Dương Quý Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Dương Quí Phi)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dương Quý phi
楊貴妃
Đường Minh Hoàng phi
YangGuiFei.jpg
Tranh của Hosoda Eishi đầu thế kỷ XIX tại viện bảo tàng Anh
Thông tin chung
Phối ngẫu Thọ vương Lý Mạo
Đường Minh Hoàng
Tước hiệu [Thọ vương phi; 寿王妃]
[Thái Chân đạo sĩ; 太真道士]
[Quý phi; 贵妃]
Thân phụ Dương Nguyên Diễn
Thân mẫu Lương Quốc phu nhân
Sinh 719
Tứ Xuyên, Trung Quốc
Mất Thiên Bảo năm thứ 15, ngày 15 tháng 7
Tức ngày 15 tháng 8, năm 756 (khi 37 tuổi)
Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây, Trung Quốc
An táng Mã Ngôi Dịch, Hàm Dương, Thiểm Tây
(chỉ là mộ gió)

Dương Quý phi (chữ Hán: 楊貴妃, 719756[1]), còn gọi là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環) hay Dương Thái Chân (楊太真)[2], là sủng phi của Đường Minh Hoàng Lý Long Cơ. Trong văn hóa Trung Hoa, bà được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc, có sắc đẹp được ví là Tu hoa (羞花), khiến hoa thu mình lại vì hổ thẹn.

Câu chuyện về tình duyên giữa Dương Quý phi và Đường Minh Hoàng thường được nhắc đến với khung cảnh ước lệ, xa hoa tột đỉnh của giai đoạn Nhà Đường đang thịnh thế. Sự yêu chiều một cách thái quá của Minh Hoàng đối với Dương Quý phi là nguyên nhân khiến người đời cho rằng Nhà Đường đều do Quý phi mà suy vong.

Sắc đẹp của Dương Quý phi được ghi nhận là khá tròn trịa và đầy đặn, thường được so sánh một cách đối lập với Triệu Phi Yến nhà Hán, với câu Hoàn phì Yến sấu (環肥燕瘦). Phi Yến được biết đến nhẹ như chim yến, có thể đứng trên lòng bàn tay người, còn Dương Quý phi lại nổi tiếng vì sự đẫy đà, tròn trịa có phần mập mạp, sắc da mịn màng diễm lệ.

Trong văn học Trung Hoa, bà là một mỹ nhân nổi tiếng. Bài thơ Thanh bình điệu đã khiến hình ảnh nhan sắc của bà được lưu truyền một cách bất tử, "Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung", hay bài thơ dài Trường hận ca của đại thi nhân Bạch Cư Dị. Đối với các nước Việt Nam, Hàn Quốc, Dương Quý phi cũng được biết đến rộng rãi, đặc biệt là Nhật Bản, khi hình tượng Dương Quý phi là đề tài phổ biến trong nghệ thuật hội họa thời kỳ Edo.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sử Tân Đường thư lẫn Cựu Đường thư đều không nói rõ tên thật của Dương Quý phi, chỉ ghi huy hiệu Thái Chân (太真), và các thi nhân đại phu về sau cũng thường gọi Dương Quý phi là Dương Thái Chân (楊太真).

Theo Minh Hoàng tạp lục (明皇杂录) của Trịnh Xử Hối (鄭處誨) được soạn không lâu sau khi Đường Minh Hoàng qua đời, thì cho biết Quý phi có tiểu tựNgọc Hoàn (玉環), lại có thuyết là Ngọc Nô (玉奴). Về sau trong văn hóa đại chúng, đa phần các tác phẩm đều gọi Dương Quý phi là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環), tự hiển nhiên Dương Ngọc Hoàn trở thành tên thật của Dương Quý phi.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Quý phi sinh năm Khai Nguyên thứ 7 (719)[3], nguyên quán Thục Quận (nay là Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên), xuất thân từ gia tộc Hoằng Nông Dương thị (弘農楊氏) tại Hoằng Nông, Bồ Châu (蒲州; nay là ngoại ô thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây). Thật ra sử chính không hề ghi năm sinh của Dương phi, vì khi bà qua đời, sách ghi khi 38 tuổi (tuổi mụ), nên mới suy ra là thời gian này.

Dương thị là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Gia đình này nguyên gốc ở một quận Hoa Âm, Thiểm Tây, có tổ tiên là Dương Uông (楊汪), một hậu duệ hoàng tộc nhà Tùy, bị Đường Thái Tông Lý Thế Dân xử tử. Cha Dương thị là Dương Nguyên Diễn (楊元璬), thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm Thứ sử tại quận Kim. Xuất thân trong gia đình quan lại, cùng gia quyến sống ở Tứ Xuyên, từ nhỏ Dương Ngọc Hoàn được học hát, múa. Đến năm 10 tuổi, cha mẹ mất, Ngọc Hoàn mới đến Lạc Dương[4], sống với nhà bác ruột, tức Dương Huyền Diễn (楊玄璬).

Theo tiểu thuyết 《Dương Thái Chân ngoại truyện - 楊太真外傳》, Dương thị sinh ngày 1 tháng 6[5], tức 26 tháng 6 dương lịch, sinh ở huyện Đạo Giang thuộc đất Thục[6]. Thời Gia Khánh, soạn ra 《Toàn Đường văn》, ghi nhận 《Dung châu Tăng Ninh huyện Dương phi bia ký - 容州曾宁县杨妃碑记》, xưng gọi nàng là người Dương Vệ, Dung Châu[7], tức nay thuộc huyện Dung, Khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây.

Năm Khai Nguyên thứ 21 (733), khi 14 tuổi, sủng phi của Đường Minh Hoàng là Võ Huệ phi đã chọn Dương thị làm Chính phi của con trai bà là Thọ vương Lý Mạo (李瑁), Dương thị do vậy trở thành Thọ Vương phi (壽王妃). Thọ vương Lý Mạo tính nhút nhát, thích ngắm mỹ nhân. Dương Ngọc Hoàn làm Thọ Vương phi được ba năm, nhưng chuyện chăn gối chưa bao giờ có vì Lý Mạo còn nhỏ.

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Chân nương tử[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Minh Hoàng

Đời Nhà Đường, Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông) là một trong những vị Hoàng đế trị vì lâu hơn cả.

Các phi tần được hoàng đế sủng ái sinh cả thảy 59 người con, trong số đó có 30 trai và 29 gái. Phi tần được ông sủng ái nhất là Võ Huệ phi, khi đó lễ nghi trong cung của bà không khác gì Hoàng hậu, nhưng bà vẫn không được phong Hoàng hậu vì lẽ bà là người trong tộc của Võ Tắc Thiên. Để an ủi bà, Minh Hoàng đối với Huệ phi vượt hẳn hơn nhiều các phi tần khác. Với Đường Minh Hoàng, Võ Huệ phi sinh được bảy con, trong đó Thọ vương Mạo là người con trai duy nhất sống sót qua tuổi trưởng thành.

Năm Khai Nguyên thứ 25 (737), Võ huệ phi đột ngột qua đời. Sau khi Huệ phi mất, Đường Minh Hoàng thường hay buồn rầu, ngày nhớ đêm thương, lập đài Tập Linh để cầu siêu cúng vái cho vong hồn Huệ phi được sớm siêu thăng. Nội giám thấy ông vậy bèn tìm đủ mọi cách làm cho hoàng đế nguôi buồn. Nhưng bao nhiêu cung tần mỹ nữ cũng không làm Minh Hoàng khuây khỏa.

Một hôm, Cao Lực Sĩ đi qua phủ Thọ vương thấy Ngọc Hoàn là giai nhân tuyệt sắc, tinh thông ca vũ bèn nghĩ rằng có lẽ mỹ nhân này thay được Võ Huệ phi. Nhân buổi hầu, Cao Lực Sĩ mật tấu với Minh Hoàng, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Võ Huệ phi. Do đó, Ngọc Hoàn phải vào cung Hoa Thanh đến Tập Linh đài làm đạo cô. Minh Hoàng trông thấy Dương phi, lập tức si mê ngay. Ông muốn nàng ta vào cung nhưng lại vướng ngại chuyện là con dâu. Cao Lực Sĩ bèn ngày đêm nghĩ ra cách.

Năm thứ 28 (740), tháng 10, lấy danh nghĩa cầu phúc cho Đậu thái hậu, Minh Hoàng khiển Dương phi nhập cung làm nữ đạo sĩ, lấy đạo hiệuThái Chân (太真). Cao Lực Sĩ lại chọn gả con gái của Vi Chiêu Huấn (韋昭訓) để thay Ngọc Hoàn làm Thọ vương phi. Xem như xuất gia là thay đổi đời người, không còn là vương phi của Thọ vương Lý Mạo nữa. Minh Hoàng sủng ái Dương Ngọc Hoàn, từ đó dần quên đi Huệ phi.

Đắc sủng phong Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Quý phi đang ngắm hoa anh đào trong tranh vẽ họa sĩ Nhật Bản, thời Edo.

Năm Thiên Bảo thứ 4 (745), tháng 8, sau 1 tháng Thọ vương Mạo lấy Vi thị làm kế phi, Đường Minh Hoàng ra chỉ cho Dương Thái Chân hoàn tục. Ngay sau đó, Hoàng đế ra ý chỉ lập Dương thị làm Quý phi, trong cung được gọi là Nương tử (娘子), được cung phụng đồ vật dụng không khác gì Hoàng hậu.

Dương Quý phi hiển quý, nên gia đình nàng cũng được gia ân. Minh Hoàng thụy phong Dương Nguyên Diễn làm Binh bộ thượng thư, tước Tề quốc công (齊國公), mẹ Dương Quý phi được phong Lương Quốc phu nhân (凉國夫人). Ba người chị của Ngọc Hoàn cũng được phong, người đầu tiên phong là Hàn Quốc phu nhân (韓國夫人), người thứQuắc Quốc phu nhân (虢國夫人) và người cuối là Tần Quốc phu nhân (秦國夫人). Hàng tháng, hoàng đế cho xuất của kho 30 vạn quan tiền cho mỗi vị phu nhân, 10 vạn quan tiền mua sắm tư trang phấn sáp. Mỗi khi 3 vị phu nhân nhập triều, em gái của Minh Hoàng là Ngọc Chân công chúa (玉真公主) được lệnh phải lấy lễ mà nghênh tiếp, không được bất kính. Dần dần ngay cả thành viên trong hoàng tộc không ai dám đắc tội với họ Dương.

Chú của Quý phi là Dương Huyền Khuê trở thành Quang lộc khanh, phú quý một thời; anh trai của Quý phi là Dương Xuyên (楊釗) được phong làm tể tướng và được đổi tên là Dương Quốc Trung (楊國忠). Ngoài ra, các cháu trai và em trai khác trong họ cũng được gả công chúa, quận chúa, gia tộc họ Dương mau chóng quý hiển tột bậc.

Hoàng đế say đắm Dương Quý phi, chiều chuộng nàng hết mực. Như cuộc đi tắm suối của nàng tại Hoa Thanh Trì mỗi lần tốn hàng vạn bạc của quốc khố và làm chết hàng trăm mạng người, ông cũng thẳng tay, không chút tiếc rẻ. Dương Quý phi đã đẹp lại có tài gẩy tì bà, giỏi về âm nhạc. Nàng lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Minh Hoàng càng thích thú say sưa hơn. Nàng nổi tiếng với điệu múa Hồ hoàn vũ, là điệu múa xuất phát từ người Hồ.

Người hầu hạ trong viện của Quý phi có đến hơn 100. Các đại thần bên ngoài muốn được nhà vua trọng dụng đều chủ động dâng lễ vật quý cho Quý phi. Nhiều người được thăng tiến bằng con đường này. Trong hậu cung của Minh Hoàng, từ khi Dương Quý phi xuất hiện thì các phi tần khác đều rất khó được ân hạnh nữa.

Dương Quý phi được mô tả là tính nết ương ngạnh, nhiều lần đắc tội và xung đột với Minh Hoàng. Tháng 2 âm lịch năm 750, sau một lần xung đột, Quý phi bị đuổi khỏi cung. Nhưng nhờ một hoạn quan cầu xin làm nhà vua hối hận, triệu Quý phi về và sủng ái hơn trước. Từ đó ông sa vào tửu sắc và hoang dâm, sủng ái Dương Quý phi quá mức, bắt đầu bỏ bê việc nước.

Minh Hoàng gặp Dương Quý phi lúc tuổi đã ngoài 50, cơ thể suy nhược vì trải qua những thú vui sắc dục thái quá. Hoàng đế nhờ An Lộc Sơn dâng một thứ linh đan gọi là "Trợ tình hoa" giúp có nhiều sức khỏe để được hòa hợp vui say cùng Dương Quý phi.

Sau thời thịnh trị Khai Nguyên, Đường Minh Hoàng cao tuổi, sa vào hưởng lạc, không còn nhiệt tình với chính sự, lại thích theo đuổi thuật trường sinh bất lão. Ông giao toàn quyền triều chính cho tể tướng Lý Lâm Phủ, hưởng lạc cùng Dương Quý phi trong cung cấm. Lý Lâm Phủ tự mình cầm quyền trong suốt 19 năm, hãm hại nhiều người trung lương, thi hành chính sách nhân sự ngăn cản các tướng có tài vào triều đắc dụng, trở thành một tác nhân gây ra Loạn An Sử.

Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi đứng trên sân thượng ngắm cảnh, tranh của họa sĩ người Nhật, Kano Eitoku

Tư thông với An Lộc Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Minh Hoàng tin dùng An Lộc Sơn, liền cho hắn giữ phần chỉ huy nửa lực lượng quân sự của triều đình.

An Lộc Sơn là người Liễu Thành, tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với An Diên Yểm nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng".

Lộc Sơn đầu quân làm tướng Nhà Đường, nhờ chiến đấu dũng cảm và tỏ ra trung thành nên nhanh chóng được thăng tiến. Từ năm 740 đến năm 751, An Lộc Sơn được thăng từ đô đốc Doanh châu lên Tiết độ sứ ba trấn Phạm Dương, Hà Đông và Bình Lư, nắm toàn bộ vùng đông bắc Trung Quốc khi đó.

Tuy có trí thông minh nhưng Lộc Sơn luôn tỏ ra vụng về ngốc nghếch khiến Đường Minh Hoàng rất tin tưởng và nhận ông làm con nuôi. Dương Quý phi trở thành mẹ nuôi của Lộc Sơn, dù kém ông 16 tuổi. Tuy nhiên chính từ lúc ra vào triều kiến vua Đường, Lộc Sơn và Dương Quý phi bắt đầu có quan hệ lén lút nhưng Minh Hoàng không hề nghi ngờ mà càng thêm tín nhiệm Lộc Sơn. An Lộc Sơn to béo bụng phệ, theo sử sách ghi lại thì người nặng tới 330 cân[8]. Hoàng đế thấy vậy hỏi, Lộc Sơn lại mau miệng đáp rằng bụng to vì mang lòng trung với vua Đường. Minh Hoàng nghe thế lại càng tin Lộc Sơn.

Bấy giờ, anh trai Dương Ngọc Hoàn là Dương Quốc Trung nắm giữ toàn quyền binh lực. Sau khi lên đến bậc thượng thư và hai con trai là Đốt và Huyên sánh duyên cùng hai quận chúa Vạn Xuân và Diên Hòa, Dương Quốc Trung lại càng kiêu hãnh, tự đắc, có ý định phản nghịch. Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn cùng tranh giành sự ân sủng của Đường Minh Hoàng nên nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép chính sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Dương Quý phi cùng Đường Minh Hoàng hạnh phúc, bởi Yashima Gakutei.

Ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi, Thiên Bảo thứ 14 (tức 16 tháng 12 năm 755), với danh nghĩa "Phụng mật chiếu hoàng đế thảo phạt Dương Quốc Trung", An Lộc Sơn khởi binh từ Ngư Dương[9] đánh thẳng vào kinh đô Trường An, chính thức phản lại Nhà Đường. Binh triều đại bại.

Vào mùa hạ năm Thiên Bảo thứ 15 (756), quân của An Lộc Sơn tiến về Trường An[10]. Trước tình thế nguy cấp, thái tử Lý Hanh tự lên ngôi ở núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông và vọng tôn Đường Minh Hoàng làm Thái thượng hoàng. Trong khi các cánh quân được vua con Túc Tông cử đi đánh Lộc Sơn là Lý Quang Bật, Quách Tử Nghi đang thắng liên tiếp, giành lại nhiều đất đai ở phía đông nằm sau lưng An Lộc Sơn thì Minh Hoàng lại mắc sai lầm lớn ở mặt trận phía tây. Thương hoàng bắt tướng Kha Thư Hàn người trấn giữ ải Đồng Quan, cửa ngõ kinh thành Tràng An, phải xuất quân đánh Lộc Sơn. Trong khi đó các tướng muốn phòng thủ phải chờ quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đánh về. Kha Thư Hàn buộc phải ra quân, kết quả đại bại, 20 vạn quân bị giết, Hàn bị Sơn bắt sống. Quân Phiên ào ạt tiến vào Tràng An.

Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục.

Ngày 14 tháng 7, năm sau (756)[11], mọi người đến Mã Ngôi Dịch (馬嵬驛; nay là Hưng Bình, Thiểm Tây), thì tướng sĩ dưới trướng Trần Huyền Lễ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại.

Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, Trần Huyền Lễ dưới danh nghĩa tướng sĩ, đã bức Minh Hoàng đem thắt cổ Dương Quý phi thì họ mới chịu phò trợ Nhà Đường. Binh sĩ tâu:"Quốc Trung mưu phản, không nên để Quý Phi hầu hạ ở bên bệ hạ nữa, xin bệ hạ vì quốc pháp mà cắt bỏ tình riêng".

Minh Hoàng do dự, vào bên trong. Lát sau, cúi đầu đi ra. Kinh Triệu doãn Triệu Tư Lục cùng Vi Ngạc đều khuyên ông phải thuận theo tình thế. Ông nói với Cao Lực Sĩ:"Quý Phi ở trong thâm cung, sao biết được Quốc Trung mưu phản?".

Cao Lực Sĩ nói:"Quý Phi quả thật vô tội, nhưng nay tướng sĩ đã giết Quốc Trung rồi, mà Quý Phi còn sống bên cạnh bệ hạ, tướng sĩ đâu có yên lòng? Xin bệ hạ suy xét kỹ lại. Tướng sĩ được yên lòng, tức bệ hạ được bình an".

Ngày 15 tháng 7[1], nhà vua không còn cách nào, đành ban cho Quý phi một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý phi tại bên dưới cây lê trong Phật đường[12][13]. Minh Hoàng đau xót quay đi, không dám chứng kiến cảnh ái phi bị xử tử. Lúc chết Dương Quý phi 38 tuổi. Sau khi chết, xác Quý phi chỉ là chôn vội ven đường, sau đó binh lính hành quân tiếp.

Sau khi Minh Hoàng (lúc này đã là Thái Thượng hoàng) trở về Trường An, muốn cải táng Quý phi cho tử tế hơn, Lễ bộ Thị lang Lý Quỹ (李揆) khuyên rằng:"Long võ tướng sĩ giết Quốc Trung, lấy phụ quốc triệu loạn. Nay cải táng Cố phi, sẽ khiến tướng sĩ lo sợ, lễ tang không thể hành". Do vậy, Minh Hoàng chỉ có mật lệnh trung sử cải táng. Lúc trước khi an táng Quý phi, người ta chỉ dùng vải đệm bao bọc, da thịt bây giờ đã hư, chỉ có túi thơm vẫn còn. Khi nội quan trình lên, Thượng hoàng nghe mà thống khổ thê lương, chỉ có thể họa lại tranh của Quý phi đặt trong biệt điện, ngày đêm đều ngắm, cho đến khi ông qua đời.

Tương quan truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Về cái chết của Dương Quý phi, hậu nhân vẫn còn truyền lại nhiều giả thiết về nơi chết của bà.

Chết ở Phật đường[sửa | sửa mã nguồn]

Có người nói, Dương Ngọc Hoàn khả năng chết ở Phật đường. Cựu Đường thư - Dương Quý phi truyện, Tư trị thông giám - Đường kỉ, các sách sử đều chép rằng Đường Minh Hoàng lệnh Cao Lực Sĩ đem Dương Quý phi vào trong đại điện Phật, siết cổ chết ở dưới cây lê.

Sách 《Dương Thái Chân ngoại truyền》 ghi lại:"Đường Huyền Tông cùng Dương Quý phi quyết biệt, nàng “Khất dung lễ Phật”, Cao Lực Sĩ đem nàng thắt cổ chết dưới cây lê".

Chết trong loạn quân[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Quý phi có thể trực tiếp bị chết trong khi phiến loạn. Vào năm Chí Đức thứ 2 (757), Đỗ Phủ ở Trường An làm bài Ai giang đầu, có một câu "Minh mâu hạo xỉ kim hà tại, huyết ô du hồn quy bất đắc", này ám chỉ Dương Quý phi bị giết chết, vẩy máu mà thành, chứ không phải bị thắt cổ.

Lý Ích Sở (李益所) làm thất tuyệt Quá Mã ngôi, có những câu Thác quân hưu tẩy liên hoa huyết hay Thái Chân huyết nhiễm mã đề tẫn, đều ám chỉ cùng một ý rằng Dương Quý phi chết vì bị kiếm bạo quân giết hại. Ngay cả Ôn Đình Quân trong bài Mã ngôi dịch cũng có:"Phản hồn vô nghiệm biểu yên diệt, mai huyết không sinh bích thảo sầu", đều lấy ý Dương Quý phi chết vì đao kiếm bạo quân.

Nuốt vàng mà chết[sửa | sửa mã nguồn]

Một cách nói là Quý phi nuốt vàng mà chết, khá mới lạ, chỉ thấy trong bài Mã ngôi hành của Lưu Vũ Tích.

绿野扶风道,黄尘马嵬行,路边杨贵人,坟高三四尺。
乃问里中儿,皆言幸蜀时,军家诛佞幸,天子舍妖姬。
群吏伏门屏,贵人牵帝衣,低回转美目,风日为天晖。
贵人饮金屑,攸忽舜英暮,平生服杏丹,颜色真如故。
Lục dã phù phong đạo, hoàng trần mã ngôi hành, lộ biên dương quý nhân, phần cao tam tứ xích.
Nãi vấn lí trung nhi, giai ngôn hạnh thục thời, quân gia tru nịnh hạnh, thiên tử xá yêu cơ.
Quần lại phục môn bình, quý nhân khiên đế y, đê hồi chuyển mỹ mục, phong nhật vi thiên huy.
Quý nhân ẩm kim tiết, du hốt thuấn anh mộ, bình sinh phục hạnh đan, nhan sắc chân như cố.

Lưu lạc dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Còn có người cho rằng, Dương Quý phi vẫn chưa chết ở Mã Ngôi Dịch, mà là lưu lạc vào dân gian.

Nhà thơ Du Bình Bá (俞平伯) trong 《Luận thơ từ khúc tạp - 论诗词曲杂著》, lấy Trường hận ca của Bạch Cư Dị và Trường hận ca truyện của Trần Hồng (陳鴻) làm khảo chứng. Ông cho rằng Trường hận ca cùng Trường hận ca truyện cơ bản bổn ý, có một hàm xúc khác. Lúc ấy sáu quân bất ngờ làm phản, Quý phi bị kiếp, trong thơ nói rõ Đường Minh Hoàng “Cứu không được”, cho nên việc ban chiếu chỉ trong chính sử ghi lại, lúc ấy tuyệt sẽ không có. Trong Trường hận ca truyện của Trần Hồng còn có ghi rõ "Sai người dắt nàng đi", chứng tỏ Quý phi đã được Minh Hoàng ám ngầm sai mang đi.

Trong Trường hận ca, sau khi Đường Minh Hoàng hồi loan, sai người cải táng, thì nói là "Mã ngôi pha hạ nê trung thổ, bất kiến ngọc nhan không tử xử", thi cốt đều tìm không thấy, này liền càng chứng thực Quý phi không chết ở Mã Ngôi Dịch.

Đến ngoại quốc xa xôi[sửa | sửa mã nguồn]

Có thuyết nói rằng, Dương Quý phi được Trần Huyền Lễ và Cao Lực Sĩ bí mật bảo hộ, lệnh một thị tì chết thay và sắp xếp cho bà lên thuyền, bỏ sang sống tại Nhật Bản cho đến khi mất ở tuổi 60. Tại Nhật Bản khi ấy là Thời Nara, Dương Quý phi được Thiên hoàng Kōken trọng thể đón tiếp.

Trong văn hóa Nhật Bản, Dương Quý phi rất được tôn sùng và hiện nay vẫn còn rất nhiều vở Noh, Kabuki hay tranh họa nói về câu chuyện của bà và Đường Huyền Tông. Trong tiếng Nhật, bà được gọi là Yokihi (Kana: ようきひ). Có thuyết thì cho rằng, nàng đã sang Hàn Quốc (xưa gọi là Cao Ly).

Các thuyết này đều được dùng trong các tác phẩm thi ca, nhằm tôn vinh câu chuyện giữa Đường Huyền Tông và Dương Quý phi, điển hình là Trường hận ca của Bạch Cư Dị, Trường hận ca truyện (長恨歌傳) của Trần Hồng,...

Mộ gió[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của Dương Quý phi, hiện ở trấn Mã Ngôi, Hưng Bình

Năm 757, sau khi Dương Quý phi chết 2 năm, Đường Túc Tông dẹp loạn xong. Sau khi qua trạm dịch Mã Ngôi, Thượng hoàng sai tìm di thể của Dương Quý phi để cải táng nhưng lúc đó di thể đã mục nát thối rữa, không thể nhận ra được, chỉ còn một túi gấm bên cạnh vẫn tỏa hương thơm. Thượng hoàng bèn giữ lấy, đem về và thường xuyên ngắm nhìn, như thể Quý phi còn sống. Thái Thượng Hoàng Đường Minh Hoàng cho người xây lại mộ cho Dương Quý phi, nhưng vì không tìm được thi thể, nên chỉ xây mộ gió[14] để tưởng niệm.

Hiện tại mộ của Dương Quý phi ở tỉnh Thiểm Tây, cách thành phố Tây An 60 km[15], trở thành điểm tham quan, du lịch, di sản văn hoá cấp tỉnh.

Các du khách thường nghe theo truyền thuyết kể rằng, đất xung quanh nấm mộ của Dương Quý phi trắng đặc biệt, có tác dụng làm trắng da, nên du khách đến viếng mộ thường lấy ít đất xung quanh đem về thoa mặt. Nay để tránh phá hoại di tích, ban quản lý đã cho rào lại xung quanh khu mộ, và cấm du khách lấy đất về. Thực chất, đây chỉ là mộ gió, xác của Dương Quý phi bị chôn vội trên đường đi lánh nạn, nên vài năm sau đã không tìm lại được tung tích. Do đó, chỉ xây mộ gió tại khu vực bị xử tử để tưởng niệm mà thôi.

Các điển tích[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tử tiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Dương Quý phi của Nagasawa Rosetsu.

Dương Quý phi rất thích ăn vải, tiếng Trung gọi là Lệ chi (荔枝). Đường Huyền Tông lệnh cho người phóng ngựa từ Lĩnh Nam (có thuyết là từ Tứ Xuyên, hoặc Phúc Kiến) đem về dâng cho Quý phi ăn. Trên đường đi, cứ mỗi 5 dặm, 10 dặm, lại đặt một trạm luân chuyển nhanh, theo đường thủy, đường bộ cứ thế thay phiên nhau, đem về quả lệ chi tươi ngon nhất.

Ngoài lệ chi ra, những vùng Phúc Kiến, Tứ Xuyên còn dâng lên một loại rượu làm từ sương (Cam lộ; 甘露), dâng lên cho Huyền Tông dùng. Loại rượu thanh đạm tuyệt thế, được xưng là Mĩ tửu. Khi đó, Dương Quý phi ở Hoa Thanh cung (華清宮) dùng trái vải, Đường Huyền Tông uống rượu ngon, hoang lạc một thời, nên có câu Hoa Thanh sinh ca nghê thường túy, Quý phi bả tửu lộ nùng tiếu[16], loại rượu tiến cống từ đó được gọi là Lộ nùng tiếu (露浓笑).

Thi sĩ Đỗ Mục có bài Quá Hoa Thanh cung - 過華清宮, trong đó có câu: Nhất kị hồng trần phi tử tiếu, Vô nhân tri thị lệ chi lai (一騎紅塵妃子笑, 無人知是荔枝來), chính là dựa vào điển tích này.

Quý phi túy tửu[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, Đường Minh Hoàng hẹn hò với Quý phi, ra lệnh cho mở tiệc tại Bách Hoa đình (百花亭), để cùng đi ngắm hoa cùng uống rượu. Hôm sau, Dương Quý phi đến Bách Hoa Đình trước, chuẩn bị đầy đủ bữa tiệc chờ nhà vua. Ai ngờ chờ mãi không thấy đâu, thánh giá không thấy đến, chờ mãi, chờ mãi. Đến khi nghe báo rằng, Hoàng đế đang vui thú trong cung của Mai phi, Quý phi nghe vậy rất đau buồn, không muốn sống nữa.

Quý phi vốn có tính hẹp hòi hay ghen, mà phụ nữ trong trường hợp đợi chờ, rất dễ bộc lộ cái tính lẳng lơ. Trong lòng đang tình tứ đầy ắp, mà lại không có chỗ nào để khuây khỏa được ngay, thế là nàng liền uống rượu để giải sầu, chỉ ba ly vào là đã say, tình tứ tràn trề, không kiềm chế được mình. Thế là nàng liền lờ đi tất cả, ưỡn ẹo khiêu dâm, làm những động tác say rượu trước mặt hai Thái Giám là Cao Lực SĩBùi Lực Sĩ, để thỏa mãn dục vọng trong mình, mãi cho đến khi mệt lử rồi mới chịu trở về cung.

Điển tích trên được gọi là Quý phi túy tửu (貴妃醉酒; Quý phi say rượu), đặc biệt nổi tiếng trong giới Kinh kịch, thường hay được lấy ra để diễn tả và được xem là một trong những vở kinh điển nhất.

Thủ thuật làm đẹp[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh khắc gỗ Dương Quý phi cùng Đường Huyền Tông

Để có được thân hình đẹp với bộ ngực nảy nở luôn làm Đường Minh Hoàng mê mẩn, Dương Quý phi rất chịu khó tìm tòi các phương pháp làm đẹp.

Một trong những loại trái cây mà các cung nữ phải thường xuyên mang tới cho Dương Quý phi là đu đủ. Ban đầu, đám cung nữ chỉ nghĩ đơn giản rằng chủ nhân thích ăn loại quả này chứ không hề biết đây chính là phương pháp chăm sóc đôi gò bồng đảo của mỹ nhân. Ngoài việc ăn nhiều đu đủ sống, Dương Quý phi còn sai các nô tì nấu canh đủ đủ xanh để uống hàng ngày.

Một phương pháp tăng kích cỡ vòng một khác mà Dương Quý phi đã sử dụng là xoa bóp ngực. Sau khi tắm xong, nàng sai một nô tỳ xoa bóp vùng ngực cho mình. Việc xoa bóp sau khi tắm có thể kích thích lưu thông máu vùng ngực, giúp ngực khỏe mạnh và săn chắc.

Người dân thời bấy giờ còn đồn rằng, sở dĩ Dương Quý phi vẫn giữ được vóc ngọc thân ngà, làn da trắng muốt và mịn màng là nhờ ở phương pháp bí truyền, tắm bằng sữa dê pha với tinh chất các loại hoa quý và một số dược chất đặc biệt.

Dương Quý phi còn thường xuyên đến suối nước nóngLy Sơn để ngâm mình, giữ gìn làn da không bị nếp nhăn tàn phá. Tuy nhiên, chính sắc đẹp của bà chính là dấu mốc khởi đầu cho sự suy vong của Nhà Đường vốn đang thịnh trị thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ.

Thêm nữa, thời Dương Quý phi cũng xuất hiện trào lưu làm đẹp của nữ nhân thời Đường đó là ấn chu sa. Tương truyền rằng, sau một tai nạn, Dương Quý phi bị sẹo ngay giữa trán, khi sẹo lành tạo thành hình như búp sen nên bà đã vẽ thành bông hoa sen trên trán. "Ấn ký" này càng khiến vẻ đẹp kiêu sa, thanh thoát của Dương Quý phi thêm phần cốt cách tiên tử, khiến hoàng thượng mê đắm. Kể từ sau đó, trong các dịp đặc biệt, phụ nữ thời Đường thường vẽ lên trán một chấm tròn hay hình đôi cánh hoặc cánh hoa đơn giản. Phụ nữ có địa vị càng cao thì tạo hình chu sa trên trán càng cầu kỳ, phức tạp. Các tân nương trong ngày cưới cũng sẽ được vẽ một bông hoa lên trán.

Vẻ đẹp trong thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Dương Quý phi tại Hoa Thanh Trì.
Nàng Dương Quý phi, vẽ bởi Chikutō Nakabayashi.

Theo sử sách, vào đời Đường, phụ nữ được cho là đẹp, hấp dẫn thì phải tròn trịa, mập mạp. Trong tục ngữ, thành ngữ tiếng Hoa ngày nay vẫn còn câu: Yến sấu Hoàn phì (燕瘦環肥) hay Hoàn phì Yến sấu (環肥燕瘦). Tức là Yến ốm Hoàn mập, Yến là chỉ người đẹp thời Hán: Triệu Phi Yến, Hoàn là chỉ Dương Ngọc Hoàn thời Đường, ý câu thành ngữ là mỗi người một vẻ đẹp khác nhau. Thực sự tranh vẽ Dương Quý phi đời trước chỉ phù hợp với thẩm mỹ thời Đường khác thời nay rất nhiều.

Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là Tu hoa, nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ.

Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kìm được, buông lời than thở: "Hoa à, hoa à! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt lệ đã tuôn rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "tu hoa".

Truyền kỳ về Dương Quý phi đã đi vào rất nhiều thơ ca của nhiều thế hệ. Thi hào Lý Bạch có ba bài Thanh bình điệu ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn. Bài đầu tiên:

清平調其一
...
雲想衣裳花想容,
春風拂檻露華濃。
若非群玉山頭見,
會向瑤臺月下逢。
Thanh bình điệu kỳ 1
...
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.
Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.
Ngô Tất Tố dịch
...
Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.
Gió xuân dìu dặt giọt sương trong
Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.
清平調其二
...
一枝紅艷露凝香,
雲雨巫山枉斷腸。
借問漢宮誰得似,
可憐飛燕倚新粧。
Thanh bình điệu kỳ 2
...
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự,
Khả liên Phi Yến ỷ tân trang.
Ngô Tất Tố dịch
...
Hương đông mọc đượm một cành hồng,
Non Giáp mây mưa những cực lòng.
Ướm hỏi Hán cung ai màng tượng,
Điểm tô nàng Yến mất bao công.
清平調其三
...
名花傾國兩相歡,
長得君王帶笑看。
解釋春風無限恨,
沉香亭北倚闌幹。
Thanh bình điệu kỳ 3
...
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can.
Ngô Tất Tố dịch
...
Sắc nước hương trơi khéo sánh đôi,
Quân vương nhìn ngắm những tươi cười.
Sầu xuân man mác tan đầu gió,
Cửa bắc đình Trầm đứng lả lơi.

Thi sĩ nổi tiếng Lý Thương Ẩn cũng sáng tác 2 kỳ Mã ngôi để nói về bà:

馬嵬其一
...
冀馬燕犀動地來,
自埋紅粉自成灰。
君王若道能傾國,
玉輦何由過馬嵬。
Mã ngôi kỳ 1
...
Ký mã Yên tê động địa lai,
Tự mai hồng phấn tự thành hôi.
Quân vương nhược đạo năng khuynh quốc,
Ngọc liễn hà do quá Mã Ngôi.
Dịch thơ
...
Ngựa Ký sừng Yên động đất trời,
Tự vùi nhan sắc, tự chơi vơi.
Quân vương nếu biết điều khuynh quốc,
Ngọc liễn cớ gì đến Mã Ngôi?
馬嵬其二
...
海外徒聞更九州,
他生未卜此生休。
空聞虎旅鳴宵柝,
無複雞人報曉籌。
此日六軍同駐馬,
當時七夕笑牽牛。
如何四紀為天子,
不及盧家有莫愁?
Mã ngôi kỳ 2
...
Hải ngoại đồ văn cánh cửu châu,
Tha sinh vị bốc, thử sinh hưu.
Không văn hổ lữ minh tiêu tích,
Vô phục kê nhân báo hiểu trù.
Thử nhật lục quân đồng trú mã,
Đương thời thất tịch tiếu Khiên Ngưu.
Như hà tứ kỷ vi thiên tử,
Bất cập Lư gia hữu Mạc Sầu.
Dịch thơ
...
Ngoài bể nghe đồn có chín châu,
Kiếp này chưa chắc, chắc chi sau?
Chỉ nghe hổ lữ đêm khua mõ,
Nào thấy kê nhân sáng gọi chầu.
Đương độ lục quân cùng đóng ngựa,
Nhớ đêm thất tịch ngửng cười Ngâu.
Than ôi, bốn kỷ trên ngôi báu,
Mà kém nhà Lư có Mạc Sầu.

Thi sĩ Bạch Cư Dị có bài Trường hận ca nổi tiếng kể về chuyện tình giữa bà và Đường Minh Hoàng.

Đường Minh Hoàng và Dương Quý phi dựa theo bài thơ Trường hận ca, tranh của họa sĩ người Nhật, Kano Sansetsu

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Poster phim Dương Quý phi năm 1955
Machiko Kyō, diễn viên trong phim năm 1955
Năm Quốc gia sản xuất Phim Diễn viên
1955 Nhật Bản 《Dương Quý phi》 Machiko Kyō
1962 Hồng Kông
(Thiệu thị huynh đệ)
《Dương Quý phi》 Lý Lệ Hoa
1993 Trung Quốc 《Dương Quý phi》 Chu Khiết
2015 Trung Quốc Vương triều đích nữ nhân - Dương Quý phi Phạm Băng Băng
2017 Trung Quốc Yêu miêu truyện Trương Dung Dung

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quốc gia sản xuất Phim Diễn viên
1976 Hồng Kông (TVB) 《Dương Quý phi》 Ân Xảo Nhi
1985 Đài Loan (Công ty Trung Hoa điện thị) 《Dương Quý phi》 Phùng Bảo Bảo
1986 Đài Loan (Công ty Truyền hình Đài Loan) 《Dương Quý phi truyền kì》 Thang Lan Hoa
1990 Trung Quốc 《Đường Minh Hoàng》 Lâm Phương Binh
2000 Hồng Kông (TVB) 《Dương Quý phi》 Hướng Hải Lam
2002 Hồng Kông (TVB) Thiên tử tầm long Văn Tụng Nhàn
2006 Trung Quốc Thần quỷ bát trận đồ Lưu Dương
2007 Trung Quốc Đại Đường phù dung viên Phạm Băng Băng
2010 Trung Quốc Dương Quý phi bí sử Ân Đào
2014 Trung Quốc Linh hồn bãi độ phần 1》 Lưu Thiên Hàm
2017 Trung Quốc Đại Đường vinh diệu Tằng Lê
... Trung Quốc 《Lý Bạch》 Y Năng Tĩnh

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quảng cáo Diễn viên
2015 Quảng cáo GU Nhật Bản Haru
... Kinh đô niệm từ am hầu đường- Dương Quý phi thiên Lâm Mỹ Tú

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 兩千年中西曆轉換
  2. ^ Cựu Đường thư, vol. 51.
  3. ^ 杨太真外传》记:(天宝)十四载六月一日,上幸华清宫,乃贵妃生日。上命小部音声,于长生殿奏新曲,未有名,会南海进荔枝,因以曲名《荔枝香》。
  4. ^ Xưa là Đông Đô của Nhà Đường, nay thuộc tỉnh Hà Nam
  5. ^ 《杨太真外传》记:(天宝)十四载六月一日,上幸华清宫,乃贵妃生日。上命小部音声,于长生殿奏新曲,未有名,会南海进荔枝,因以曲名《荔枝香》。
  6. ^ 传奇小说《杨太真外传》称:杨贵妃小字玉环,弘农华阴人也。后徙居蒲州永乐之独头村。高祖令本,金州刺史;父玄琰,蜀州司户。贵妃生于蜀。尝误坠池中,后人呼为落妃池。池在导江县前。
  7. ^ 《全唐文•卷四百三》○容州曾宁县杨妃碑记 杨妃,容州杨卫人也
  8. ^ Tương đương 115 kilôgam hiện nay
  9. ^ Có sách chép là Phạm Dương
  10. ^ 兩千年中西曆轉換
  11. ^ 兩千年中西曆轉換
  12. ^ Tân Đường thư, quyển 76, liệt truyện 1
  13. ^ 《唐国史补》说“玄宗幸蜀,至馬嵬驛,命高力士縊貴妃於佛堂前梨樹下,馬嵬店媼收得錦靿一隻,相傳過客每一借玩,必須百錢,前後獲利極多,媼因至富。”
  14. ^ Trong mộ không có thi thể
  15. ^ Xưa là Trường An, kinh đô Nhà Đường
  16. ^ Nguyên văn: 华清笙歌霓裳醉,贵妃把酒露浓笑

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa
Tây Thi • Vương Chiêu Quân • Điêu Thuyền • Dương Quý Phi