Sự kiện vũng Rô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sự kiện Vịnh Vũng Rô
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
.
Thời gian 16 tháng 2, 1965
Địa điểm Vịnh Vũng Rô, Nam Việt Nam[1]
Kết quả Hoa Kỳ/Việt Nam Cộng hòa chiến thắng
Tham chiến
 Nam Việt Nam
 Hoa Kỳ
 Bắc Việt Nam
FNL Flag.svg Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Chỉ huy
Flag of the United States.svg Harvey P. Rodgers
Flag of South Vietnam.svg Hồ Văn Kỳ Thoại
Flag of Vietnam.svg Lê Văn Thêm
Flag of Vietnam.svg Phan Văn Bảng
Tổn thất
không rõ 1 tàu vận tải hải quân bị thu giữ
.

Sự kiện Vịnh Vũng Rô nói về việc phát hiện tàu hàng 100 tấn của Hải quân Nhân dân Việt Nam (HQNDVN) đang dỡ hàng (quân nhu và đạn dược) tại vịnh Vũng Rô, Phú Yên, lúc đó đang thuộc Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngày 16 tháng 2 năm 1965. Sự kiện này đã thúc đẩy Hải quân Mỹ dính líu sâu hơn vào cuộc chiến tại Việt Nam.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vũng Rô là một vùng nước sâu nằm ở chân Đèo Cả, là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Nha Trang. Đây là một bến có điều kiện rất thuận lợi trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Nước rất sâu, tàu 100 tấn có thể vào dễ dàng. Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên đã chỉ thị cho địa phương huy động dân công làm một cầu tàu dài 20 m, có thể tháo lắp nhanh. Về mức độ an toàn thì ngay trên đỉnh Đèo Cả có một đồn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tức là có thể triệt để lợi dụng yếu tố bất ngờ. Trong thực tế, Lữ đoàn vận tải 125 HQNDVN đã lợi dụng được các yếu tố thuận lợi đó, chỉ trong vòng hơn 2 tháng đã chở trót lọt vào bến 3 chuyến tàu:

  • Tàu 41 đi chuyến đầu ngày 16 tháng 11 năm 1964, cập bến ngày 5 tháng 12, chở theo 43,920 tấn vũ khí.
  • Tàu 41 đi tiếp chuyến thứ hai ngày 21 tháng 12, cập bến ngày 31 tháng 12, chở theo 46,729 tấn vũ khí.
  • Tàu 41 đi chuyến thứ ba ngày 28 tháng 1 năm 1965, cập bến ngày 9 tháng 2 năm 1965, chở được 45,951 tấn vũ khí.

Trước tình hình thuận lợi, trong khi Nam Trung Bộ đang mở liên tiếp nhiều trận đánh lớn, Lữ đoàn 125 quyết định lợi dụng ngày Tết Âm lịch cho chở tiếp chuyến thứ tư với trọng tải lớn vào Vũng Rô. Đúng ngày mùng 1 Tết Ất Tỵ, tức ngày 2 tháng 2 năm 1965, tàu sắt số 143 khởi hành, với 18 thủy thủ, thuyền trưởng là Lê Văn Thêm, chính ủy là Phan Văn Bảng, chở 63,114 tấn vũ khí. Đến 11 giờ đêm 15 tháng 2 tàu vào đến bến Vũng Rô an toàn. Vì khối lượng hàng quá lớn, bốc dỡ gần hết hàng thì trời đã sáng, neo tàu lại hỏng nên phải cho tàu ở lại trong ngày và ngụy trang kỹ bằng cây lá.

Cùng khoảng thời gian này, Quân Giải phóng miền Nam tại Khu V vừa tiến đánh quân VNCH trong trận Đèo Nhông từ ngày 7 tháng 2 đến 8 tháng 2 năm 1965, gây thiệt hại lớn cho đối phương. Do hậu quả của trận đánh, suốt trong tuần lễ tiếp theo, máy bay tải thương của Mỹ liên tục bay qua khu vực Vũng Rô để chở thương binh về Nha Trang, còn toàn bộ hệ thống an ninh và quân đội của Vùng II chiến thuật được đặt trong tình trạng báo động.[2]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 2 năm 1965, Trung úy James S. Bowers, sĩ quan Quân đội Mỹ, trong lúc lái một chiếc máy bay tải thương UH-1B bay dọc đường số 1 ven biển từ Quy Nhơn về Nha Trang, đã phát hiện ra "một mỏm đá lạ nhô ra trên vách núi phía tây Vũng Rô" mà những ngày trước chưa hề thấy.[3] Thực chất đây là tàu không số sau khi dỡ hết hàng, đã neo lại sát vách đá và ngụy trang bằng các cành cây lớn.[3] Viên phi công lập tức báo cáo những gì nhìn thấy cho Thiếu tá Hải quân Mỹ Harvey P. Rodgers, Cố vấn cấp cao Bộ tư lệnh Vùng II chiến thuật đóng tại Nha Trang. Ông này đã báo lại cho Thiếu tá Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của VNCH.[4] Ông Thoại đã xác nhận không có đơn vị nào đang có mặt gần đó và đã gửi đi vài chiếc A-1 Skyraider của Không lực Việt Nam Cộng hòa đến kiểm tra. Các máy bay này bắn tên lửa (tài liệu của Lữ đoàn 125 nói là thả bom xăng) vào chỗ nghi ngờ. Mọi thứ ngụy trang cháy trụi và toàn thân con tàu lộ ra. Binh lính VNCH trên đồn Đèo Cả tràn xuống. Các thủy thủ Tàu 143 cùng với các đội du kích Hòa Hiệp buộc phải chiến đấu, đồng thời cho điểm hỏa để phá tàu. Nhưng vì Tàu 143 rất lớn, thuốc nổ chỉ có 500 kg nên khi cho nổ, tàu không tan xác mà chỉ xẻ làm đôi. Thủy thủ đoàn cùng quân du kích chiến đấu phá vòng vây rồi rút về Trường Sơn, theo đường 559 trở lại miền Bắc.[2]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Sự kiện Vũng Rô, phía Mỹ và VNCH cho trục vớt xác tàu lên, rồi đưa về Sài Gòn để triển lãm và công bố trước báo chí. Thứ mà binh lính, biệt kích hải quân VNCH và cả cố vấn Hải quân Mỹ, Đại úy Franklin W. Anderson, phát hiện trong con tàu chìm và các vị trí cất giấu ven bờ biển đã kết thúc những tranh luận kéo dài của những sĩ quan tình báo cũng như binh lính Hoa Kỳ. Đó là 100 tấn khí tài chiến tranh xuất xứ Liên XôTrung Quốc, bao gồm 4.000 khẩu súng trườngsúng máy, 1 triệu viên đạn cỡ nhỏ, 1.500 quả lựu đạn, 2.000 viên đạn súng cối và 500 pound thuốc nổ.[5] Đại tá Mỹ R. Schrosbay nhận định:

Vụ Vũng Rô điều đã ngờ trong một thời gian dài nhưng chưa có bằng chứng. Số lượng chiến cụ lớn bị phát hiện chỉ ra rằng nhiều lô hàng lớn hơn đã được chở đến bằng tàu trước đó. Sự xuất hiện đồng thời loại vũ khí mới cỡ 7,62 mm của địch ở những khu vực ven biển khác nói lên một điều chắc chắn là địch còn sử dụng các vị trí khác nữa để nhận hàng chuyển bằng đường biển.[2]

Đối với HQNDVN, đây là thất bại đầu tiên và có ý nghĩa như sự chấm dứt đối với cả một giai đoạn của tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển: giai đoạn đối phương mất cảnh giác.[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cutler, Thomas J. (2000), Brown Water, Black Berets: Coastal and Riverine Warfare in Vietnam, Naval Institute Press, Annapolis. ISBN 978-1-55750-196-7.
  • Kelley, Michael P. (2002), Where We Were in Vietnam, Hellgate Press, Central Point, OR. ISBN 978-1-55571-625-7.
  • Larzelere, Alex (1997), The Coast Guard at War, Vietnam, 1965-1975, Naval Institute Press, Annapolis. ISBN 978-1-55750-529-3.
  • Marolda, Edward and G. Wesley Pryce, III, A Short History of the United States Navy and the Southeast Asian Conflict, 1950-1975, (Washington) U.S. Naval Historical Center, 1984.
  • Đặng Phong, 5 đường mòn Hồ Chí Minh, NXB Tri thức, 2008.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kelley, p 5-541
  2. ^ a ă â b Đặng Phong, tr. 204-207
  3. ^ a ă http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/60817/Bung-no-su-kien-Vung-Ro.html
  4. ^ Larzelere, p 1
  5. ^ Cutler, pp 76-77

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]