Thomas Delaney

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Thomas Delaney
Delaney, Thomas Werder 17-18 WP (cropped).jpg
Delaney tập luyện tại câu lạc bộ Werder Bremen năm 2017
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Thomas Joseph Delaney
Ngày sinh 3 tháng 9, 1991 (30 tuổi)
Nơi sinh Frederiksberg, Đan Mạch
Chiều cao 1,82 m (5 ft 11+12 in)[1]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Sevilla
Số áo 18
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1993–2008 Copenhagen
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2016 Copenhagen 172 (19)
2016–2018 Werder Bremen 45 (7)
2018–2021 Borussia Dortmund 60 (3)
2021– Sevilla 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2008–2009 U-18 Đan Mạch 3 (0)
2009–2010 U-19 Đan Mạch 11 (1)
2011 U-20 Đan Mạch 2 (0)
2010–2012 U-21 Đan Mạch 11 (0)
2013– Đan Mạch 64 (7)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vô địch quốc gia và chính xác tính đến 16 tháng 5 năm 2021
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 12 tháng 10 năm 2021

Thomas Joseph Delaney (sinh ngày 3 tháng 9 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đan Mạch, hiện anh đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Sevillađội tuyển quốc gia Đan Mạch.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Copenhagen[sửa | sửa mã nguồn]

Delaney thi đấu cho Copenhagen năm 2014

Delaney bắt đầu chơi bóng tại đội trẻ Kjøbenhavns Boldklub và đội dự bị của câu lạc bộ Đan Mạch FC Copenhagen.[2]

Delaney lần thi đấu đầu tiên ở câu lạc bộ Copenhagen trong một trận giao hữu không chính thức vào tháng 8 năm 2008. Sau khi chơi nửa đầu mùa giải 2008–09 trong đội trẻ KB, anh ấy là một phần của đội FCK ở Cúp Đan Mạch. Anh đã có lần ra sân chính thức trong trận bán kết lượt đi với Nordvest FC vào tháng Tư, nơi anh vào thay Hjalte Nørregaard ở giữa hiệp hai.[2] Trong trận lượt về sau đó hai tuần, Delaney có tên trong đội hình xuất phát và chơi trong 60 phút đầu tiên trước khi được thay thế bằng Şaban Özdoğan.

Vào kỳ nghỉ hè năm 2009, anh được đưa lên đội một cùng với Özdoğan. Anh ghi bàn trong trận ra mắt câu lạc bộ vào ngày 22 tháng 7 năm 2009, chơi trọn vẹn trận lượt về trong chiến thắng ở vòng sơ loại thứ hai Champions League của Copenhagen trước FK Mogren.[3][4] Trận đấu đầu tiên của anh ở Superliga là vào ngày 9 tháng 8 năm 2009 gặp SønderjyskE vào sân thay Atiba Hutchinson ở gần cuối trận đấu.[5] Vào ngày 29 tháng 12 năm 2011, đội bóng quyết định gia hạn hợp đồng giữ anh ở lại Copenhagen cho đến cuối năm 2014.[2] Vào thời điểm đó, Delaney đã được vinh danh là cầu thủ gắn bó lâu nhất ở câu lạc bộ, mặc dù chỉ mới 20 tuổi.

Vào ngày 6 tháng 7 năm 2013, Delaney gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2015. Đồng thời, anh có áo số 8.[6] Trong mùa giải tiếp theo, anh thường xuyên được đá chính ở vị trí yêu thích của mình, bao gồm các trận đấu UEFA Champions League gặp Juventus FC, Real MadridGalatasaray. Vào ngày 23 tháng 1 năm 2014, anh tiếp tục gia hạn hợp đồng đến năm 2017.[5] Đồng thời, anh chính thức được bổ nhiệm làm đội phó của đội. Nửa năm sau, Delaney chính thức được trao băng đội trưởng của câu lạc bộ.

Vào ngày 14 tháng 5 năm 2015, anh được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc của trận đấu khi đội bóng của anh ấy giành chiến thắng trong trận chung kết Cúp Đan Mạch 3–2 sau hiệp phụ trước đội bóng đồng hạng Superliga FC Vestsjælland.[7][8]

Vào ngày 27 tháng 9 năm 2016, Delaney đã đóng góp vào chiến thắng 4–0 dễ dàng cho đội bóng của anh bằng một cú vô-lê chân trái từ cự ly 30 mét vào lưới Club Brugge KV của Bỉ[9] tại UEFA Champions League.[10] Bàn thắng đứng thứ ba trong cuộc bầu chọn bàn thắng của mùa giải tại UEFA Champions League.[11]

Werder Bremen[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 17 tháng 8 năm 2016, Werder Bremen thông báo Delaney sẽ gia nhập câu lạc bộ vào tháng 1 năm 2017.[12][13] Vào ngày 18 tháng 2 năm 2017, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ từ một quả đá phạt, trong chiến thắng 2–0 của Werder Bremen trước Mainz 05 trước khi phải lên cáng ra sân vì chấn thương. Đây là trận thắng đầu tiên của câu lạc bộ trong mùa giải mới sau bốn trận thua liên tiếp.[14]

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2017, Delaney lập một hat-trick trong chiến thắng 5–2 của Werder Bremen trước SC Freiburg.[15]

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 7 tháng 6 năm 2018, Delaney ký hợp đồng với Borussia Dortmund theo hợp đồng có thời hạn 4 năm. Phí chuyển nhượng từ Werder Bremen được báo cáo là 20 triệu euro.[16][17]

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 25 tháng 8 năm 2021, Delaney chuyển đến Tây Ban Nha để gia nhập đội bóng La Liga Sevilla theo hợp đồng 4 năm với mức phí được đồn đoán là 6 triệu euro.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Delaney có trận ra mắt đội tuyển U-18 Đan Mạch vào tháng 10 năm 2008, và đã chơi tổng cộng 3 trận. Anh đã chơi 11 trận cho đội U-19 Đan Mạch.

Ngày 11 tháng 8 năm 2010, anh ra sân thi đấu cho đội U-21 Đan Mạch trong trận giao hữu với U-21 Ý.

Delaney có trận ra mắt đội tuyển quốc gia vào ngày 15 tháng 10 năm 2013 trong trận đấu vòng loại FIFA World Cup 2014 với Malta. Trong tháng 5 năm 2018 anh đã có tên trong danh sách 35 cầu thủ sơ bộ trong đội hình của đội tuyển Đan Mạch chuẩn bị cho giải bóng đá vô địch thế giới 2018 tại Nga.[18]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2021[19]
Số trận, số bàn thắng ghi được qua từng mùa giải tại các câu lạc bộ
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Châu Âu Khác Tổng
Giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Copenhagen 2008–09 Danish Superliga 2 0 2 0
2009–10 9 0 3 0 3 1 12 1
2010–11 16 1 2 0 2 0 20 1
2011–12 19 1 1 0 7 0 27 1
2012–13 21 1 3 0 8 0 32 1
2013–14 32 3 5 0 6 0 43 3
2014–15 27 2 5 1 10 0 42 3
2015–16 29 5 5 1 4 0 38 6
2016–17 19 6 0 0 11 2 30 8
Tổng 172 19 26 2 51 3 0 0 249 24
Werder Bremen 2016–17 Bundesliga 13 4 13 4
2017–18 32 3 4 0 36 3
Tổng 45 7 4 0 0 0 0 0 49 7
Borussia Dortmund 2018–19 Bundesliga 30 3 2 0 6 0 38 3
2019–20 11 0 0 0 3 0 0 0 14 0
2020–21 19 1 6 0 7 0 1 0 33 0
Tổng 60 3 8 0 16 0 1 0 85 3
Tổng cộng sự nghiệp 277 29 38 2 67 3 1 0 383 34

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê chính xác tính đến trận đấu diễn ra ngày 12 tháng 10 năm 2021.
Đan Mạch
Năm Số trận Bàn thắng
2013 1 0
2014 0 0
2015 4 0
2016 9 0
2017 9 4
2018 11 0
2019 9 1
2020 7 0
2021 14 2
Tổng cộng 64 7

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của Đan Mạch được để trước.[20][21]

Không. Ngày Địa điểm Đối thủ Ghi bàn Tỉ số Giải đấu
1. 1 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Ba Lan 1 –0 4–0 Vòng loại World Cup 2018
2. 4 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan, Yerevan, Armenia  Armenia 1 –1 4–1
3. 3 –1
4. 4 –1
5. 5 tháng 9 năm 2019 Sân vận động Victoria, Gibraltar  Gibraltar 4 –0 6–0 Vòng loại Euro 2020
6. 3 tháng 7 năm 2021 Sân vận động Olympic, Baku, Azerbaijan  Cộng hòa Séc 1 –0 2–1 Euro 2020
7. 8 tháng 9 năm 2021 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Israel 4 –0 5–0 Vòng loại World Cup 2022

Đời sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Delaney sinh ra ở Đan Mạch và dành cả tuổi trẻ của mình ở đó. Cha anh cũng sinh ra ở Đan Mạch nhưng có quốc tịch Mỹ do cha anh (ông nội của Thomas Delaney) sinh ra ở Mỹ.[22] Delaney cũng có gốc ở Ireland khi ông nội của anh, người đã chuyển từ Ireland đến Mỹ[23] vào những năm 1840 trong thời kỳ nạn đói lớn.

Delaney bị mù màu xanh và đỏ.[24]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Copenhagen
  • Giải VĐQG Đan Mạch: 2009–10, 2010–11, 2012–13, 2015–16, 2016–17
  • Cúp Đan Mạch: 2011–12, 2014–15, 2015–16, 2016–17
Borussia Dortmund
Cá nhân
  • Arla's Talent Award: 2009[2]
  • Danish Cup Fighter: 2015
  • F.C. Copenhagen Player of the Year: 2015, 2016[25]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “THOMAS DELANEY”.
  2. ^ a b c d “Contract Extension for Delaney”. FCK. ngày 29 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  3. ^ “Misery for Mogren in Copenhagen”. UEFA. ngày 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  4. ^ “Mogren 0-6 Copenhagen”. Sky Sports. ngày 22 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  5. ^ a b “Delaney signs new contract”. FCK. ngày 24 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  6. ^ Thomas Delaney forlænger til 2015, F.C. Copenhagen, ngày 6 tháng 7 năm 2013
  7. ^ “FC Vestsjaelland - FC Kobenhavn”. FCK. ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  8. ^ “FCK beat Vestsjælland to win Danish Cup”. UEFA. ngày 14 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  9. ^ “Delaney stunner helps Danish champions canter to victory - beIN SPORTS”.
  10. ^ uefa.com (ngày 27 tháng 9 năm 2016). “UEFA Champions League 2016/17 - History - København-Club Brugge – UEFA.com”.
  11. ^ UEFA.com. “Observers' choice: goals of the #UCL season”.
  12. ^ “Thomas Delaney to move to Werder in the winter”. Werder Bremen. ngày 17 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
  13. ^ Walsh, Jonathan (ngày 17 tháng 8 năm 2016). “Delaney delight at Werder move”. VAVEL. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
  14. ^ “Bremen bounce back at Mainz”. Bundesliga. ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  15. ^ “Thomas Delaney treble boosts Werder Bremen”. Bundesliga. ngày 1 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2017.
  16. ^ “Delaney wechselt für 20 Millionen Euro zum BVB”. kicker Online (bằng tiếng Đức). ngày 7 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  17. ^ “Borussia Dortmund verpflichtet Thomas Delaney” (bằng tiếng Đức). ngày 7 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2018.
  18. ^ “Revealed: Every World Cup 2018 squad - 23-man & preliminary lists & when will they be announced?”. Goal. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  19. ^ “Thomas Delaney”. Soccerway. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2019.
  20. ^ “Delaney, Thomas”. National Football Teams. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
  21. ^ “Delaney, Thomas”. National Football Teams. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
  22. ^ DELANEY DISCUSSES AMERICAN ROOTS, Yanks Abroad, ngày 11 tháng 4 năm 2012
  23. ^ Croke, Ruaidhrí. “Thomas Delaney: Dane with Irish name has eyes only for Russia”. The Irish Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  24. ^ “World Cup 2018: Why millions of fans see the football like this”. BBC.com. ngày 10 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
  25. ^ “Årets spiller...” (bằng tiếng Danish). F.C. Copenhagen Fan Club. 2006. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)[liên kết hỏng]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]