C-pop

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ C-Pop)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Cẩm Huy, cha đẻ của dòng nhạc pop tiếng Hoa

C-pop (Giản thể: 中文流行音乐; Phồn thể: 中文流行音樂; Hán-Việt: Trung văn lưu hành âm nhạc) hay còn gọi là nhạc pop Hoa ngữ, nhạc pop tiếng Hoa hay nhạc pop tiếng Trung, là một nền âm nhạc hiện đại của 2 quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) xuất hiện vào thập niên 1920, đôi khi C-pop cũng được nói một cách khó hiểu, bởi vì từ C-pop cũng được sử dụng ở cả 2 quốc gia này và người Hoa thường gọi C-pop bằng nhiều từ: "Nhạc Tàu", "Nhạc Quảng Đông" (Cantopop), "Nhạc Quan Thoại" (Mandopop), "Nhạc Hoa", "Nhạc Hồng Kông",... Ở Việt Nam, C-pop thường được gọi bằng 2 cái tên "Nhạc Hoa" và "C-pop".

Hiện tại có ba nhánh chính trong C-pop, đó là: Cantopop (tiếng Quảng Đông), Mandopop (tiếng Hoa phổ thông) và nhạc pop tiếng Đài Loan. Khoảng cách giữa CantopopMandopop đang được thu hẹp dần trong thiên niên kỉ mới. Nhạc pop tiếng Đài Loan, mặc dù có nguồn gốc từ dòng nhạc enka của Nhật Bản, nay đã được tái hòa nhập với C-pop đồng thời thu hẹp xu hướng phát triển theo Mandopop.

Đặc biệt, thời kì 2004 - 2008 chứng kiến sự bùng nổ của phim thần tượng Đài Loan tại thị trường châu Á, kéo theo đó là sự phổ biến dòng nhạc tình cảm lãng mạn, dễ thương kiểu C-pop (đặc biệt là Mandopop). Ở Việt Nam thời gian này, tiêu biểu có Thu Thủy là nữ ca sĩ V-pop bị ảnh hưởng từ C-pop nhiều nhất.[1]. Những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Lam TrườngLâm Hùng lại là hai nam ca sĩ chuyển thể dòng nhạc Cantopop thành công nhất tại thị trường Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Buck Clayton, một người Mỹ đã giúp mang ảnh hưởng nhạc jazz tới Thượng Hải.

Từ năm 1920 đến năm 1949, "âm nhạc đại chúng Trung Hoa" được dùng để miêu tả tất cả những dòng nhạc đương đại hát bằng phương ngữ tiếng Hoa ở Thượng Hải. Một tên tuổi quan trọng là Lê Cẩm Huy. Buck Clayton là người đã đem ảnh hưởng nhạc jazz của Mỹ tới Trung Quốc và thứ nhạc này đã trở nên phổ biến tại các khu hangout của những câu lạc bộ đêm và vũ trường ở các thành phố lớn trong những năm 1920. Một số đài phát thanh do tư nhân điều hành từ cuối những năm 1920 đến những năm 1950 đã cho phát nhạc C-pop.[2]

Trong khoảng thời gian Nhật Bản xâm chiếm Mãn ChâuNội chiến Trung Quốc, nhạc pop được xem như là một phân tâm cánh tả. Sau Chiến tranh Trung-NhậtChiến tranh thế giới lần thứ hai, C-pop đã được tiếp thị, sản xuất và kinh doanh trong khu vực. Đảng Cộng sản Trung Quốc lập nên nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Một trong những hành động đầu tiên của họ là gán mắc "Nhạc màu vàng" (loại màu có liên quan đến nội dung khiêu dâm) cho thể loại nhạc này. Ngành công nghiệp nhạc pop Thượng Hải sau đó đã đưa nhạc pop tới Hồng Kông và trong những năm 1970 phát triển nên thể loại nhạc Cantopop. Quốc Dân Đảng khi chuyển đến Đài Loan đã hạn chế tiếng Phúc Kiến Đài Loan bản địa từ thập niên 1950 đến cuối những năm 1980. Kết quả là Mandopop trở thành thể loại âm nhạc thống trị tại Đài Loan.

Trong tháng 2 năm 2008, công cụ tìm kiếm hàng đầu của Trung Quốc đại lục là Baidu.com đã bị các tập đoàn công nghiệp địa phương đâm đơn kiện về việc cung cấp nghe, phát và tải nhạc không có sự đồng ý cho phép.[3] Tình trạng vi phạm bản quyền vẫn tiếp tục tồn tại ở Trung Quốc[4] nhưng Google đã công bố một thoả thuận hợp tác cung cấp nghe nhạc miễn phí và các bản sao chép nhạc chính thống. Tương lai của C-pop ở Trung Quốc đại lục đang nổi lên chậm rãi. Tuy nhiên, việc ngăn cấm chương trình cực kì phổ biến Super Girl vào các năm 2008 và 2012 của chính phủ Trung Quốc vẫn là một tranh cãi rất lớn cho thị trường Trung Quốc đại lục.[5]

Những trung tâm sản xuất chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại Tên gọi thông dụng Địa điểm Khu vực sử dụng
C-pop Cantopop Hồng Kông Phồn thể
Mandopop Đài Loan Phồn thể
Bắc Kinh Giản thể
Hồng Kông Phồn thể

Những trung tâm nhỏ hơn, mới nổi[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại Tên gọi thông dụng Địa điểm Khu vực sử dụng
C-pop Cantopop Quảng Đông (廣東/广东) Giản thể & Phồn thể
Malaysia (馬來西亞/马来西亚) Giản thể
Vancouver (溫哥華/温哥华) Giản thể & Phồn thể
Mandopop Singapore (新加坡) Giản thể & Phồn thể*
Malaysia (馬來西亞/马来西亚) Giản thể & Phồn thể*

* dành cho những nghệ sĩ quốc tịch nước ngoài nhưng chủ yếu phát hành album tại thị trường Đài Loan như Lâm Tuấn Kiệt, Vương Lực Hoành, Trương Đống Lương, Tôn Yến Tư, Phan Vỹ Bá.

So sánh ba nhánh chính trong C-pop[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân tố so sánh Cantopop Mandopop Nhạc pop Đài ngữ
Tên tiếng Anh Cantonese pop Mandarin pop Taiwanese pop

Hokkien pop

Viết tắt HK-pop M-pop T-pop
Tên chữ Hán (phồn thể) 粵語流行音樂

(Việt ngữ lưu hành âm nhạc)

華語流行音樂

(Hoa ngữ lưu hành âm nhạc)

台語流行音樂

(Đài ngữ lưu hành âm nhạc)

Tên tiếng Việt Nhạc pop tiếng Quảng Đông Nhạc pop tiếng Quan thoại

Nhạc pop tiếng Hoa phổ thông

Nhạc pop tiếng Đài Loan

Nhạc pop tiếng Phúc Kiến

Nguồn gốc âm nhạc Thời đại khúc (shidaiqu) của Trung Hoa Thời đại khúc (shidaiqu) của Trung Hoa Nhạc enka của Nhật Bản
Thời gian và địa điểm hình thành - Hát bằng tiếng Quan thoại từ những năm 1920 đến 1950 tại Thượng Hải, Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc (trước khi rời sang Hồng Kông)

- Đến thập niên 1970 bắt đầu hát bằng tiếng Quảng Đông và phát triển Cantopop

- Những năm 1920 - 1950 tại Thượng Hải, Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc (trước khi rời sang Đài Loan)

- Tại Cờ Trung Quốc Trung Quốc đại lục từ giữa những năm 2000 đã phát triển dòng nhạc Mandopop riêng thông qua phim điện ảnhphim truyền hình

- Thập niên 1910 tại Đài Loan (khi ấy là thuộc địa của  Đế quốc Nhật Bản)

- Bị hạn chế từ năm 1949 đến 1987 do thiết quân luậtĐài Loan

- Tái hoà nhập từ thập niên 1990 đến nay

Các thể loại nhạc chính âm nhạc Trung Hoa, jazz, rock and roll, R&B, nhạc điện tử, nhạc pop phương Tây âm nhạc Trung Hoa, hip hop, R&B, nhạc New Wave, pop, rock, ballad dân ca, nhạc dance điện tử, nhạc trữ tình, ballad, rock and roll, hip hop, R&B
Trung tâm sản xuất lớn nhất hiện nay Hồng Kông Đài Bắc, Đài Loan Đài Bắc, Đài Loan
Phạm vi phổ biến Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, SingaporeNhật Bản Đài Loan và cộng đồng người gốc Phúc Kiến ở Hạ Môn (Phúc Kiến), Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia

Vài nét về VOCALOID của Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Luo Tianyi (洛天依 Bính âm: Luò tiān yī) (Lạc Thiên Y) là một VOCALOID (ca sỹ giả tưởng) Trung Quốc được phát triển và phân phối bởi Bplats, Inc., thuộc Tập đoàn YAMAHA, và được tạo ra với sự hợp tác của Tập đoàn công nghệ thông tin Thượng Hải Hòa Niệm (Trung Quốc) (上海禾念信息科技有限公司 Bính âm: Shànghǎi hé niàn xìnxī kējì yŏuxiàn gōngsī). Cô được ra mắt vào tháng 7 năm 2012 cho chương trình VOCALOID3. Cô được biết đến nhiều nhất với ca khúc Past Rain (过去的雨 Bính âm: Guòqù de yǔ ) do nhạc sĩ Lu Wentao sáng tác trong tháng 8 năm 2012[6], 66CCFF, Nguyên lý tình yêu của hủ nữ (Rotten Girl's Theory of Love),... Giọng hát của cô được cung cấp bởi một nữ diễn viên lồng tiếng Trung Quốc, Shan Xin (tên thật Wang You Ji) (山新 /王宥霁 Bính âm: Wáng Yòu Jì) - là một phần mềm tách bản ghi âm giọng hát của Shan Xin thành các âm tiết có tần số riêng biệt.Luo Tianyi đã từng biểu diễn trên sân khấu với công nghệ Hologram tại Trung Quốc.Trang Weibo chính thức của Luo Tianyi đã công bố về việc cô ca sĩ này sẽ hợp tác với tựa Game Mobile RPG “Monster X Alliance 2”, trong đó Luo Tianyi sẽ đảm nhiệm vai trò là một NPC hướng dẫn cho người chơi.Không chỉ thế, Tianyi còn xuất hiện trong video quảng cáo để giới thiệu bài hát chủ đề và cả những tính năng chính sẽ có trong game.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 15
Ngày sinh 11 tháng 7 năm 2012
Chiều cao 156 cm / 5 ft 1 in
Cân nặng 46  kg / 95 lb

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Luo Tianyi là một thiên thần đã đến thế gian với sứ mệnh truyền bá âm nhạc thế giới. Tianyi có thể phát hiện "bài hát của trái tim" (心中的歌声 Bính âm: Xīnzhōng de gēshēng ) của một người. Các "bài hát" có thể được hiểu là những cảm xúc mạnh mẽ của một người tại một thời điểm, hoặc một giai điệu đại diện cho họ. Thậm chí nếu người đó không thể diễn tả những giai điệu bản thân, Tianyi vẫn có thể nghe thấy và hát. Tính cách của cô là một người hơi hướng nội, nhưng cô ấy vẫn là cô gái có rất nhiều sự đồng cảm và không bỏ cuộc dễ dàng. Cô ngưỡng mộ các VOCALOID tiền nhiệm từ rất lâu, và ước mơ của ngày cô có thể làm chỉ giống như họ - sử dụng âm nhạc để mang lại hạnh phúc cho thế giới. Mặc dù cô ấy không thể giao tiếp với con người do rào cản ngôn ngữ giữa con người và VOCALOID, cô rất nhạy cảm với cảm xúc của người khác và có thể sử dụng bài hát để thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của riêng mình [7].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhật Đông, Xuân Yến (ngày 19 tháng 3 năm 2012). “Thu Thủy: Hãy để thời gian trả lời”. Báo Hoa Học Trò số 951, trang 5. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ Miller, Toby (2003). Television: Critical Concepts in Media and Cultural Studies. Routledge Publishing. ISBN 0-415-25502-3
  3. ^ Msnbc. "Msnbc." China's top search engine accused of aiding illicit online copying. Retrieved on 2008-03-19.
  4. ^ China Briefing Media. [2004] (2004) Business Guide to the Greater Pearl River Delta. China Briefing Media Ltd. ISBN 988-98673-1-1
  5. ^ hk-dk.dk. "www.hk-dk.dk." Foreign Influence in TV & Film. Retrieved on 2008-03-30.
  6. ^ “Past Rain - Luo Tianyi”. 
  7. ^ “VOCALOID China Project”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]