Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Albert
Hoàng phu
Prince Albert of Saxe-Coburg-Gotha by Franz Xaver Winterhalter.jpg
Chân dung vẽ bởi Winterhalter, 1859
Nguyên phối nữ hoàng Anh
Tại vị 10 tháng 2 1840 – 14 tháng 12 1861
Thông tin chung
Phối ngẫu Nữ hoàng Victoria (10 tháng 2 1840 - 18 tháng 12 1862)
Hậu duệ
Tên đầy đủ Francis Albert Augustus Charles Emmanuel
Thân phụ Ernest I, Quận công xứ Saxe-Coburg and Gotha
Thân mẫu Công nương Louise xứ Saxe-Gotha-Altenburg
Sinh (1819-08-26)26 tháng 8 năm 1819
Schloss Rosenau, Coburg
Mất 14 tháng 12 năm 1861(1861-12-14) (42 tuổi)
Lâu đài Windsor
An táng Nhà nguyện St George;
18 tháng 12 1862
Frogmore Mausoleum

Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha (Francis Albert Augustus Charles Emmanuel; 26 tháng 8, 181914 tháng 12, 1861) là phu quân của Nữ hoàng Victoria.

Ông chào đời tại công quốc Saxon thuộc Saxe-Coburg-Saalfeld, trong một gia đình quý tộc có quan hệ bà con gần với các hoàng tộc châu Âu. Năm 20 tuổi, ông lấy người em gái họ; Nữ hoàng Victoria của Anh; và họ có với nhau 9 người con. Ban đầu, vai trò của ông bị lu mờ trước danh tiếng của vợ, điều này khiến ông không có nhiều quyền hành và trách nhiệm. Tuy nhiên sau một loạt các biến cố như cải cách giáo dụcbãi bỏ chế độ nô lệ, danh tiếng của ông lên cao, và ông dần được giao trọng trách quản lý các gia trang, văn phòng và địa ốc của hoàng gia. Ông đóng góp tích cực vào sự thành công vang dội của Đại Triển lãm 1851.

Victoria ngày càng dựa nhiều vào sự hỗ trợ và chỉ dẫn của chồng. Ông có công hỗ trợ định hình cho nền quân chủ lập hiến khi thuyết phục vợ mình ít can thiệp hơn vào công việc của Quốc hội — mặc dùng ông cũng từng bất đồng sâu sắc với chính sách ngoại gia dưới thời Huân tước Palmerston làm Ngoại trưởng. Năm 1857, ông được tấn phong tước vị Hoàng phu.

Albert chết tương đối sớm ở tuổi 42, điều này khiến Nữ hoàng đau thương sâu sắc và bắt đầu một giai đoạn xuống dốc của nền quân chủ Anh. Sau cái chết của nữ hoàng năm 1901, con trai lớn của họ kế vị, tức vua Edward VII, mở ra Vương triều Nhà Sachsen-Coburg và Gotha, được lấy tên dựa theo gốc gác gia đình của Albert.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Albert (bên trái) cùng người anh trai là Ernest và mẹ là Louise, chụp vào thời điểm ít lâu trước khi Louise bị trục xuất khỏi cung đình

Albert chào đời tại Schloss Rosenau, gần Coburg, Đức quốc, là con trai thứ hai của Ernest III, Quận công Saxe-Coburg-Saalfeld, với người vợ đầu tiên, Louise xứ Saxe-Gotha-Altenburg.[1] Vợ tương lai của Albert, Victoria, chào đời sớm hơn trong cùng năm và họ được đỡ đẻ bởi cùng một bà mụ[2] Albert được rửa tội theo nghi thức Giáo hội Luther ngày 19 tháng 9 năm 1819 ở sảnh Marble tại Schloss Rosenau bằng những giọt nước thánh lấy từ dòng sông quê hương, Itz.[3] Những người đỡ đầu cho ông gồm có bà nội, Thái công nương xứ Saxe-Coburg-Saalfeld; ông nội, Quận công Saxe-Gotha-Altenburg; Áo hoàng Franz II; Quận công Teschen; cùng Emanuel, Bá tước xứ Mensdorff-Pouilly.[4] Năm 1825, ông chú của Albert, Friedrich IV, Quận công xứ Saxe-Gotha-Altenburg, qua đời. Cái chết của ông ta đánh dấu sự tái tổ chức lại Công quốc Saxon vào năm sau và phụ thân của Albert trở thành nhà cai trị đầu tiên của công quốc Saxe-Coburg và Gotha.[5]

Vào thời thơ ấu, Albert và anh trai của mình, Ernest, phải chứng kiến cuộc hôn nhân bất hạnh của cha mẹ họ, cuối cùng dẫn đến li thân rồi li hôn.[6] Sau khi mẫu thân rời khỏi vương đình trong năm 1824, bà tái hôn với tình nhân, Alexander von Hanstein, Bá tước xứ Polzig và Beiersdorf. Bà không bao giờ có thể gặp lại các con mình, và sau đó chết vì bệnh ung thư ở tuổi 30 năm 1831.[7] Năm sau, phụ thân họ kết hôn với người cháu ruột, chị họ của các con ông, Công nương Marie xứ Württemberg; cuộc hôn nhân này không hạnh phước, tuy nhiên, Marie không có nhiều ảnh hưởng đến các con riêng của chồng[8].

Hai anh em Albert được dạy học tại tư gia với Christoph Florschütz và sau đó đi học tại Brussels, ở đó Adolphe Quetelet là một trong những người dạy kèm của họ.[9] Cũng giống như các vương công người Đức khác, Albert vào Đại học Bonn, ở đây ông được học luật, kinh tế chính trị, triết họclịch sử nghệ thuật. Ông giỏi về chơi nhạc và thể thao, đặc biệt là các môn nhảy rào và cưới ngựa.[10] Các giảng viên ở Bonn bao gồm triết gia Fichte cùng nhà thơ Schlegel.[11]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung vẽ bởi John Partridge, 1840

Ý tưởng về một đám cưới giữa Albert và em gái họ, Victoria, được bàn đến lần đầu tiên trong bức thư năm 1821 của bà nội ông, Thái Công nương Saxe-Coburg-Saalfeld, trong thư bà nhắc về Albert như "mặc dây chuyền của người em họ tuyệt vời".[12] Khoảng trước năm 1836, ý kiến này lại được nhắc đến lần nữa từ tham vọng của người cậu Leopold, ông này vừa được tôn làm Vua của Bỉ từ năm 1831.[13] Vào lúc đó, Victoria là người đứng đầu danh sách kế thừa ngôi vua nước Anh. Cha của Victoria, Hoàng tử Edward, Quận công xứ Kent v Sàtrathearn, con trai thứ 4 của vua George III, chết sớm khi bà còn thơ ấu, và người bác của Victoria, Vua William IV, không có con nối dõi. Mẹ của bà, Công nương xứ Kent, là em gái ruột của cả phụ thân Albert— tức Quận công Saxe-Coburg và Gotha— và chị ruột Vua Leopold. Leopold bàn với bà chị (mẫu thân Victoria), và mời ngài Quận công Saxe-Coburg và Gotha cùng hai con đến nước Anh yết kiến bà Công nương vào tháng 5 năm 1836, với mục đích chính là giới thiệu Albert với Victoria. William IV, trái lại, không muốn có dây dưa nào với gia tộc Coburgs, và thay vào đó ông ta sắp xếp cho Victoria cưới Hoàng tử Alexander, con trai thứ hai của Hoàng tử xứ Orange (thái tử Hà Lan).[14] Victoria nhận thức rõ về các kế hoạch hôn nhân và có cái nhìn kĩ càng của riêng mình về có ứng viên.[15] Bà ghi lại rằng, "[Albert] thật sự rất điển trai; màu tóc của anh ấy gần giống với của tôi; cặp mắt to và xanh, và anh ấy có cái mũi rất đẹp và một đôi môi rất ngọt ngào cùng những hàm răng chắc khỏe; nhưng hấp dẫn nhất chính là nét mặt, đó là thứ thú vị nhất.

Victoria viết thư cho Leopold để cảm ơn nhà vua "vị cố vấn tuyệt vời và tốt bụng" để cảm ơn ông " về một hạnh phúc "lớn lao" mà cậu đã mang lại cho cháu, trong con người của Albert thân yêu... Anh ấy sở hữu mọi phẩm chất mà cháu ao ước và làm cho cháu hoàn toàn hài lòng. Anh ấy thật là nhạy cảm, thật tốt bụng, thật là giỏi, và cũng thật dễ thương. Bên cạnh đó anh ấy có vẻ bề ngoài dễ chịu và thú vị mà bác có thể thấy ngay."[16] Mặc dù chưa đi đến thỏa thuận chính thức nào, nhưng cả hai bên gia đình đều chấp nhận rằng đám cưới sẽ diễn ra vào thời điểm thích hợp nào đó.[17]

Victoria bước lên ngai vàng ở tuổi 18 vào ngày 20 tháng 6 năm 1837. Bà có vẻ lấy làm hứng thú về học thức của Albert cho vai trò tương lai của ông chính là người chồng của nữ hoàng, nhưng kháng cự lại những nỗ lực đẩy bà vào hôn nhân.[18] Mùa đông 1838-39, Albert có chuyến đi đến Italy, cùng theo với ông và cố vấn bí mật của gia tộc Coburg, Baron Stockmar.[19]

Huy hiệu tàng thư phiếu của Hoàng thân Albert

Albert trở lại Anh quốc cùng Ernest vào tháng 10 năm 1839 để gặp Nữ hoàng, với mục đích bàn thảo về đám cưới.[20] Albert và Victoria thầm cảm mến nhau và Nữ hoàng đề xuất hôn sự diễn ra ngày 15 tháng 10 năm 1839.[21] Victoria tuyên cáo về ý định kết hôn trước Hội đồng cơ mật Vương quốc vào ngày 23 tháng 11,[22] và hai người thành hôn vào ngày 10 tháng 2 năm 1840 tại Nhà nguyện Hoàng gia, Cung điện St James.[23] Ngay trước khi đám cưới, Albert được nhập tịch Anh theo Đạo luật Nghị viện, và được trao tặng danh hiệu Điện hạ (Royal Highness) bởi Hội đồng Cơ mật.

Ban đầu Albert không được sự ủng hộ rộng rãi từ công chúng Anh; vì ông đến từ một tiểu bang nghèo còn thua cả một quận nhỏ của nước Anh.[24] Thủ tướng Anh, Huân tước Melbourne, khuyên Nữ hoàng đừng nên trao cho chồng tước hiệu "Vua thông qua hôn nhân" ("King Consort"); Nghị viện cũng không chịu cho Albert trở thành khanh tướng— vì thái độ thù hằn với người Đức và mọng muốn loại bỏ Albert khỏi tất cả các vai trò chánh trị.[25] Quan niệm tôn giáo của Albert cũng ít nhiều gây tranh cãi giữa các thành viên Nghị viện: mặc dù Albert là người Kháng Cách dòng Tân giáo Luther, sự thiếu sùng đạo của ông là một điều đáng lo ngại.[26] Tuy nhiên hơn thế nữa, nhiều người trong gia đình Albert là người Công giáo La Mã.[27] Melbourne khi đó chỉ nắm giữ thiểu số trong chính phủ và phe đối lập lợi dụng cuộc hôn nhân này để làm suy yếu vị thế của ông ta.[28] Họ phản đối Albert và cấp cho ông khoản phụ cấp nhỏ hơn nhiều so với những người tiền nhiệm,[29] £30,000 thay vì £50,000.[30] Albert tuyên bố ông không cần nhận chức quý tộc Anh, nói: "Đó sẽ là một bước lùi, vì tôi là Quận công Saxony, tôi cảm thấy địa vì này của tôi cao hơn nhiều cái chức Quận công xứ York hay Kent."[31] Trong 17 năm tiếp sau, Albert mang danh xưng chính thức là "HRH Prince Albert" cho đến ngày 25 tháng 6 năm 1857, Victoria mới phong cho ông làm Hoàng phu.

Phu quân của Nữ hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung vẽ bởi Winterhalter, 1842.

Địa vị hoàng tế mà ông có được sau cuộc hôn nhân, mặc khác cũng đem lại cho ông nhiều khó khắn; ông nói về bản thân mình rằng, "Tôi rất hạnh phúc và hài lòng; nhưng thật khó khăn khi vị trí với phẩm giá chính đáng của mình chỉ đơn giản là một người chồng, chứ không phải là trụ cột của gia đình."[32] Tư gia của Nữ hoàng được điều hành bởi người hầu phòng,[33] Nữ Nam tước Lehzen. Albert gọi bà ta là "Nhà Rồng", và dần tìm cách loại trừ ảnh hưởng của Nữ Nam tước.[34]

Chỉ trong chưa tới hai tháng sau khi kết hôn, Victoria mang thai. Albert bắt đầu đảm nhận các vai trò công cộng; ông trở thành Chủ tịch của Hiệp hội Bãi nô (chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ trên khắp Đế quốc Anh, nhưng vẫn còn tồn tại ở Hoa Kỳ và các thuộc địa Pháp); và đã giúp đỡ Victoria xử lý các giấy tờ từ chính phủ.[35] Tháng 6 năm 1840, khi đang ngồi xe ngựa đi diễu hành ngoài đường, Albert và Victoria đang mang thai bị bắn bởi Edward Oxford, thanh niên này sau bị coi là một kẻ điên. Cả Albert lẫn Victoria đều bình an vô sự và Albert được báo chí ca ngợi về lòng dũng cảm và bình tĩnh của ông khi bị tấn công.[36] Albert đã giành được sự ủng hộ từ công chúng cũng như ảnh hưởng chính trị; điển hình là vào, tháng 8, Nghị viện thông qua Điều khoản Chấp chính 1840 theo đó ông sẽ trở thành Nhiếp chính vương trong trường hợp Victoria chết mà con của họ chưa đến tuổi trưởng thành.[37] Đứa con đầu tiên của họ, Victoria, được đặt tên theo tên mẹ, chào đời vào tháng 11. Tám người con khác của họ lần lượt chào đời trong vòng 17 năm tiếp theo. Tất cả 9 hoàng tử công chúa đều sống sót qua tuổi trưởng thành, một điều đặc biệt vào thời điểm mà y học chưa phát triển, điều này khiến sử gia Hermione Hobhouse ghi nhận là do sức khỏe tốt của Albert.[38] Đầu năm 1841, ông đã buộc được Lehzen phải nghỉ hưu, loại bỏ ảnh hưởng của bà ta trong triều, và đến tháng 9 năm 1842 Lehzen phải rời khỏi nước Anh — phần lớn là do tác động từ Albert.[39]

Sau cuộc tuyển cử năm 1841, Melbourne mất chức Thủ tướng về tay Sir Robert Peel, Tân thủ tưởng bổ nhiệm Albert làm Chủ tịch của Ủy ban Hoàng gia phụ trách tái xây mới Cung điện Westminster. Cung điện gặp phải hỏa hoạn 7 năm về nước, và giờ được xây mới. Đóng vai trò bảo trợ cho hoạt động mua bán họa phẩm và tượng điêu khắc, Ủy bản được lập ra để quảng bá mĩ thuật của nước Anh. Công việc của Ủy ban tiến hành chậm chạp, và kiến trúc sư, Charles Barry, ra nhiều quyết định trên danh nghĩa của Ủy ban khi trang trí các căn phòng với các đồ nội thất.[40] Albert gặt được nhiều thành công hơn như là một nhà bảo trợ cá nhân và nhà sưu tập.[41] Trong số những tác phẩm mà ông mua lại có các bức họa cổ của Đức và Italia — Apollo and Diana của Lucas Cranach the ElderSt Peter Martyr của Fra Angelico — và các tác phẩm đương đại của Franz Xaver WinterhalterEdwin Landseer.[42] Ludwig Gruner, của Dresden, hỗ trợ Albert trong việc mua lại các bức tranh với chất lượng cao.[43]

Albert và Victoria bị ám sát hai lần nữa vào ngày 29 và 30 tháng 5 năm 1842, nhưng đều không bị thương. Kẻ thủ ác, John Francis, bị bắt giam và kết tội chết, nhưng sau đó lại được tha.[44] [45] Đầu năm 1844, Victoria và Albert lần đầu tiên xa nhau sau đám cưới khi ông rời nước Anh về Coburg nhân cái chết của phụ thân.[46]

Đến năm 1844, Albert đã có thể hiện đại hóa tài chính hoàng gia, và thông qua nhiều nguồn tài chính khác nhau, ông đã có đủ tiền để mua lại Osborne House thuộc Đảo Wight làm nơi cư trú cho gia đình và những đứa con lần lượt ra đời của họ.[47] Qua một vài năm sau, một ngôi biệt thự theo cấu trúc Ý được xây dựng theo thiết kế của Albert và Thomas Cubitt.[48] Albert đã đưa ra các căn cứ, và cải thiện bất động sản và trang trại. .[49] Albert cũng quản lý và cải tiến các tư sản khác của hoàng gia; những trang trị hiện đại của ông tại Windsor được các nhà viết sử rất ủng hộ,[50] và dưới sự quản lý của ông, thu nhập từ Lãnh địa Công tước Cornwall — tài sản di truyền của ngôi Hoàng tử xứ Wales — không ngừng gia tăng.[51]

Không giống như nhiều chủ đất chấp nhận lao động trẻ con và phản đối Pháp lệnh Cốc vật của Peel, Albert tán thành việc tăng tuổi lao động và ủng hộ tự do thương mại.[52] Năm 1846, Albert bị Huân tước George Bentinck chỉ trích khi ông tham gia một cuộc tranh luận về Pháp lệnh Cốc luật tại Viện thứ dân nhằm ủng hộ Peel.[53] Trong nhiệm kì của Peel, với vai trò tác động từ phía sau, hoặc bên cạnh từ Albert, ngôi vua trở nên minh bạch hơn. Ông có thể xem tất cả giấy tờ của Nữ hoàng, và soạn thảo thư từ cho bà[54] và có mặt khi Nữ hoàng tiếp kiến các Bộ trưởng, nay thậm chí có thể gặp các thành viên chính phủ khi vợ vắng mặt.[55] Thư kí của Hội đồng thư pháp, Charles Greville, viết về ông: "Ông ấy là vua với tất cả các mục đích và ý định."[56]

Phong trào Cải cách[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh màu, 1848

Năm 1847, Albert được bầu làm Hiệu trưởng của Đại học Cambridge sau chiến thắng trước Bá tước Powis.[57] Albert dùng danh nghĩa Hiệu trưởng để vận động cuộc cải cách và hiện đại hóa chương trình giảng dạy đại học, theo đó mở rộng thêm các môn lịch sử hiện đại và khoa học tự nhiên kết hợp với Toán học và Văn học truyền thống.[58]

Mùa hạ năm đó, Victoria và Albert trải qua kì nghỉ mưa ở Loch Laggan miền tây Scotland, nhưng ông nghe tin từ bác sĩ riêng, Sir James Clark, rằng con trai mình muốn có một kì nghỉ ở Lâu đài Balmoral, một nơi có gió và nắng đẹp.[59] Người đang thuê Balmoral, Sir Robert Gordon, bất ngờ chết vào đầu tháng 10, và Albert bắt đầu đàm phán để thuê lại nơi này từ chủ sở hữu, là Bá tước Fife.[60] Tháng 5 năm sau, Albert thuê Balmoral, trước đó ông chưa bao giờ đến nơi này một lần. Tháng 9 năm 1848, ông cùng vợ là con đến lâu đài lần đầu tiên.[61] Họ đến để thưởng thức sự thư giãn và riêng tư mà nó mang lại.[62]

Phong trào Cách mạng bùng lên khắp Âu châu năm 1848 như một hậu quả của cuộc khủng hoàng kinh tế lan rộng.[63] Suốt năm đó, Victoria và Albert phàn nàn về chính sách đối ngoại trung dung của Ngoại trưởng Palmerston, họ cho rằng như thế sẽ làm mất ổn định chính trị ở các cường quốc châu Âu.[64] Albert quan tâm đến số phận của nhiều thân nhân hoàng tộc của mình, nhiều người trong số họ đã bị lật đổ sau Cách mạng.[65] Ông và Victoria, vừa hạ sinh con gái trong năm đó, đã có một thời gian rời khỏi London sang tránh nạn ở Osborne.[66] Mặc dù ở Anh quốc cũng có những cuộc biểu tình lẻ tỉ, nhưng không có cuộc cách mạng nào đáng chú ý nào diễn ra, và Albert thậm chí còn được quần chúng tán dương khi ông bày tỏ quan điểm chính trị của mình với một cái nhìn tổng quan và khoan hòa.[67] Trong bài diễn văn tại Hiệp hội Cải thiện đời sống tầng lớp Lao động, nơi mà ông là Chủ tịch, ông bày tỏ quan điểm "cảm thông và quan tâm đến cộng đồng của chúng ta, những người có phải làm nhiều nhât và hưởng thụ ít nhất trên thế giới này". Đó là "bổn phận của những ai, dưới sự ban phước của Thiên Chúa, đem địa vị, tiền bạc và kiến thức" để giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình.

Là một người có tư tưởng tiến bộ và tự do, Albert không chỉ mở đường cho cải cách giáo dục đại học, phúc lợi công cộng, tài chính hoàng gia và cải cách bãi nô, mà ông còn có dành sự quan tâm của mình cho việc áp dụng khoa học và nghệ thuật để phục vụ cho nền công nghiệp.[68] Đại Triển lãm 1851 được tổ chức nhân triển lãm thường niên của Hiệp hội Nghệ thuật, nơi mà Albert trở thành Chủ tịch từ năm 1843, đã thành công vang dội phần lớn nhờ những nỗ lực quảng bá của ông.[51][69] Albert trở thành Chủ tịch Ủy ban Triển lãm Hoàng gia 1851, và phải nỗ lực đấu tranh cho từng giai đoạn của dự án này.[70] Tại Hạ viện, Huân tước Brougham phản đối đè xuất tổ chức triển lãm ở Hyde Park.[71] Những người chống đối lập luận rằng những tên ngoại đạo và lực lượng cách mạng nước ngoài sẽ nhân đó tim cơ hội quấy rối, phá hoại đạo đức và đức tin của người Anh.[72] Albert nghĩ rằng nói như thế là vô lý, ông tin rằng nền sản xuất của Anh sẽ nhận được nhiều lợi ích khi nhập khẩu các sản phẩm chất lượng từ các nước khác.[51]

Nữ hoàng khai trương cuộc triển lãm tại the Crystal Palace, một tòa nhà kín, và ngày 1 tháng 5 năm 1851. Cuộc triển lãm giành được thành công lớn.[73] Khoản tiền lời £180,000 được dùng để thuê đất ở South Kensington, tại đó người ta thành lập các tổ chức giáo dục và văn hóa — như Bảo tàng lịch sử quốc gia, Bảo tàng khoa học, Cao đẳng Đế quốc London và những nơi về sau gọi là Sảnh Hoàng gia AlbertBảo tàng Victoria và Albert Museum.[74] Khu vực này còn bị những người châm biếm gọi là "Albertopolis".[75]

Cuộc sống gia đình và hoạt động xã hội (1852–1859)[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ hoàng Victoria và Hoàng thân Albert, 1854.

Năm 1852, ông được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ bị bỏ trống sau cái chết của Quận công xứ Wellington, bao gồm cả chức lãnh đạo của Trinity HouseĐại tá của Grenadier Guards.[76] Sau khi lên thay thế Wellington, Albert đã có thể đề xuất và vận động để hiện đại hóa quân đội, hành động được mong đợi từ lâu.[77] Cho rằng quân đội chưa sẵn sàng cho chiến tranh, và giáo điều của Thiên Chúa giáo tốt hơn là Hồi giáo, Albert đã dàn xếp đàm phán ngoại giao cho cuộc xung đột giữa hai đế quốc NgaOttoman.[78] Palmerston hiếu chiến hơn, và theo đuổi chính sách ủng hộ Ottoman và hạn chế sự bành trướng của người Nga.[79] Palmerston bị trục xuất khỏi Nội các vào tháng 12 năm 1853, nhưng cùng thời điểm đó quân Nga tấn công hạm đội của người Thổ tại Sinop.[78] Báo chí London lên án vụ đó như là một cuộc thảm sát, do đó uy tín của Palmerston tăng lên trong khi uy tín của Albert bị suy giảm.[80] Chỉ trong hai tuần, Palmerston trở lại chức Bộ trưởng. Vì công chúng vẫn tiếp tục phẫn nộ trước những hành động tàn bạo của người Nga, có một số tin đồn thất thiệt rằng Albert đã bị kết tội phản bội và bị cầm tù trong Tòa Tháp London.[81]

Tháng 3 năm 1854, Anh và Nga bị cuốn vào Chiến tranh Crimean. Albert đề xuất một kế hoạch tổng thể để giành chiến thắng bằng cách lập vòng vây ở Sevastopol vừa làm kiệt quệ kinh tế Nga, và đây trở thành chiến lược chung của quân Liên minh sau khi Sa hoàng quyết định lui về phòng vệ thụ động.[82] Sự lạc quan ban đầu của người Anh không kéo dài bao lâu khi báo chí đưa tin quân đội Anh trang bị yếu kém, vũ khí lỗi thời, quân lính già nua và kỉ luật không nghiêm chỉnh[83]. Người Nga có sự chuẩn bị cũng không mấy tốt hơn, nên hai bên vẫn cứ giằng co nhau.[83] Thủ tướng khi đó là, Huân tước Aberdeen, từ chức và Palmerston lên thay.[84] Một thỏa thuận được kí kết ở Paris năm 1856, chấm dứt chiến tranh.[85] Giữa lúc đó, Albert cũng xếp đặt cho cô con gái mười bốn tuổi, Victoria, với Hoàng tử Friedrich Wilhelm Phổ quốc, nhưng Albert trì hoãn đám cưới đến ngày Victoria lên mười bảy.[86] Albert hi vọng con gái và con rể sẽ thúc đẩy quá trình tự do hóa ở Phổ.[87]

Hoàng thân Albert, Nữ hoàng Victoria và chín đứa con của họ, 1857.
Từ trái sang phải: Alice, Arthur, Albert (Hoàng phu), Albert Edward (Hoàng tử xứ Wales), Leopold, Louise, Nữ hoàng Victoria với Beatrice, Alfred, VictoriaHelena[88]

Albert cũng cho mở rộng nhiều cơ sở giáo dục công lập. Trong các cuộc họp ông thường hay nói về sự cần thiết phải cải tiến nền giáo dục.[89] Một tập hợp các bài phát biểu của ông được xuất bản năm 1857. Được công nhận là người bảo trợ cho giáo dục và kĩ thuật, ông được mời đến phát biểu ở nhiều hội nghị khoa học, đáng kể nhất là trong Hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học AnhAberdeen năm 1859, ông được bầu làm Chủ tịch.[90] Sự ủng hộ của ông đối với nền khoa học bị giới giáo sĩ phản đối; ông và Palmerston tính phong hiệu hiệp sĩ cho Charles Darwin, nhưng bất thành, sau sự kiện tác phẩm, Nguồn gốc các loài, của ông ta bị Giám mục Oxford phản đối.[91]

Albert tiếp tục tỏ ra tận tụy trong việc giáo dục các con và quản lí gia đình.[92] Bảo mẫu của các con ông, Phu nhân Lyttelton, đánh giá ông là người tử tế và kiên nhẫn, mô tả ông thường rất nhiệt tình khi chơi các trò chơi gia đình.[93] Ông tỏ ra mạnh mẽ khi chứng kiến con gái lớn của mình về nhà chồng là nước Phổ đầu năm 1858,[94] và thất vọng khi con trai lớn, Hoàng tử xứ Wales, không theo kịp chương trình giáo dục đầy áp lực mà chính Albert đặt ra.[95] Năm lên 7, Hoàng tử xứ Wales bị ép phải học 6 giờ 1 ngày, bao gồm 1 giờ học tiếng Đức và 1 giờ tiếng Pháp.[96] Khi Hoàng tử xứ Wales thi trượt, Albert đã nhốt anh ta lại.[97] Thậm chí vào lúc đó ông còn dùng vũ lực đánh con mình, nhưng quan điểm thời đó không cho vậy là tàn nhẫn quá mức.[98] Người viết tiểu sử của Albert Roger Fulford viết rằng quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là "thân thiệt, trìu mến và bình thường, ... Không có bằng chứng hoặc nào trong nội bộ Hoàng gia và Chính phủ cho thấy giữa Hoàng phu và con trai cả của ông ta không dành cho nhau một tình cảm sâu sắc."[99] Philip Magnus viết trong Tiểu sử về Edward VII rằng Albert "cố gắng đối xử bình đẳng giữa các con; và họ có thể thấu hiểu khó khăn và sự thận trọng của ông vì ông không chỉ yêu thương mà còn cần có họ bên cạnh."[100]

Lâm bệnh và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp bởi J. J. E. Mayall, 1860

Albert mặc bệnh đau dạ dày nặng vào tháng 8 năm 1859.[101] Trong chuyến trở về Coburg vào mùa thu năm 1860 ông tự mình lái chiếc xe kéo bởi bốn con ngựa và không may gặp sự cố. Vì mấy con ngựa cứ tiếp tục chạy không chịu dừng mà trước mắt là một đoàn tàu hỏa đang sắp chạy đến, Albert phải tự cứu mạng mình bằng cách nhảy ra khỏi lưng ngựa.[102] Một trong số những chú ngựa bị cán chết, và Albert bị sốc nặng, mặc dù thương thế không có gì nghiêm trọng.[102] Ông nói với anh trai và con gái lớn của mình rằng ông cảm thấy ngày cuối cùng của mình sắp đến.[103]

Tháng 3 năm 1861, hoàng mẫu của Victoria và là dì của Albert, Thái công nương xứ Kent, qua đời và Victoria đang cực kì đau buồn; Albert đành gánh hết tất cả công việc của vợ, dù cho chính ông cũng đang mắc bệnh đau dạ dày mãn tính.[104] Sự kiện công cộng cuối cùng mà ông chủ trì là Lễ khai trương Royal Horticultural Gardens vào ngày 5 tháng 6 năm 1861.[105] Tháng 8, Victoria và Albert đến thăm Curragh Camp, Ireland, ở tại đó Hoàng tử xứ Wales đang học một khóa quân sự. Trước đó ở tại Curragh, Hoàng tử xứ Wales được các đồng nghiệp giới thiệu cho một diễn viên người Ireland, Nellie Clifden.[106]

Tháng 11, Victoria và Albert trở về Windsor, và Hoàng tử xứ Wales trở về Cambridge, nơi ông ta đang theo học. Hai người anh em họ của Albert, Vua Pedro VHoàng tử Ferdinand của Bồ Đào Nha, mới vừa chết vì sốt thương hàn.[107] Khi đó, Albert nghe được tin đồn từ Câu lạc bộ quý ông và các tờ báo nước ngoài nói rằng Hoàng tử xứ Wales có quan hệ tình cảm với Nellie Clifden.[108] Albert và Victoria cảm thấy kinh hoàng bởi sự vô minh của con họ; sợ bị tống tiền, scandal và nhất là e ngại rằng Clifden có thể đã mang thai.[109] Mặc dù Albert vẫn còn mang bệnh và ngày càng suy yếu, ông vẫn đi đến Cambridge để gặp Hoàng tử xứ Wales ngày 25 tháng 11[110] để khiển trách cậu quý tử.[51]Sử liệu không cho ai biết hai người họ nói gì với nhau. Đến cuối tuần Albert bắt đầu phát đau ở lưng và hai chân.[111]

Khi xảy ra sự cố Trent Affair — hai nhà ngoại giao của Liên bang miền Nam Hoa Kỳ bị quân đội miền Bắc bắt giữ trên một con tàu Anh – đe dọa đến quan hệ Anh và Mỹ, Albert dù đang bệnh nặng, nhưng vẫn cố gượng để dàn xếp cuộc thương lượng.[112]

Ngày 9 tháng 12, một bác sĩ của Albert, William Jenner, chẩn đoán ông đã mắc phải bệnh sốt thương hàn. Albert qua đời vào lúc 10:50 chiều ngày 14 tháng 12 năm 1861 tại Phòng Xanh tại Lâu đài Windsor, bên cạnh ông là Victoria và năm trong số chín đứa con (Edward, Alice, Louise, Helena and Arthur. Victoria ở Đức, Leopold ở Pháp, Alfred đang ngồi trên thuyền, và Beatrice (con gái út) đang ở nơi khác)[113].[114] Chẩn đoán đương thời nói rằng ông bị sốt thương hàn, nhưng nhiều học giả hiện đại chỉ ra rằng Albert có thể đã mắc bệnh ít nhất hai năm trước khi ông qua đời, có thể đó là một căn bệnh mãn tính, chẳng hạn như bệnh Crohn,[115] suy thận, hay ung thư, là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông.[116]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Đài tưởng niệm Hoàng thân Prince Albert, Edinburgh
Xem thêm thông tin: Royal eponyms in Canada

Nữ hoàng đau buồn cực độ, và những cảm xúc ấm áp mà công chúng dành cho Albert được thay thế bởi sự cảm thông.[117] Victoria mặc đồ đen suốt 40 năm còn lại của cuộc đời, và phòng của Albert trong tất cả những ngôi nhà của ông được giữ nguyên trạng như trước, kể cả việc người hầu đem trà vào buổi sáng, và lanh cùng khăn lạnh được thay hằng ngày.[118] Đây là một thực tế không hiếm gặp của những gia đình vương giả.[119] Victoria tránh mặt trước công chúng và một số nỗ lực của Albert để cải tiến chế độ quân chủ thành một biểu tượng đạo đức hơn là quyền lực chính trị.[120] Albert được ghi nhận là người đưa ra nguyên tắc rằng Hoàng gia Anh nên giữ thế trung dung trước chính trị.[121] Trước khi cưới, Victoria ủng hộ Đảng Whig; ví dụ, khi mới lên ngôi Victoria định chống phá chính phủ đảng Tory của Sir Robert Peel khi từ chối những người hầu phòng do Peel bổ nhiệm cho bà.[122]

Di thể Albert được quàn tạm ở Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor,[123] cho đến một năm sau khi chết di thể mới được đưa đến Lăng mộ Frogmore, nơi này vẫn chưa xây dựng xong cho đến năm 1871.[124] Cái hòm, chức di thể của ông và Nữ hoàng hợp táng với nhau, được chạm khắc từ khối đá granit lớn nhất từng được khai thác ở Anh.[125] Mặc dù Albert yêu cầu rằng đừng nên xây dựng bất cứ công trình gì mang tên ông, nhưng nhiều công trình được xây dựng trên khắp đất nước, và trên toàn Đế quốc Anh.[126] Đáng kể nhất trong số đó là Sảnh Hoàng gia AlbertĐài tưởng niệm Albert ở London.

Các địa danh và vật thể được đặt tên theo Albert từ Hồ Albertchâu Phi đến thành phố Prince Albert, Saskatchewan, Huy chương Albert Medal do Hội đồng Nghệ thuật hoàng gia trao tặng. Bốn trung đoàn Hải quân Anh được đặt tên theo ông: 11th (Prince Albert's Own) Hussars; Prince Albert's Light Infantry; Prince Albert's Own Leicestershire Regiment of Yeomanry Cavalry, và The Prince Consort's Own Rifle Brigade. Ông và Nữ hoàng Victoria quan tâm đến việc thành lập và phát triển AldershotHampshire làm nơi đồn trú quân những năm 1850. Họ cho xây Royal Pavilion bằng gỗ ở đó để trú ngụ trong những lần đi giám sát quân đội.[127] Albert thành lập Thư viện Hoàng phu tại Aldershot, vẫn còn cho đến ngày hôm nay.[128]

Những bản tiểu sử được xuất bản sau cái chết của Albert mang màu sắc nặng nề và thương cảm. Quyển 5 của magnum opus của Theodore Martin có sự hỗ trợ từ Nữ hoàng Victoria, và những thể hiện nhiều cảm xúc của bà trong đó. Tuy nhiên đó lại là một nguồn chính xác và đầy đủ.[129] Queen Victoria của Lytton Strachey (1921) thể hiện quan điểm chỉ trích ông, nhưng một phần là do các nhà viết tiểu sử giữa thế kỷ XX viết ra chẳng hạn như Hector BolithoRoger Fulford, và họ chưa từng xem quan nhật kí và thư từ của Victoria như Strachey.[130] Một câu chuyện thần thoại lan truyền rộng rãi về Hoàng phu Albert — nói ông là người đưa Cây thông Noel đến Anh - bị các học giả bác bỏ.[131] Nhà viết sử hiện đại, ví dụ như Stanley Weintraub, miêu tả Albert là một nhân vật trong một câu chuyện tình lãng mạn và bi thảm, ông ra đi quá sớm và làm người còn lại tổn thương suốt cuộc đời, [51] Bộ phim năm 2009 The Young Victoria, nhân vật Albert, do Rupert Friend thủ diễn, có phần sử thi hóa; mô tả trong vụ ám sát năm 1840, ông đã đỡ viên đạn giùm cho Victoria — điều này dường như không đúng với thực tế.[132][133]

Danh hiệu và huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Albert trong trang phục Knight Grand Cross tại the Bath, 1842

Danh hiệu, phong hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 26 tháng 8 1819 – 12 tháng 11 1826: Đức ngoài Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg-Saalfeld, Quận công Saxony
  • 12 tháng 11 1826 – 6 tháng 2 1840: Đức ngài Hoàng thân Albert của Saxe-Coburg và Gotha, Quận công Saxony
  • 6 tháng 2 1840 – 25 tháng 6 1857: Điện hạ Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha, Quận công Saxony
  • 25 tháng 6 1857 – 14 tháng 12 1861: Điện hạ Hoàng phu

Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Anh

Nước khác

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu của Hoàng thân Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha được trao năm 1840

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Sinh Mất Vợ chồng và con cái[140][141]
Victoria, Công chúa Hoàng gia,
về sau là Hoàng hậu Đức và Hoàng hậu Phổ
184021 tháng 11 năm 1840 19015 tháng 8 năm 1901 Kết hôn năm 1858, với Frederick, Hoàng thái tử Đức và Phổ về sau là Frederick III, Hoàng đế Đức và vua Phổ (18311888);
bốn con trai, bốn con gái (bao gồm Wilhelm II, Hoàng đế Đức và Vua của Phổ cùng Sophia, Hoàng hậu Hi Lạp)
Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales,
về sau là Vua Edward VII
18419 tháng 11 năm 1841 19106 tháng 5 năm 1910 Kết hôn năm 1863, Công chúa Alexandra của Đan Mạch (18441925);
3 con trai, ba con gái (bao gồm Vua George VMaud, Hoàng hậu Na Uy)
Công chúa Alice,
về sau là Đại Công nương xứ Hesse
184325 tháng 4 năm 1843 187814 tháng 12 năm 1878 Kết hôn năm 1862, Louis IV, Đại Công tước Hesse và by Rhine (18371892);
2 con trai, năm con trai (bao gồm Alexandra, Hoàng hậu Nga)
Hoàng tử Alfred, Công tước Edinburgh
về sau là Công tước Saxe-Coburg và Gotha
18446 tháng 8 năm 1844 190031 tháng 7 năm 1900 Kết hôn năm 1874, Nữ Đại Công tước Maria Alexandrovna của Nga (18531920);
2 con trai (1 chết lưu), bốn con gái (bao gồm Marie, Hoàng hậu Romania)
Công chúa Helena 184625 tháng 5 năm 1846 19239 tháng 6 năm 1923 Kết hôn năm 1866, Hoàng thân Christian xứ Schleswig-Holstein (18311917);
4 con trai (1 người chết lưu), hai con gái
Công chúa Louise
về sau là Công nương xứ Argyll
184818 tháng 3 năm 1848 19393 tháng 12 năm 1939 Kết hôn năm 1871, John Douglas Sutherland Campbell (18451914), Hầu tước xứ Lorne, về sau là Công tước Argyll thứ 9;
không có con
Hoàng tử Arthur
về sau là Công tước xứ Connaught và Strathearn
18501 tháng 5 năm 1850 194216 tháng 1 năm 1942 Kết hôn năm 1879, với Công chúa Louise Margaret của Phổ (18601917);
1 con trai, hai con gái
Hoàng tử Leopold
về sau là Công tước Albany
18537 tháng 4 năm 1853 188428 tháng 3 năm 1884 Kết hôn năm 1882, với Công nương Helena xứ Waldeck và Pyrmont (18611922);
1 con trai, một con gái
Công chúa Beatrice 185714 tháng 4 năm 1857 1944 26 tháng 10 năm 1944 Kết hôn năm 1885, với Hoàng thân Henry xứ Battenberg (18581896);
ba con trai, một con gái (bao gồm Victoria Eugenie, Hoàng hậu Tây Ban Nha)
Gia đình của Victoria năm 1846 bởi Franz Xaver Winterhalter. Từ trái qua phải: Hoàng tử AlfredHoàng tử xứ Wales; Nữ vương Hoàng phu Albert; các công chúa Alice, HelenaVictoria

42 đứa cháu nội, ngoại của Albert có bốn người là quân vương từng tại nhiệm: Vua George V của Anh; Wilhelm II, Hoàng đế Đức; Ernest Louis, Đại Công tước xứ Hesse; và Charles Edward, Quận công xứ Saxe-Coburg và Gotha, và 5 nguyên phối của các quốc vương đương thời: Hoàng hậu Maud của Na Uy, Sophia của Hi Lạp, Victoria Eugenie của Tây Ban Nha, Marie của Romania, và Hoàng hậu Alexandra của Nga. Nhiều hậu duệ của Albert đến nay vẫn còn rải rác trong khắp các gia đình hoàng tộc và quý tộc ở châu Âu.

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hobhouse 1983, tr. 2; Weintraub 1997, tr. 20; Weir 1996, tr. 305.
  2. ^ Weintraub 1997, tr. 20.
  3. ^ Weintraub 1997, tr. 21.
  4. ^ Ames 1968, tr. 1; Hobhouse 1983, tr. 2.
  5. ^ e.g. Montgomery-Massingberd 1977, tr. 259–273.
  6. ^ Weintraub 1997, tr. 25–28.
  7. ^ Hobhouse 1983, tr. 4; Weintraub 1997, tr. 25–28.
  8. ^ Weintraub 1997, tr. 40–41.
  9. ^ Hobhouse 1983, tr. 16.
  10. ^ Weintraub 1997, tr. 60–62.
  11. ^ Ames 1968, tr. 15; Weintraub 1997, tr. 56–60.
  12. ^ Hobhouse 1983, tr. 15.
  13. ^ Hobhouse 1983, tr. 15–16; Weintraub 1997, tr. 43–49.
  14. ^ Weintraub, tr. 43–49
  15. ^ Weintraub 1997, tr. 43–49.
  16. ^ Weintraub 1997, tr. 51.
  17. ^ Weintraub 1997, tr. 53, 58, 64, 65.
  18. ^ Weintraub 1997, tr. 62.
  19. ^ Hobhouse 1983, tr. 17–18; Weintraub 1997, tr. 67.
  20. ^ Fulford 1949, tr. 42; Weintraub 1997, tr. 77–81.
  21. ^ Fulford 1949, tr. 42–43; Hobhouse 1983, tr. 20; Weintraub 1997, tr. 77–81.
  22. ^ Fulford 1949, tr. 45; Hobhouse 1983, tr. 21; Weintraub 1997, tr. 86.
  23. ^ Fulford 1949, tr. 52; Hobhouse 1983, tr. 24.
  24. ^ Fulford 1949, tr. 45.
  25. ^ Weintraub 1997, tr. 88.
  26. ^ Abecasis-Phillips 2004.
  27. ^ Murphy 2001, tr. 28–31.
  28. ^ Weintraub, tr. 89
  29. ^ Weintraub 1997, tr. 8–9, 89.
  30. ^ Fulford 1949, tr. 47; Hobhouse 1983, tr. 23–24.
  31. ^ Trích dẫn trong Jagow 1938, tr. 37.
  32. ^ Albert viết cho William von Lowenstein, tháng 5 1840, trích dẫn trong Hobhouse 1983, tr. 26.
  33. ^ Gọi theo một cách đúng hơn là "Lady Attendant".
  34. ^ Fulford 1949, tr. 59–74.
  35. ^ Weintraub 1997, tr. 102–105.
  36. ^ Weintraub 1997, tr. 106–107.
  37. ^ Weintraub 1997, tr. 107.
  38. ^ Hobhouse 1983, tr. 28.
  39. ^ Fulford 1949, tr. 73–74.
  40. ^ Ames 1968, tr. 48–55; Fulford 1949, tr. 212–213; Hobhouse 1983, tr. 82–88.
  41. ^ Ames, tr. 132–146, 200–222; Hobhouse, tr. 70–78
  42. ^ Ames 1968, tr. 132–146, 200–222; Hobhouse 1983, tr. 70–78. National Gallery, London, nhận 25 bức vẽ vào năm 1863 presented by Queen Victoria at the Prince Consort's wish. Xem thêm tại #Liên kết ngoài về các tác phẩm của Royal Collection.
  43. ^ Cust 1907, tr. 162–170.
  44. ^ Weintraub 1997, tr. 134–135.
  45. ^ Ames 1968, tr. 172; Fulford 1949, tr. 95–104; Weintraub 1997, tr. 141.
  46. ^ Ames 1968, tr. 60; Weintraub 1997, tr. 154.
  47. ^ Fulford 1949, tr. 79; Hobhouse 1983, tr. 131; Weintraub 1997, tr. 158.
  48. ^ Ames 1968, tr. 61–71; Fulford 1949, tr. 79; Hobhouse 1983, tr. 121; Weintraub 1997, tr. 181.
  49. ^ Hobhouse 1983, tr. 127, 131.
  50. ^ Fulford 1949, tr. 88–89; Hobhouse 1983, tr. 121–127.
  51. ^ a ă â b c Weintraub 2004.
  52. ^ Fulford 1949, tr. 116.
  53. ^ Fulford 1949, tr. 116; Hobhouse 1983, tr. 39–40.
  54. ^ Hobhouse 1983, tr. 36–37.
  55. ^ Fulford 1949, tr. 118.
  56. ^ Nhật kí của Greville quyển V, tr. 257 trích dẫn trong Fulford 1949, tr. 117.
  57. ^ Fulford 1949, tr. 195–196; Hobhouse 1983, tr. 65; Weintraub 1997, tr. 182–184.
  58. ^ Fulford 1949, tr. 198–199; Hobhouse 1983, tr. 65; Weintraub 1997, tr. 187, 207.
  59. ^ Weintraub, tr. 189–191
  60. ^ Weintraub 1997, tr. 189–191.
  61. ^ Weintraub 1997, tr. 193, 212, 214, 203, 206.
  62. ^ Trích từ nhật kí những ngày lễ của Nữ hoàng, xuất bản thành sách năm 1868 với tên Trở về từ cuộc sống của chúng ta ở Cao nguyên.
  63. ^ Weintraub, tr. 192
  64. ^ Fulford 1949, tr. 119–128; Weintraub 1997, tr. 193, 212, 214 và 264–265.
  65. ^ Weintraub, tr. 192–201
  66. ^ Weintraub, tr. 192–193
  67. ^ Weintraub 1997, tr. 192–201.
  68. ^ Fulford 1949, tr. 216–217; Hobhouse 1983, tr. 89–108.
  69. ^ Fulford 1949, tr. 219–220.
  70. ^ e.g. Fulford 1949, tr. 221.
  71. ^ Fulford 1949, tr. 220.
  72. ^ Fulford 1949, tr. 217–222.
  73. ^ Fulford 1949, tr. 222; Hobhouse 1983, tr. 110.
  74. ^ Hobhouse 1983, tr. 110.
  75. ^ Ames 1968, tr. 120; Hobhouse 1983, tr. x; Weintraub 1997, tr. 263.
  76. ^ Weintraub 1997, tr. 270–274, 281–282.
  77. ^ Hobhouse 1983, tr. 42–43, 47–50; Weintraub 1997, tr. 274–276.
  78. ^ a ă Weintraub, tr. 288–293
  79. ^ e.g. Fulford 1949, tr. 128, 153–157.
  80. ^ Weintraub 1997, tr. 288–293.
  81. ^ Fulford 1949, tr. 156–157; Weintraub 1997, tr. 294–302.
  82. ^ Stewart 2012, tr. 153–154.
  83. ^ a ă Weintraub, tr. 303–322
  84. ^ Weintraub 1997, tr. 303–322, 328.
  85. ^ Weintraub, tr. 326 ff.
  86. ^ Weintrau tr. 326 ff.
  87. ^ Weintraub 1997, tr. 326, 330.
  88. ^ Finestone 1981, tr. 36.
  89. ^ Hobhouse 1983, tr. 63.
  90. ^ Darby & Smith 1983, tr. 84; Hobhouse 1983, tr. 61–62; Weintraub 1997, tr. 232.
  91. ^ Weintraub 1997, tr. 232.
  92. ^ Fulford 1949, tr. 71–105; Hobhouse 1983, tr. 26–43.
  93. ^ Hồi kí của Phu nhân Lyttelton trích dẫn trong Fulford 1949, tr. 95 và bức thư của bà ta trích dẫn trong Hobhouse 1983, tr. 29.
  94. ^ Fulford 1949, tr. 252; Weintraub 1997, tr. 355.
  95. ^ Fulford 1949, tr. 253–257; Weintraub 1997, tr. 367.
  96. ^ Fulford 1949, tr. 255.
  97. ^ Nhật kí của Sir James Clark trích trong Fulford 1949, tr. 256.
  98. ^ Fulford 1949, tr. 260.
  99. ^ Fulford 1949, tr. 261–262.
  100. ^ Magnus, Philip (1964) King Edward VII, tr. 19–20, trích dẫn trong Hobhouse 1983, tr. 28–29.
  101. ^ Stewart 2012, tr. 182.
  102. ^ a ă Weintraub, tr. 392–393
  103. ^ Weintraub 1997, tr. 392–393.
  104. ^ Hobhouse 1983, tr. 150–151; Weintraub 1997, tr. 401.
  105. ^ Stewart 2012, tr. 198.
  106. ^ Weintraub 1997, tr. 404.
  107. ^ Weintraub 1997, tr. 405.
  108. ^ Hobhouse 1983, tr. 152; Weintraub 1997, tr. 406.
  109. ^ Weintraub 1997, tr. 406.
  110. ^ Hobhouse 1983, tr. 154; Fulford 1949, tr. 266.
  111. ^ Stewart 2012, tr. 203.
  112. ^ Hobhouse 1983, tr. 154–155; Martin 1874–80, tr. 418–426, vol. V; Weintraub 1997, tr. 408–424.
  113. ^ Hobhouse, tr. 156
  114. ^ Darby & Smith 1983, tr. 3; Hobhouse 1983, tr. 156 và Weintraub 1997, tr. 425–431.
  115. ^ Paulley, J.W. (1993). “The death of Albert Prince Consort: the case against typhoid fever”. QJM 86 (12): 837–841. PMID 8108541. 
  116. ^ e.g. Hobhouse 1983, tr. 150–151.
  117. ^ Darby & Smith 1983, tr. 1; Hobhouse 1983, tr. 158; Weintraub 1997, tr. 436.
  118. ^ Darby & Smith 1983, tr. 1–4; Weintraub 1997, tr. 436.
  119. ^ Weintraub 1997, tr. 438.
  120. ^ Weintraub 1997, tr. 441–443.
  121. ^ Fulford 1949, tr. 57–58, 276; Hobhouse 1983, tr. viii, 39.
  122. ^ Fulford 1949, tr. 67; Hobhouse 1983, tr. 34.
  123. ^ Darby & Smith 1983, tr. 21; Hobhouse 1983, tr. 158
  124. ^ Darby & Smith 1983, tr. 28; Hobhouse 1983, tr. 162.
  125. ^ Darby & Smith 1983, tr. 25.
  126. ^ Darby & Smith 1983, tr. 2, 6, 58–84.
  127. ^ Hobhouse 1983, tr. 48–49.
  128. ^ Hobhouse 1983, tr. 53.
  129. ^ Fulford 1949, tr. ix–x.
  130. ^ e.g. Fulford 1949, tr. 22–23, 44, 104, 167, 209, 240.
  131. ^ Armstrong 2008.
  132. ^ Jurgensen 2009.
  133. ^ Knight 2009.
  134. ^ Weir 1996, tr. 305.
  135. ^ a ă â Burke's Peerage & Baronetage, 1921, tr. 3.
  136. ^ Nicolas, Sir Nicholas Harris (1842). History of the Orders of Knighthood of the British Empire; of the Order of the Guelphs and of the Medals, Clasps, and Crosses Conferred for the Naval and Military Services 3. London: John Hunter. tr. 190. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017. 
  137. ^ H. Tarlier (1854). Almanach royal officiel, publié, exécution d'un arrête du roi (bằng tiếng Pháp) 1. tr. 37. 
  138. ^ “Badge of the Order of the Golden Fleece”. Royal Collection. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2016. 
  139. ^ Jørgen Pedersen (2009). Riddere af Elefantordenen, 1559–2009 (bằng tiếng Đan Mạch). Syddansk Universitetsforlag. tr. 470. ISBN 978-87-7674-434-2. 
  140. ^ Whitaker's Almanack (1900) Facsimile Reprint 1998, London: Stationery Office, ISBN 0-11-702247-0, tr 86
  141. ^ Whitaker's Almanack (1993) Concise Edition, London: J. Whitaker and Sons, ISBN 0-85021-232-4, tr 134–136

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:S-court
Albert xứ Saxe-Coburg và Gotha
Nhánh thứ của Nhà Wettin
Sinh: 26 tháng 8, 1819 Mất: 14 tháng 12, 1861
British monarchy
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Adelaide of Saxe-Meiningen
như hoàng hậu
Phối ngẫu của Quốc vương nước Anh
(tấn phong "Hoàng phu" năm 1857)

1840–1861
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Alexandra của Denmark
như Hoàng hậu
Chức vụ quân sự
Tiền vị
Philip Philpot
Đại tá thứ 11 (Prince Albert's Own) Hussars
1840–1842
Kế vị
Sir Arthur Benjamin Clifton
Tiền vị
Bá tước Ludlow
Đại tá của Scots Fusilier Guards
1842–1852
Kế vị
Quận công Cambridge
Tiền vị
Quận công Wellington
Đại tá của Grenadier Guards
1852–1861
Đại tá danh dự của Rifle Brigade
1852–1861
Kế vị
Huân tước Seaton
Tiền vị
Hầu tước Hertford
Lord Warden of the Stannaries
1842–1861
Kế vị
Quận công Newcastle
Academic offices
Tiền vị
Quận công Northumberland
Hiệu trưởng Đại học Cambridge
1847–1861
Kế vị
Quận công Devonshire
Danh hiệu
Tiền vị
Quận công Sussex
Great Master of the Order of the Bath
1847–1861
Acting 1843–1847
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Hoàng tử xứ Wales