đá Nhật Bản, hiện đang thi đấu tại J. League Hạng 1. Câu lạc bộ có trụ sở tại Hiratsuka, phía tây Kanagawa; sân nhà của họ là Sân vận động Điền kinh Hiratsuka ở Hiratsuka. Tên Bellmare có nguồn gốc từ tiếng Ý "bello" nghĩa là "đẹp" và "mare" là "biển", và được rút gọn từ Castellammare di Stabia (Castello-lâu đài, al-trên, mare- biển),. Shonan đề cập đến một khu vực ven biển gồm Hiratsuka.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ thành lập năm 1968 với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Phát triển Bất động sản Towa ở thành phố Tochigi. Họ lên hạng Japan Soccer League (JSL) Hạng 1 năm 1972. Rồi đổi tên thành Fujita Kogyo sau khi Công ty Phát triển Bất động sản Towa chuyển giao quyền sở hữu đội cho Fujita Kogyo, và câu lạc bộ chuyển về Hiratsuka.

Câu lạc bộ 3 lần vô địch JSL (trong đó có hai lần giành cú double cùng Cúp Hoàng đế) trong năm 1977 và 1981. Họ xuống hạng JSL Hạng 2 năm 1990. Dù vô địch JSL Hạng 2 mùa cuối cùng năm 1991–92, do sự lên chuyên nghiệp và thành lập J. League họ không đáp ứng điều kiện thăng hạng, đành dành chiếc vé cho đội á quân, Kashima Antlers (trước đó là Sumitomo).

1993 (JFL)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1993, câu lạc bộ lấy tên là Shonan Bellmare. Họ nộp đơn gia nhập Thành viên Liên kết J. League và được chấp nhận. Họ thi đấu tại Japan Football League cũ Hạng 1 và giành chức vô địch. Sau khi Hội đồng thành phố Hiratsuka cam kết tài trợ cho việc nâng cấp sân vận động Hiratsuka để đáp ứng các yêu cầu J. League, J. League chấp nhận câu lạc bộ.

1994–1997 (Kỷ nguyên vàng)[sửa | sửa mã nguồn]

Bellmare Hiratsuka 1994–1999

Câu lạc bộ đã buộc phải thay đổi tên thành Bellmare Hiratsuka vì J. League yêu cầu những câu lạc bộ tham dự khi ấy phải mang tên của thành phố mà họ đại diện. Câu lạc bộ ban đầu phải vật lộn để chiến đấu với các đối thủ tại J. League và kết thúc giai đoạn 1 mùa 1994 ở vị trí áp chót. Tuy nhiên, họ đã trở lại trong giai đoạn thứ hai và kết thúc ở vị trí á quân. Tiếp đà ấy, câu lạc bộ giành chức vô địch Cúp Hoàng đế 1994–1995. Chức vô địch giúp Bellmare giành quyền thi đấu tại Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á 1996, nơi họ đánh bại câu lạc bộ của Iraq Al Talaba trong trận chung kết. Hidetoshi Nakata gia nhập câu lạc bộ năm 1995 và họ cũng có chiêu mộ thành công cầu thủ gốc Brazil Wagner Lopes cùng tuyển thủ Hàn Quốc Hong Myung-Bo. Đây được coi là giai đoạn thành công nhất lịch sử câu lạc bộ.

1998–1999 (Giai đoạn khó khăn)[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn cầu thủ Bellmare được chọn thi đấu tại FIFA World Cup 1998. Đó là Nakata, Lopes, Hong và thủ môn Nobuyuki Kojima. Tuy nhiên khi Nakata rời đi để tới Perugia sau World Cup, câu lạc bộ bắt đầu suy yếu. Nhà tàu trợ chính Fujita quyết định ngừng tài trợ năm 1999 do gặp khó khăn về tài chính. Câu lạc bộ buộc phải để những cầu thủ lương cao như Lopes, Hong hay Kojima ra đi. Họ xếp cuối J1 năm 1999 và xuống hạng J2.

2000–2009 (J2)[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ bắt đầu một khởi đầu mới. Quyền sở hữu đã được chuyển giao cho một tổ chức cộng đồng sở hữu. Họ cũng thay đổi tên thành Shonan Bellmare sau khi J. League cho phép mở rộng việc đặt tên thành phố và thị trấn xung quanh Hiratsuka. Khán giả của câu lạc bộ cũng không còn được hùng mạnh và nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thúc đẩy lên hạng J1.

Ngày 5 tháng 12 năm 2009, Shonan trở lại J1 sau khi kết thúc ở vị trí thứ 3 mùa 2009.

2010–[sửa | sửa mã nguồn]

Sự trở lại của Shonan tại J1 diễn ra một cách nhanh chóng họ phải vật lộn ở dưới cùng của bảng xếp hạng suốt mùa giải. Họ phải trở lại J2 trước 4 vòng đấu.

Kết quả tại J. League[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Hạng Số đội Vị trí Trung bình khán giả J. League Cup Cúp Hoàng đế châu Á
1994 J1 12 5 17,836 Vòng 1 Vô địch - -
1995 J1 14 11 16,111 - Vòng 2 - -
1996 J1 16 11 10,483 Bán kết Tứ kết C2 Vô địch
1997 J1 17 8 7,841 Vòng bảng Tứ kết - -
1998 J1 18 11 10,158 Vòng bảng Vòng 4 - -
1999 J1 16 16 7,388 Vòng 1 Vòng 3 - -
2000 J2 11 8 4,968 Vòng 1 Vòng 3 - -
2001 J2 12 8 4,112 Vòng 1 Vòng 2 - -
2002 J2 12 5 4,551 - Vòng 4 - -
2003 J2 12 10 4,731 - Vòng 4 - -
2004 J2 12 10 4,691 - Vòng 5 - -
2005 J2 12 7 5,746 - Vòng 3 - -
2006 J2 13 11 5,365 - Vòng 4 - -
2007 J2 13 6 4,677 - Vòng 4 - -
2008 J2 15 5 5,994 - Vòng 3 - -
2009 J2 18 3 7,273 - Vòng 2 - -
2010 J1 18 18 11,095 Vòng bảng Vòng 3 - -
2011 J2 20 14 6,943 - Tứ kết - -
2012 J2 22 2 6,852 - Vòng 3 - -
2013 J1 18 16 9,911 Vòng bảng Vòng 3 - -
2014 J2 22 1 8,478 - Vòng 3 - -

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Towa / Fujita[sửa | sửa mã nguồn]

Bellmare Hiratsuka / Shonan Bellmare[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kanto Football League: 1970–71
  • Hạng 1 (Japan Soccer League Div. 1): 1972–89 (1972–74 Towa Real Estate Development; 1975–89 Fujita Kogyo)
  • Hạng 2 (Japan Soccer League Div. 2): 1990–91 (Fujita Kogyo)
  • Hạng 2 (Japan Football League (cũ) Div. 1): 1992–93 (Fujita Kogyo)
  • Hạng 1 (J. League Div. 1): 1994–99 (Bellmare Hiratsuka)
  • Hạng 2 (J. League Div. 2): 2000–09 (Shonan Bellmare)
  • Hạng 1 (J. League Div. 1): 2010
  • Hạng 2 (J. League Div. 2): 2011–12
  • Hạng 1 (J. League Div. 1): 2013
  • Hạng 2 (J. League Div. 2): 2014–

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 13 tháng Giêng 2015

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Nhật Bản TM Akimoto Yota
2 Nhật Bản HV Kikuchi Shunsuke
3 Nhật Bản HV Endo Wataru
4 Brasil HV André Bahia
5 Nhật Bản TV Kobayashi Shota
6 Nhật Bản TV Nagaki Ryota
7 Nhật Bản TV Otake Yohei
8 Nhật Bản TV Yamada Naoki (mượn từ Urawa Reds)
9 Brasil Thiago Quirino
10 Nhật Bản TV Kikuchi Daisuke
11 Nhật Bản Fujita Yoshihito
13 Nhật Bản HV Hiroya Kenta
14 Nhật Bản TV Fujita Seiya
15 Hàn Quốc HV Kim Jong-Pil
16 Nhật Bản TV Ishikawa Toshiki
Số áo Vị trí Cầu thủ
17 Nhật Bản HV Misao Yuto
18 Brasil Alison
19 Nhật Bản Otsuki Shuhei
20 Nhật Bản HV Tsuboi Keisuke
21 Nhật Bản TM Kajikawa Yuji
22 Nhật Bản Okada Shohei (mượn từ Sagan Tosu)
23 Nhật Bản TV Takayama Kaoru
24 Nhật Bản HV Okazaki Ryohei
25 Hàn Quốc TM Lee Ho-Seung
26 Nhật Bản TV Kani Masataka
27 Nhật Bản TV Shirai Kosuke
30 Nhật Bản HV Shimamura Tsuyoshi
48 Nhật Bản TV Takeda Eijiro
Brasil Amorim

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Nhật Bản HV Fukuoka Shota (tại Fukushima United)
Nhật Bản HV Kamekawa Masashi (tại Avispa Fukuoka)
Nhật Bản TV Ando Akira (tại Fukushima United)
Nhật Bản TV Iwao Ken (tại Mito HollyHock)
Số áo Vị trí Cầu thủ
Nhật Bản TV Kajikawa Ryota (tại V-Varen Nagasaki)
Nhật Bản TV Maeda Naoki (tại Fukushima United)
Nhật Bản Miyaichi Tsuyoshi (tại Mito HollyHock)
Nhật Bản Tamura Shota (tại Fukushima United)

Cầu thủ từng dự World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên Quốc tịch Giai đoạn
Hisashi Kato Cờ Nhật Bản Nhật Bản 2000
Masaaki Kanno Cờ Nhật Bản Nhật Bản 5/6/2006 – 31/12/2008
Yasuharu Sorimachi Cờ Nhật Bản Nhật Bản 1/1/2009 – 31/12/2011
Cho Kwi-jea  Hàn Quốc 1/1/2012–

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Shonan Bellmare