C-pop

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ C-Pop)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Cẩm Huy, cha đẻ của dòng nhạc pop tiếng Hoa

C-pop (Giản thể: 中文流行音乐; Phồn thể: 中文流行音樂; Hán-Việt: Trung văn lưu hành âm nhạc) hay còn gọi là nhạc pop Hoa ngữ, nhạc pop tiếng Hoa hay nhạc pop tiếng Trung, là một nền âm nhạc hiện đại của 2 quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) xuất hiện vào thập niên 1920, đôi khi C-pop cũng được nói một cách khó hiểu, bởi vì từ C-pop cũng được sử dụng ở cả hai quốc gia này và người Hoa thường gọi C-pop bằng nhiều từ: "Nhạc Tàu", "Nhạc Quảng Đông" (Cantopop), "Nhạc Quan Thoại" (Mandopop), "Nhạc Hoa", "Nhạc Hồng Kông",... Ở Việt Nam, C-pop thường được gọi bằng hai cái tên "Nhạc Hoa" và "C-pop".

Hiện tại có ba nhánh chính trong C-pop, đó là: Cantopop (tiếng Quảng Đông), Mandopop (tiếng Hoa phổ thông) và nhạc pop tiếng Đài Loan. Khoảng cách giữa CantopopMandopop đang được thu hẹp dần trong thiên niên kỉ mới. Nhạc pop tiếng Đài Loan, mặc dù có nguồn gốc từ dòng nhạc enka của Nhật Bản, nay đã được tái hòa nhập với C-pop đồng thời thu hẹp xu hướng phát triển theo Mandopop.

Đặc biệt, thời kì 2004 - 2008 chứng kiến sự bùng nổ của phim thần tượng Đài Loan tại thị trường châu Á, kéo theo đó là sự phổ biến dòng nhạc tình cảm lãng mạn, dễ thương kiểu C-pop (đặc biệt là Mandopop).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Buck Clayton, một người Mỹ đã giúp mang ảnh hưởng nhạc jazz tới Thượng Hải.

Từ năm 1920 đến năm 1949, "âm nhạc đại chúng Trung Hoa" được dùng để miêu tả tất cả những dòng nhạc đương đại hát bằng phương ngữ tiếng Hoa ở Thượng Hải. Một tên tuổi quan trọng là Lê Cẩm Huy. Buck Clayton là người đã đem ảnh hưởng nhạc jazz của Mỹ tới Trung Quốc và thứ nhạc này đã trở nên phổ biến tại các khu hangout của những câu lạc bộ đêm và vũ trường ở các thành phố lớn trong những năm 1920. Một số đài phát thanh do tư nhân điều hành từ cuối những năm 1920 đến những năm 1950 đã cho phát nhạc C-pop.[1]

Trong khoảng thời gian Nhật Bản xâm chiếm Mãn ChâuNội chiến Trung Quốc, nhạc pop được xem như là một phân tâm cánh tả. Sau Chiến tranh Trung-NhậtChiến tranh thế giới lần thứ hai, C-pop đã được tiếp thị, sản xuất và kinh doanh trong khu vực. Đảng Cộng sản Trung Quốc lập nên nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Một trong những hành động đầu tiên của họ là gán mắc "Nhạc màu vàng" (loại màu có liên quan đến nội dung khiêu dâm) cho thể loại nhạc này. Ngành công nghiệp nhạc pop Thượng Hải sau đó đã đưa nhạc pop tới Hồng Kông và trong những năm 1970 phát triển nên thể loại nhạc Cantopop. Quốc Dân Đảng khi chuyển đến Đài Loan đã hạn chế tiếng Phúc Kiến Đài Loan bản địa từ thập niên 1950 đến cuối những năm 1980. Kết quả là Mandopop trở thành thể loại âm nhạc thống trị tại Đài Loan.

Trong tháng 2 năm 2008, công cụ tìm kiếm hàng đầu của Trung Quốc đại lục là Baidu.com đã bị các tập đoàn công nghiệp địa phương đâm đơn kiện về việc cung cấp nghe, phát và tải nhạc không có sự đồng ý cho phép.[2] Tình trạng vi phạm bản quyền vẫn tiếp tục tồn tại ở Trung Quốc[3] nhưng Google đã công bố một thoả thuận hợp tác cung cấp nghe nhạc miễn phí và các bản sao chép nhạc chính thống. Tương lai của C-pop ở Trung Quốc đại lục đang nổi lên chậm rãi. Tuy nhiên, việc ngăn cấm chương trình cực kì phổ biến Super Girl vào các năm 2008 và 2012 của chính phủ Trung Quốc vẫn là một tranh cãi rất lớn cho thị trường Trung Quốc đại lục.[4]

Những trung tâm sản xuất chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại Tên gọi thông dụng Địa điểm Khu vực sử dụng
C-pop Cantopop Hồng Kông Phồn thể
Mandopop Đài Loan Phồn thể
Bắc Kinh Giản thể
Hồng Kông Phồn thể

Những trung tâm nhỏ hơn, mới nổi[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại Tên gọi thông dụng Địa điểm Khu vực sử dụng
C-pop Cantopop Quảng Đông (廣東/广东) Giản thể & Phồn thể
Malaysia (馬來西亞/马来西亚) Giản thể
Vancouver (溫哥華/温哥华) Giản thể & Phồn thể
Mandopop Singapore (新加坡) Giản thể & Phồn thể*
Malaysia (馬來西亞/马来西亚) Giản thể & Phồn thể*

* dành cho những nghệ sĩ quốc tịch nước ngoài nhưng chủ yếu phát hành album tại thị trường Đài Loan như Lâm Tuấn Kiệt, Vương Lực Hoành, Trương Đống Lương, Tôn Yến Tư, Phan Vỹ Bá.

So sánh ba nhánh chính trong C-pop[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân tố so sánh Cantopop Mandopop Nhạc pop Đài ngữ
Tên tiếng Anh Cantonese pop Mandarin pop Taiwanese pop

Hokkien pop

Viết tắt HK-pop M-pop T-pop
Tên chữ Hán (phồn thể) 粵語流行音樂

(Hồng Kông ngữ lưu hành âm nhạc)

華語流行音樂

(Hoa ngữ lưu hành âm nhạc)

台語流行音樂

(Đài ngữ lưu hành âm nhạc)

Tên tiếng Việt Nhạc pop tiếng Quảng Đông Nhạc pop tiếng Quan thoại

Nhạc pop tiếng Hoa phổ thông

Nhạc pop tiếng Đài Loan

Nhạc pop tiếng Phúc Kiến

Nguồn gốc âm nhạc Thời đại khúc (shidaiqu) của Trung Hoa Thời đại khúc (shidaiqu) của Trung Hoa Nhạc enka của Nhật Bản
Thời gian và địa điểm hình thành - Hát bằng tiếng Quan thoại từ những năm 1920 đến 1950 tại Thượng Hải, Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc (trước khi rời sang Hồng Kông)

- Đến thập niên 1970 bắt đầu hát bằng tiếng Quảng Đông và phát triển Cantopop

- Những năm 1920 - 1950 tại Thượng Hải, Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc (trước khi rời sang Đài Loan)

- Tại Cờ Trung Quốc Trung Quốc đại lục từ giữa những năm 2000 đã phát triển dòng nhạc Mandopop riêng thông qua phim điện ảnhphim truyền hình

- Thập niên 1910 tại Đài Loan (khi ấy là thuộc địa của  Đế quốc Nhật Bản)

- Bị hạn chế từ năm 1949 đến 1987 do thiết quân luậtĐài Loan

- Tái hoà nhập từ thập niên 1990 đến nay

Các thể loại nhạc chính âm nhạc Trung Hoa, jazz, rock and roll, R&B, nhạc điện tử, nhạc pop phương Tây âm nhạc Trung Hoa, hip hop, R&B, nhạc New Wave, pop, rock, ballad dân ca, nhạc dance điện tử, nhạc trữ tình, ballad, rock and roll, hip hop, R&B
Trung tâm sản xuất lớn nhất hiện nay Hồng Kông Đài Bắc, Đài Loan Đài Bắc, Đài Loan
Phạm vi phổ biến Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Indonesia, Thái Lan và tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, SingaporeNhật Bản Đài Loan và cộng đồng người gốc Phúc Kiến ở Hạ Môn (Phúc Kiến), Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia

Tầm ảnh hưởng của C-pop tới showbiz Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam thời gian này, tiêu biểu có Hải Băng là nữ ca sĩ V-pop bị ảnh hưởng từ C-pop nhiều nhất, và được mệnh danh là "nữ hoàng ăn cắp nhạc Hoa chuyên nghiệp".[5]. Những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Đan TrườngKhánh Phương lại là hai nam ca sĩ chuyển thể dòng nhạc C-pop thành công nhất tại thị trường Việt Nam. Khánh Phương - “cao thủ đạo nhạc”. Nhắc đến việc "đạo" trong âm nhạc, có lẽ phải đặt Khánh Phương ở vị trí cao nhất bảng tổng kết. Không phải là ca sĩ đầu tiên "ăn cắp trí tuệ" của người khác, nhưng chàng ca sĩ "Chiếc khăn gió ấm" lại có mật độ và mức độ "đạo" khiến ai nhìn vào cũng phải... hoa mắt. Lùm xùm rõ ràng nhất dẫn đến sự châm ngòi cho "ngọn lửa" anti Khánh Phương là việc chàng ca sĩ cho ra đời một album khiến khán giả phải giật mình ngỡ ngàng đến tức cười: “Khánh Phương - Không phải Jay Chou”. Trong khi tự nhận mình không phải người ca sĩ nổi tiếng nước Hoa (mặc dù chẳng ai phong cho anh là Jay Chou của Việt Nam) thì anh lại hồn nhiên hát những ca khúc được coi là "đạo" nhạc của chàng ca sĩ này trong album của mình. Khánh Phương với album có nhiều ca khúc đạo của Jay Chou bị anh "tiếp thu một cách có chọn lọc" gần như 100% về ý tưởng, phong cách cũng như giai điệu.

Vài nét về VOCALOID của Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Luo Tianyi[sửa | sửa mã nguồn]

Luo Tianyi (洛天依 Bính âm: Luò tiān yī) (Lạc Thiên Y) là một VOCALOID (ca sĩ ảo) Trung Quốc được phát triển và phân phối bởi Bplats, Inc., thuộc Tập đoàn YAMAHA, và được tạo ra với sự hợp tác của Tập đoàn công nghệ thông tin Thượng Hải Hòa Niệm (Trung Quốc) (上海禾念信息科技有限公司 Bính âm: Shànghǎi hé niàn xìnxī kējì yŏuxiàn gōngsī). Cô được ra mắt vào tháng 7 năm 2012 cho chương trình VOCALOID3. Cô được biết đến nhiều nhất với ca khúc Past Rain (过去的雨 Bính âm: Guòqù de yǔ) do nhạc sĩ Lu Wentao sáng tác trong tháng 8 năm 2012[6], 66CCFF, Nguyên lý tình yêu của hủ nữ (Rotten Girl's Theory of Love),... Giọng hát của cô được cung cấp bởi một nữ diễn viên lồng tiếng Trung Quốc, Shan Xin (tên thật Wang You Ji) (山新 /王宥霁 Bính âm: Wáng Yòu Jì) - là một phần mềm tách bản ghi âm giọng hát của Shan Xin thành các âm tiết có tần số riêng biệt.Luo Tianyi đã từng biểu diễn trên sân khấu với công nghệ Hologram tại Trung Quốc.Trang Weibo chính thức của Luo Tianyi đã công bố về việc cô ca sĩ này sẽ hợp tác với tựa Game Mobile RPG “Monster X Alliance 2”, trong đó Luo Tianyi sẽ đảm nhiệm vai trò là một NPC hướng dẫn cho người chơi.Không chỉ thế, Tianyi còn xuất hiện trong video quảng cáo để giới thiệu bài hát chủ đề và cả những tính năng chính sẽ có trong game.

Luo Tianyi còn hát cả tiếng Nhật cho dòng VOCALOID4, phát hành vào năm 2017.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 15
Ngày sinh 11 tháng 7 năm 2013
Chiều cao 160cm
Cân nặng 41 kg

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Luo Tianyi là một thiên thần đã đến thế gian với sứ mệnh truyền bá âm nhạc thế giới. Tianyi có thể phát hiện "bài hát của trái tim" (心中的歌声 Bính âm: Xīnzhōng de gēshēng) của một người. Các "bài hát" có thể được hiểu là những cảm xúc mạnh mẽ của một người tại một thời điểm, hoặc một giai điệu đại diện cho họ. Thậm chí nếu người đó không thể diễn tả những giai điệu bản thân, Tianyi vẫn có thể nghe thấy và hát. Tính cách của cô là một người hơi hướng nội, nhưng cô ấy vẫn là cô gái có rất nhiều sự đồng cảm và không bỏ cuộc dễ dàng. Cô ngưỡng mộ các VOCALOID tiền nhiệm từ rất lâu, và ước mơ của ngày cô có thể làm chỉ giống như họ - sử dụng âm nhạc để mang lại hạnh phúc cho thế giới. Mặc dù cô ấy không thể giao tiếp với con người do rào cản ngôn ngữ giữa con người và VOCALOID, cô rất nhạy cảm với cảm xúc của người khác và có thể sử dụng bài hát để thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của riêng mình [7].

Yan He[sửa | sửa mã nguồn]

Yanhe (言和 Bính âm:Yàn Hé; Ngôn Hòa) là người chiến thắng cuộc thi VOCALOID CHINA thứ hai, và thành công trở thành một VOCALOID chính thức. Yan He là VOCALOID thuộc giới tính thứ 3.

Không giống như mẫu thiết kế chiến thắng trước đó, Yanhe không được sửa đổi nhiều, vì vậy tên họ và ca sĩ cung cấp giọng nói của mình vẫn được giữ nguyên. Được lồng tiếng bởi Liu Seira/ Liu Yingluo (劉婧犖 Bính âm:Liú Jìngluò)

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 17
Ngày sinh 11 tháng 7 năm 2013
Chiều cao 170cm

Yuezheng Ling[sửa | sửa mã nguồn]

Yuezheng Ling (乐正绫Bính âm: Yuèzhèng Líng; Nhạc Chính Lăng) là một trong các mẫu đứng thứ nhì của cuộc thi đầu tiên. Mặc dù vào đợt phát hành Vocaloid China 2nd, cô đã được công bố xác thực là sẽ nhận được một voicebank và hiện tại thì đang được thiết kế để trở thành “Vocaloid đầu tiên” dựa trên cơ sở của những mẫu thiết kế đứng nhì trong cuộc thi lần thứ nhất. Được miêu tả như là một nữ học sinh trung học hoạt bát vui vẻ, năng nổ sôi động. Gia đình cô điều hành công ty Yuezheng, một tập đoàn quy mô lớn chuyên sản xuất nhạc khí và âm nhạc.

Tính cách: Thẳng thắn chân thật, thỉnh thoảng còn được xem là lỗ mãng, không giữ ý tứ. Cô cũng chẳng quan tâm đến những chi tiết nhỏ nhặt, cực kỳ hào phóng và tràn đầy năng lượng, cô thường dành phần lớn thời gian để chạy đi khắp nơi. Tinh thần hăng hái vui vẻ của cô đôi khi khiến con trai còn phải ganh tị.

Sở thích: âm nhạc, trải nghiệm những điều mới mẻ to lớn, và chơi với những con búp bê mềm mại đáng yêu.

Tuy rất lạc quan vui vẻ nhưng Ling vẫn có (rất nhiều) rắc rối vấn đề trong cuộc sống của mình, chủ yếu là liên quan đến anh trai cô, Longya. Cô được lồng tiếng bởi QI Inory (祈Inory Bính âm: Qí Inory).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 16
Ngày sinh 11 tháng 7 năm 2015
Chiều cao 160cm
Cân nặng 41 kg

Xin Hua[sửa | sửa mã nguồn]

Xin Hua (tiếng Trung giản thể: 心華, giản thể Trung Quốc: 心华 Xìn Húa/ Tâm Hoa) là một VOCALOID có khả năng Trung Quốc được phát triển bởi tập đoàn YAMAHA và được phân phối bởi Facio, hợp tác với Gynoid Co., Ltd. và được phát hành vào tháng 2 năm 2015 cho động cơ VOCALOID3 . Cô được lồng tiếng bởi Wenyi Wang (王文儀; Bính âm: Wáng Wényí/ Vương Văn Nghi ), một ca sỹ Đài Loan. Tên cô ấy được viết bằng tiếng Trung Quốc truyền thống như "心 華" (Xīn Huá), có nghĩa là "Trái tim thanh lịch". Ý nghĩa thứ hai có thể là "Heart Flower" hay "Flowery Heart" vì " 華 " cũng là một biến thể cũ của " 花 " và được biết đến từ thời cổ đại như "hoa của cây". Một ý nghĩa khác của 華 là "Chinese / of Chinese descent", do đó, khi kết hợp, tên của cô sẽ chuyển thành "Heart of Chinese descent" và sử dụng nhân vật "华" bằng tiếng Trung giản thể.Sau đó người ta đã giải thích rằng tên của cô bắt nguồn từ "桃之夭夭, 灼灼 其 華", một dòng trong bài thơ cổ điển Tao Yao , có nghĩa là "Cây đào còn trẻ và thanh lịch, rực rỡ là hoa của nó". Gynoid nghĩ rằng một cây đào hoặc hoa phù hợp với khái niệm dễ thương của cô và thể hiện tốt hơn tuổi trẻ của một cô gái mười sáu tuổi, vì vậy cô được đặt tên là "Xin Hua". Người ta cũng lưu ý rằng họ muốn tên cũng phù hợp với cụm từ "最美 的 風景 是 人心" ("khung cảnh đẹp nhất là trái tim của người dân"). Điều này là do Đài Loan nổi tiếng vì sự hiếu khách của nó. Bộ váy màu hồng của Xin Hua được tạo ra để thể hiện sự trẻ trung và dễ thương. Dưới trang phục của cô, cô mặc một bộ đồng phục cơ bản Đài Loan cơ bản, làm cho trang phục của cô lớp kép. [4] Một trong những phụ kiện đáng chú ý của cô bao gồm một chiếc beret màu hồng có cùng màu với trang phục của cô. Có một cái khăn quàng cổ màu đen và màu xanh gắn trên cổ cô. Phù hợp với các loại vải rô được gắn với thời trang tương tự như khăn quàng cổ của cô được tìm thấy trên cổ tay của cô qua vòng tay của cô.

Mo Qingxian[sửa | sửa mã nguồn]

Mo Qingxian (墨清弦Bính âm:Mò qīng xián ; Mặc Thanh Huyền) là một mẫu thiết kế đứng nhì (khác) trong cuộc thi tuyển chọn đầu tiên. Được miêu tả như một học sinh trung học rất thời trang. Sỡ hữu ngoại hình thanh lịch tao nhã và có dáng người trưởng thành nên cô rất nổi tiếng trong trường.Mặc dù có vẻ là một nhân vật cực kỳ bí ẩn, nhưng sự thật cho thấy, sức khỏe của cô rất kém dẫn đến việc cô hay có những ‘phản ứng chậm’.

Dường như lúc nào cô cũng ăn mặc đúng mốt thời trang hiện thời, hành động của cô thể hiện sự sang trọng và một vẻ đẹp mang hơi hướng truyền thống.Cô có thể chơi được nhiều loại nhạc cụ truyền thống Trung Hoa một cách khéo léo tài tình. Tuy bị mắc chứng ‘phản ứng chậm’ nhưng cô vẫn luôn cố gắng hết sức mình để chăm sóc quan tâm đến những đàn em cấp dưới và những người xung quanh.Cô có xu hướng thuộc (về dạng) những mẫu người triết học, bình thản và khôn ngoan. Giọng của cô được lồng tiếng bởi Mingyue (冥月 Bính âm: Míngyuè; Minh Nguyệt) - ca sỹ Trung Quốc.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 17
Ngày sinh năm 2017
Chiều cao 160cm
Cân nặng 171cm.

Yuezheng Longya[sửa | sửa mã nguồn]

Yuezheng Longya (乐正龙牙 Bính âm: Yùezhèng Lóngyá; Nhạc Chính Long Nha) là Vocaloid nam tiếng Trung đầu tiên và cũng là thành viên mới nhất trong dự án Vsinger. Là anh trai ruột của Ling và là người thừa kế tập đoàn Yuezheng.

Longya có được nhiều sự kỳ vọng ở nhiều người vì anh là một người có đầu óc lanh lẹ và vô cùng minh mẫn.

Giống như em gái mình, anh rất thẳng thắn bộc trực, nhưng đồng thời, anh cũng có thể tự đưa ra một quyết định cực kỳ quan trọng, mang tính chuẩn xác.Anh có khí chất mạnh mẽ quyết đoán của một nhà lãnh đạo, một người có danh vọng không gì có thể mua chuộc hoặc làm sờn lòng được.

Điểm yếu của Longya chính là những vấn đề rắc rối, lần duy nhất anh không phải đau đầu xử lý đống rắc rối này là khi chúng có liên quan đến em gái anh. Anh được cung cấp giọng bởi ca sỹ Trương Kiệt.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 21
Ngày sinh năm 2017
Chiều cao 180cm

Xing Chen (Stardust)[sửa | sửa mã nguồn]

Xing Chen (星尘 Bính âm: Xìng Chén; Tinh Trần) là VOCALOID4 đầu tiên của Shanghai Henian.

Thiết kế VOCALOID ban đầu của Stardust dựa trên khái niệm ban đầu của Quadimensionko. Có những thay đổi đáng chú ý đáng chú ý khi cô được cho một chiếc váy, ngắn hơn pigtails ở dưới cùng của đầu, và một đầu khác nhau. Thiết kế này đã được vẽ vào tháng Mười Một.

Tuy nhiên, do những lo lắng của người hâm mộ Trung Quốc về sự xuất hiện của cô ấy trông tương tự như Hatsune Miku, Stardust đã được thiết kế lại sau đó . Thiết kế cuối cùng của cô đã được rút ra bởi ideolo nhưng được khái niệm hóa vào tháng 11. Kiểu tóc quad-tail của cô ấy vẫn được giữ nhưng mang theo một cách khác. Cô còn mặc một bộ váy mới và tay áo ấm của cô đã được thay thế bằng găng tay dài.

Kiểu tóc quad-tail của Stardust được tạo ra để đại diện cho "Quadimension". Giọng của cô được cung cấp bởi diễn viên lồng tiếng Chalili(茶理理 Bính âm; Chálǐlǐ).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 21
Ngày sinh tháng 8 năm 2016
Chiều cao 160cm
Cân nặng 45 kg

Zhiyu Moke[sửa | sửa mã nguồn]

Zhiyu Moke (徵羽摩柯 Bính âm: Zhíyù Moké; Trưng Vũ Ma Kha) cũng thuộc hàng những mẫu thiết kế về nhì trong cuộc thi đầu tiên. Moke là một thiên tài với chỉ số IQ 168. Không kể lúc nào cậu cũng giữ một nụ cười ấm áp và ngây thơ trên mặt, nhưng thực sự cậu chính là “đệ nhất Otaku” trong số tất cả các Otaku. Với cách thức hay đe dọa trên Forum, các trang biên tập biên soạn và Uploading MVs, cậu chính thức được xem như là “Thần” bởi một số cá nhân trên Internet.Có lẽ vì là một học sinh ít nói trầm lặng nên một số người có thể sẽ (bị nhầm lẫn mà) xem Moke như một “cậu bé ngoan ngoãn”, tất nhiên, cậu chỉ bộc lộ bản chất Otaku khi ở gần với những người bạn thân thiết.Hành động cử chỉ của Moke phần nào rất giống như là một nhà tranh luận chuyên nghiệp khi nói về Anime hoặc các chủ đề mà Otaku thường hay đề cập, nhưng đôi lúc cậu cũng có những phản ứng nhàm chán, không hứng thú đối với những chủ đề mà cậu không mấy quan tâm. Giọng của cậu được cung cấp bởi nam diễn viên lồng tiếng Su Shanqing (苏尚卿Bính âm: Sū Shàngqīng)

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi 14
Ngày sinh tháng 8 năm 2016
Chiều cao 150cm

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Miller, Toby (2003). Television: Critical Concepts in Media and Cultural Studies. Routledge Publishing. ISBN 0-415-25502-3
  2. ^ Msnbc. "Msnbc." China's top search engine accused of aiding illicit online copying. Retrieved on 2008-03-19.
  3. ^ China Briefing Media. [2004] (2004) Business Guide to the Greater Pearl River Delta. China Briefing Media Ltd. ISBN 988-98673-1-1
  4. ^ hk-dk.dk. "www.hk-dk.dk." Foreign Influence in TV & Film. Retrieved on 2008-03-30.
  5. ^ “Hải Băng đạo nhạc của Trung Quốc”. 
  6. ^ “Past Rain - Luo Tianyi”. 
  7. ^ “VOCALOID China Project”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]