Thanh long (thực vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh long

Thanh long một loài cây được trồng chủ yếu để lấy quả và cũng là tên của một vài chi của họ xương rồng. Thanh Long là loài thực vật bản địa tại Mexico, các nước Trung MỹNam Mỹ. Hiện nay, loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia (đặc biệt là ở miền tây đảo Java); miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác.

Tên khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Quả của thanh long có ba loại, tất cả đều có vỏ giống như da và có một chút lá. Chúng có tên gọi khoa học như sau:

Các hạt giống như hạt vừng đen nằm lẫn lộn trong ruột. Lớp cùi thịt trong ruột thường được ăn ở dạng quả tươi, có mùi vị thơm dịu, ngọt vừa phải và ít cung cấp calo. Hương vị của nó đôi khi giống như hương vị của quả kiwi (Actinidia deliciosa). Quả có thể chế biến thành nước quả hay rượu vang; hoa có thể ăn được hay ngâm vào nước giống như chè. Mặc dù các hạt bé tí xíu của chúng được ăn cùng với thịt của ruột quả nhưng chúng không bị tiêu hóa.

Thông tin dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Quả thanh long ruột trắng, vỏ đỏ Hylocereus undatus
Quả thanh long ruột đỏ Hylocereus polyrhizus
Quả thanh long Hylocereus polyrhizus ruột màu tím
Quả thanh long ruột trắng, vỏ vàng Hylocereus megalanthus

Giá trị dinh dưỡng trong 100 g quả thanh long (trong đó có 55 g ăn được) như sau:

Các giá trị nêu trên có thể thay đổi theo giống và điều kiện trồng trọt.

Thành phần axit béo của hai giống thanh long [1]

Hylocereus polyrhizus
(thanh long ruột đỏ)
Hylocereus undatus
(thanh long ruột trắng, vỏ đỏ)
Axit myristic 0,2% 0,3%
Axit palmitic 17,9% 17,1%
Axit stearic 5,49% 4,37%
Axit palmitoleic 0,91% 0,61%
Axit oleic 21,6% 23,8%
Cis-Axit vaccenic 3,14% 2,81%
Axit linoleic 49,6% 50,1%
Axit linolenic 1,21% 0,98%

Độ Brix 16 - 17%

Trồng tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Loại ruột đỏ, vỏ hồng lấy giống từ Đài Loan năm 1988, hiện nay mới trồng thử nghiệm tại Lạng SơnPhủ Quỳ (tỉnh Nghệ An). Loại ruột trắng vỏ hồng hay đỏ được trồng rộng rãi ở các tỉnh như Bình Thuận, Long An, Tiền Giang v.v.

Xử lý ra hoa trái vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa của loài Hylocereus undatus

Thời điểm xử lý từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 2 dương lịch, với tuổi cây từ 4-5 tuổi trở lên. Sử dụng điện lưới hoặc máy nổ, công suất điện cần phải ổn định và bóng đèn tròn 75 W hoặc 100 W. Khoảng cách từ bóng đèn đến tán cây từ 0,5–1 m. Thời gian chiếu sáng ban đêm: từ 4-8 giờ. Thời gian chiếu sáng theo đợt: đầu vụ và cuối vụ khoảng 10 - 12 đêm. Giữa vụ (tết) khoảng 15 đêm. Có thể bón thêm phân NPK cho cây.

  • Bón phân cho thanh long trái vụ:
  1. Trước thắp đèn 20-30 ngày xịt phân bón lá có tỷ lệ NPK là 33:11:11 (Tức là có tỷ lệ N = 33%; P2O5 = 11% và K2O = 11%).
  2. Trước thắp đèn 10 ngày xịt phân bón lá NPK = 10:60:10 (1 lần). Sau 5 ngày thì xịt loại 6:30:30 (2 lần).
  3. Ngay sau khi lặt bỏ hoa, xịt ngay SIÊU CANXI, giúp mau lành vết thương, lỗ trái nhỏ và bảo vệ 3 tai dầu trái.
  4. 10 ngày dầu sau khi trái hình thành phun COMBI.GA3, phun 2 lần, cách nhau 5 ngày.
  5. Giai doạn sau 10 ngày, trái lớn rất nhanh cả về kích thước lẫn chất lượng, phun liên tục 2-3 lần KPT "Siêu To Trái THANH LONG", 5-7ngày phun 1 lần.
  6. Chú ý: nếu bị lem trái, phun ngay 7-5-44+TE
  • Sử dụng phân bón lá Humamix trên thanh long trái vụ:
Hoa của loài Hylocereus undatus

Trước khi thắp đèn 1 ngày, xịt Humamix (6:30:30) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 7 ngày). Sau thụ phấn 3 ngày, xịt Humamix (30:10:10) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 5 ngày). Trước khi thu hoạch 3 tuần, xịt Humamix (12:0:30:4 Ca) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày. Chú ý xịt ướt đều trên tán cây vào lúc 9-10 giờ sáng.

Ngoài ra còn có một biện pháp khác dành cho những hộ gia đình không có vốn đầu tư nhưng Thanh long làm ra không có giá bằng Thanh long chông đèn đó là sử dung hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 chấm vào mắt trên cây thanh long để kích thích ra hoa vào thời điểm mà mong muốn.Do Công ty giống cây ăn quả Đồng Nai (VACDONA)nghiên cứu.Phương pháp này rất đơn giản, áp dụng quy trình chăm sóc, bón phân và phun dung dịch VSL-2 kết hợp ni-tơ rát ka-li để kích thích mắt thanh long nở to đồng đều, sau đó bóc mắt và lựa chọn mắt có khả năng nở hoa để chấm hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 vào. Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, chỉ ba ngày sau cây đã nhú nụ và nở hoa sau khoảng 22 ngày. Tuy nhiên, để thanh long ra hoa, đậu quả và có hình dáng quả đẹp cần phải biết kỹ thuật bóc mắt và chấm hỗn hợp dinh dưỡng đúng thời kỳ cây có khả năng tập trung dinh dưỡng ra hoa, kết quả. Hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 đã được Hội đồng khoa học (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công nhận là loại phân bón có chất kích thích sinh trưởng cây trồng ra hoa năm 2002, nhưng đến nay mới triển khai được trên một số hộ nông dân các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai và Long An...

Hiện nay Công ty VACDONA đang cùng một số hộ trồng thanh long nghiên cứu để pha chế hỗn hợp cho phù hợp mỗi mùa vụ và điều kiện khí hậu ở mỗi vùng để đạt năng suất, sản lượng cao nhất. Đây thật sự là một giải pháp giúp bà con nông dân muốn có sản phẩm thanh long thu hoạch trái vụ theo ý muốn để tiêu thụ dịp lễ tết hay thu hoạch theo ý muốn phục vụ xuất khẩu. Chất lượng quả xử lý theo phương pháp này có màu sắc đẹp, độ ngọt cao hơn, cây thanh long khỏe vì được bổ sung thêm dinh dưỡng sau mỗi lần xử lý.

Phòng trừ sâu bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Long loại ruột trắng, vỏ đỏ (Hylocereus undatus)

Một số côn trùng và bệnh hại phổ biến trên thanh long như sau:

  1. Kiến: cắn, đục khoét hom, cành non, tai lá, gây tổn thương vỏ trái làm mất giá trị thương phẩm. Dùng Basudin 10H rải quanh gốc cây, dùng Basudin 50ND Supracide phun xịt trên cành tại các vùng bị gây hại.
  2. Rầy mềm: Có nhiều loại gây hại trên hoa và trái thanh long, chúng chích hút nhựa để lại vết chích nhỏ trên trái làm trái khi chin bị mất màu đỏ tự nhiên, mất giá trị xuất khẩu. Phun Lannate, Cyrux… nồng độ theo khuyến cáo trên nhãn thuốc.
  3. Ruồi đục trái: Gồm nhiều loài nhưng phổ biến gây hại trên hoa và trái. Dùng thuốc bẫy ruồi như Vizubon, đặt 3-5 bẫy/1.000 trụ, đặt rải rác trong vườn thanh long.
  4. Bệnh thối đầu cành: Do các loài nấm thuộc chi Alternaria làm ngọn chuyển màu vàng sau đó bị thối. Dùng Rovral 2 lần liên tiếp cách nhau 1 tuần.
  5. Bệnh đốm nâu thân cành: Do nấm Gloeosporium agaves đốm tròn như mắt cua, nếu tập trung kéo dài thành vệt trên cành.
  6. Bệnh nám cánh: Do nấm Macssonina agaves. Trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám.
  • Phòng trừ:

Vệ sinh đồng ruộng. Chống úng, chống hạn cho cây. Phun Rovral hoặc Anvil 5SC phối hợp với chất dính.

Ngoài ra còn một số bệnh sinh lý như rụng nụ do quá nhiều hoặc phân bón không đầy đủ, mất cân đối, hiên tượng nứt vỏ do thời tiết khô hạn sau đó mưa nhiều làm ruột quả phát triển mạnh hoặc teo trái lâu ngày. Phải kiểm soát không để bị khô hạn.

Công nghệ bảo quản quả thanh long[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, trái thanh long khó xuất đi xa do nhanh bị thối, hỏng. Để có thể xuất khẩu sang các nước châu Âu hay Bắc Mỹ bằng côngtenơ cấp đông theo đường biển nhằm giảm giá thành thì trái thanh long phải được xử lý để chống lại các hiện tượng nói trên. Công nghệ xử lý tiên tiến nhất hiện nay là bằng nước ôzôn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ariffin et al. [2008]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ariffin, Abdul Azis; Bakar, Jamilah; Tan, Chin Ping; Rahman, Russly Abdul; Karim, Roselina & Loi, Chia Chun [2008]: Essential fatty acids of pitaya (dragon fruit) seed oil. Food Chemistry (in press) doi:10.1016/j.foodchem.2008.09.108