Danh sách đĩa nhạc của Lady Gaga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Lady Gaga
Lady Gaga JWT Toronto, 2017-09-06 (cropped 2).jpg
Lady Gaga biểu diễn trong chuyến lưu diễn Joanne World Tour vào năm 2017
Album phòng thu5
Album tổng hợp3
Album video3
EP4
Đĩa đơn30
Album nhạc phim1
Album phối lại2
Box set1
Đĩa đơn quảng bá9

Nữ ca sĩ người Mỹ Lady Gaga đã phát hành 5 album phòng thu, 1 album nhạc phim, 1 album tổng hợp, 2 album phối lại, 3 album video, 1 box set, 4 EP, 30 đĩa đơn (trong đó có 2 đĩa đơn với vai trò là nghệ sĩ góp giọng), và 9 đĩa đơn quảng bá. Gaga bước chân vào ngành công nghiệp âm nhạc với album phòng thu đầu tay The Fame năm 2008.[1] Album đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được cấp chứng nhận 3 lần Bạch kim tại Hoa Kỳ[2][3] đồng thời giữ vị trí quán quân tại Áo, Canada, Đức, Thuỵ Sĩ và L.H. Anh.[4][5] Hai đĩa đơn đầu tiên của album, "Just Dance" và "Poker Face" đều đạt được thành công trên quy mô quốc tế, vươn lên dẫn đầu các bảng xếp hạng tại Úc, Canada, L.H. Anh và Hoa Kỳ.[6][7][8] Ba đĩa đơn còn lại của album gồm: "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)", "LoveGame" và "Paparazzi". "Paparazzi" lọt vào top 10 tại nhiều quốc gia và đạt vị trí quán quân tại Đức.[4]

Cuối năm 2009, Gaga phát hành The Fame Monster, phiên bản cao cấp và tái phát hành của The Fame, sau này được phát hành như một EP riêng biệt.[9] EP vươn lên vị trí dẫn đầu tại Úc, New Zealand, L.H. Anh, và vị trí thứ năm tại Hoa Kỳ, nơi nó được chứng nhận Bạch kim.[2][3][6] Đĩa đơn đầu tiên của album, "Bad Romance", gặt hái thành công quy mô quốc tế, đạt vị trí thứ hai tại Hoa Kỳ và vươn lên ví trí quán quân tại 12 quốc gia. Các đĩa đơn tiếp theo, "Telephone" và "Alejandro" là các bản hit lọt vào top 10 tại nhiều nước. Tính đến tháng 4 năm 2012, doanh số tiêu thụ tổng cộng của The FameThe Fame Monster đạt 15 triệu bản toàn cầu.[10] Album tổng hợp đồng thời là album phối lại đầu tiên của Gaga, The Remix, được phát hành vào năm 2010, bao gồm các bản remix của các ca khúc nằm trong The FameThe Fame Monster. The Remix đạt vị trí thứ sáu tại Hoa Kỳ và nằm trong top 5 tại Canada và L.H. Anh.[2][5][11] Album đã bán ra hơn 500.000 bản sao trên toàn thế giới, trở thành một trong những album phối lại bán chạy nhất mọi thời đại.[12]

Born This Way, album phòng thu thứ hai của Gaga được phát hành vào cuối tháng 5 năm 2011[13] và giành lấy vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Hoa Kỳ cũng như tại 20 quốc gia khác. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Born This Way" leo lên vị trí quán quân tại 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, là đĩa đơn thứ ba của nữ ca sĩ giành được vị trí cao nhất tại đây. Bốn đĩa đơn khác là "Judas", "The Edge of Glory", "You and I" và "Marry the Night". Tháng 11 năm 2013, Gaga phát hành album phòng thu thứ ba Artpop và chọn ba bài hát "Applause", "Do What U Want" và "G.U.Y." làm ba đĩa đơn của album. Vào tháng 9 năm 2014, Gaga cùng với nam nhạc sĩ Tony Bennett ra mắt album hợp tác Cheek to Cheek. Album ra mắt tại vị trí thứ nhất trên Billboard 200, trở thành album thứ ba của Gaga đạt vị trí quán quân kể từ Born This Way.[14] Album phòng thu thứ năm, Joanne, được phát hành vào tháng 10 năm 2016, sau đạt được vị trí thứ nhất tại Hoa Kỳ. Đĩa đơn đầu tiên và thứ hai của album, "Perfect Illusion" và "Million Reasons" làn lượt ra mắt tại vị trí quán quân tại Pháp và đạt vị trí thứ tư tại Hoa Kỳ.[15][16] Với thứ hạng quán quân mà Joanne đã giành được tại Hoa Kỳ, Gaga trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên sở hữu bốn album đạt vị trí quán quân tại quốc gia này trong thập niên 2010.[17] Năm 2018, Gaga và nam diễn viên Bradley Cooper phát hành album nhạc phim của bộ phim chiếu rạp Vì sao vụt sáng (A Star Is Born), nâng cao kỷ lục của Gaga đã nêu trước đó từ con số bốn lên năm.[18] Album cùng với đĩa đơn đầu tiên "Shallow" giành được vị trí đầu bảng tại Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Thuỵ Sĩ và L.H. Anh.

Tính đến tháng 1 năm 2016, Gaga đã bán được khoảng 27 triệu album và 146 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới.[19] Theo thống kê, nữ ca sĩ đã bán ra 7,25 triệu đĩa đơn tại L.H. Anh,[20] 11,46 triệu album tại Hoa Kỳ[21] và trở thành nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có hai bài hát sở hữu số lượt tải về là 7 triệu đơn vị ("Poker Face" và "Just Dance").[22] Theo tính toán của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), tính đến tháng 2 năm 2019, Gaga xếp thứ 11 trong danh sách những nghệ sĩ có doanh số tiêu thụ đĩa đơn dạng nhạc số cao nhất tại Hoa Kỳ, ước tính khoảng 61 triệu lượt tải về và lượt stream theo yêu cầu.[23]

Album

Album phòng thu

Danh sách album phòng thu, vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Tiêu đề Thông tin album Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
(dựa theo doanh số)
Hoa Kỳ Mỹ
[2]
Úc Úc
[6]
Áo Áo
[24]
Canada Canada
[11]
Pháp Pháp
[25]
Đức Đức
[4]
Ý Ý
[26]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Sĩ Thuỵ Sĩ
[28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[5]
The Fame 2 3 1 1 2 1 13 2 1 1
Born This Way
  • Ngày phát hành: 23 tháng 5 năm 2011
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Kon Live
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, USB, LP
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • Toàn cầu: 6.000.000[f]
  • Mỹ: 2.430.000[b]
  • Canada: 93.000[g]
  • Pháp: 190.000[43]
  • L.H. Anh: 989.000[h]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[3]
  • Úc: 2× Bạch kim[45]
  • L.H. Anh: 3× Bạch kim[34]
  • Đức:  Bạch kim[35]
  • Ý:  Bạch kim[36]
  • IFPI Áo:  Bạch kim[37]
  • IFPI Thuỵ Sĩ:  Bạch kim[38]
  • Canada: 4× Bạch kim[39]
  • New Zealand:  Bạch kim[40]
  • Pháp: 2× Bạch kim[41]
Artpop
  • Ngày phát hành: 11 tháng 11 năm 2013 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
1 2 1 3 3 3 2 2 2 1
  • Toàn cầu: 2.500.000[i]
  • Mỹ: 781.000[j]
  • Pháp: 60.000[48]
  • L.H. Anh: 207.243[k]
  • Mỹ:  Bạch kim[3]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
  • Ý: Vàng Vàng[36]
  • IFPI Áo: Vàng Vàng[37]
  • IFPI Thuỵ Sĩ: Vàng Vàng[38]
  • Canada:  Bạch kim[39]
  • Pháp:  Bạch kim[41]
Cheek to Cheek
(với Tony Bennett)
  • Ngày phát hành: 23 tháng 9 năm 2014 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Columbia
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
1 7 6 3 9 12 6 3 7 10
  • Toàn cầu: 1.000.000[l]
  • Mỹ: 773.000[j]
  • Pháp: 40.000[m]
  • Mỹ: Vàng Vàng[3]
  • Úc: Vàng Vàng[52]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • Canada:  Bạch kim[39]
Joanne
  • Ngày phát hành: 21 tháng 10 năm 2016
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
1 2 9 2 9 6 2 2 3 3
  • Toàn cầu: 1.000.000[n]
  • Mỹ: 649.000[j]
  • Pháp: 50.000[o]
  • L.H. Anh: 143.315[p]
  • Mỹ:  Bạch kim[3]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
  • Ý: Vàng Vàng[36]
  • Canada: Vàng Vàng[39]
  • Pháp: Vàng Vàng[41]

Album nhạc phim

Danh sách album nhạc phim, vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Tiêu đề Thông tin album Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa Kỳ Mỹ
[2]
Úc Úc
[6]
Áo Áo
[24]
Canada Canada
[11]
Pháp Pháp
[25]
Đức Đức
[4]
Ý Ý
[26]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Sĩ Thuỵ Sĩ
[28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[5]
A Star Is Born
(với Bradley Cooper)
  • Phát hành: 5 tháng 10 năm 2018
  • Hãng đĩa: Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
1 1 2 1 1 4 4 1 1 1
  • Toàn cầu: 6.000.000[q]
  • Mỹ: 1.002.611[r]
  • Canada: 92.000[s]
  • Pháp: 187.249[t]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[3]
  • Úc: 2× Bạch kim[60]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[61]
  • Ý:  Bạch kim[36]
  • IFPI Áo:  Bạch kim[62]
  • Canada:  Bạch kim[39]
  • New Zealand: 3× Bạch kim[63]
  • Pháp: 3× Bạch kim[41]

Album tổng hợp

Danh sách album tổng hợp và vị trí xếp hạng cao nhất
Tiêu đề Thông tin album Vị trí xếp hạng cao nhất
Nhật Bản
Nhật Bản
[64]
The Singles[65]
  • Ngày phát hành: 8 tháng 12 năm 2010 (Nhật Bản)
  • Hãng đĩa: Universal Music Japan
  • Định dạng: box set gồm 9 CD
166

Album phối lại

Danh sách album phối lại, vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Tiêu đề Thông tin album Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa Kỳ Mỹ
[2]
Úc Úc
[6]
Bỉ
Bỉ
(WAL)

[66]
Canada Canada
[11]
Pháp Pháp
[25]
Ý Ý
[26]
Nhật Bản Nhật Bản
[64]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Điển Thuỵ Điển
[67]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[5]
The Remix
  • Ngày phát hành: 3 tháng 3 năm 2010 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Kon Live, Cherrytree, Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
6 12 6 5 19 22 7 9 40 3
  • Toàn cầu: 500.000[u]
  • Mỹ: 316.000[j]
  • Pháp: 50.000[68]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
Born This Way: The Remix
  • Ngày phát hành: 21 tháng 11 năm 2011 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Kon Live
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, LP
105 62 69 49 71 89 14 77
"—" biểu thị album không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Album video

Danh sách album video, vị trí xếp hạng cao nhất và chứng nhận
Tiêu đề Thông tin album Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận
Hoa Kỳ Mỹ
[70]
Úc Úc
[71]
Áo Áo
[72]
Pháp Pháp
[73]
Đức Đức
[4]
Ý Ý
[74]
Nhật Bản Nhật Bản
[75]
Hà Lan Hà Lan
[76]
Thụy Sĩ Thuỵ Sĩ
[77]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[78]
The Fame Monster: Video EP[79]
  • Ngày phát hành: 7 tháng 5 năm 2010
  • Hãng đĩa: Streamline, Kon Live, Cherrytree, Interscope
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Lady Gaga Presents the Monster Ball Tour: At Madison Square Garden
  • Ngày phát hành: 21 tháng 11 năm 2011
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Kon Live
  • Định dạng: DVD, Blu-ray, tải kỹ thuật số
1 2 5 1 55 1 3 3 2 4
  • Úc: 2× Bạch kim[80]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[81]
  • Pháp: 2× Bạch kim[82]
Tony Bennett and Lady Gaga: Cheek to Cheek Live!
  • Ngày phát hành: 20 tháng 1 năm 2015
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Columbia
  • Định dạng: DVD, Blu-ray, tải kỹ thuật số
1 3 7 3  — 3  — 3  — 10
"—" biểu thị album không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Box set

Tiêu đề Thông tin box set
Born This Way: The Collection
  • Ngày phát hành: 18 tháng 11 năm 2011
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Kon Live
  • Định dạng: box set gồm 2 đĩa CD và 1 đĩa DVD

EP

Danh sách EP, vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số và chứng nhận
Tiêu đề Thông tin EP Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
Hoa Kỳ Mỹ
[2]
Úc Úc
[6]
Bỉ
Bỉ
(WAL)

[66]
Canada Canada
[11]
Pháp Pháp
[25]
Ý Ý
[26]
Nhật Bản Nhật Bản
[64]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Điển Thuỵ Điển
[67]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[5]
The Cherrytree Sessions
  • Ngày phát hành: 3 tháng 2 năm 2009 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Kon Live, Cherrytree, Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số
Hitmixes 8
The Fame Monster
  • Ngày phát hành: 18 tháng 11 năm 2009 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Kon Live, Cherrytree, Interscope
  • Định dạng: CD, tải kỹ thuật số, USB, EP, LP
5 1 5 6 13 2 2 1 2 1
  • Toàn cầu: Xem The Fame
  • Mỹ: 1.650.000[b]
  • Pháp: 177.122[w]
A Very Gaga Holiday
  • Ngày phát hành: 22 tháng 11 năm 2011 (Hoa Kỳ)
  • Hãng đĩa: Streamline, Interscope, Kon Live
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
52 74
  • Mỹ: 46.000[j]
"—" biểu thị album không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Đĩa đơn

Hát chính

Danh sách đĩa đơn với vai trò hát chính, vị trí xếp hạng cao nhất và chứng nhận, năm phát hành và tên album
Tiêu đề Năm Vị trí cao nhất trên các bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ
Mỹ
[15]
Úc Úc
[6]
Áo Áo
[24]
Canada Canada
[7]
Pháp Pháp
[90]
Đức Đức
[4]
Ý Ý
[26]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Sĩ Thụy Sĩ
[28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[8]
"Just Dance"
(hợp tác với Colby O'Donis)
2008 1 1 8 1 14 10 1 3 8 1
  • Mỹ: 7.200.000[j]
  • Pháp: 88.000[x]
  • L.H. Anh: 961.655[y]
  • Mỹ: 8× Bạch kim[92]
  • Úc: 3× Bạch kim[93]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Đức: Vàng Vàng[35]
  • Ý: Vàng Vàng[94]
  • IFPI Thụy Sĩ: 2× Bạch kim[38]
  • Canada: 6× Bạch kim[39]
  • New Zealand:  Bạch kim[95]
The Fame
"Poker Face" 1 1 1 1 1 1 2 1 1 1
  • Mỹ: 7.500.000[j]
  • Pháp: 300.000[z]
  • L.H. Anh: 1.180.377[y]
  • Mỹ: 10× Bạch kim[92]
  • Úc: 6× Bạch kim[93]
  • L.H. Anh: 2× Bạch kim[34]
  • Đức: 3× Bạch kim[35]
  • Ý: 2× Bạch kim[94]
  • IFPI Áo: Vàng Vàng[37]
  • IFPI Thuỵ Sĩ: 3× Bạch kim[38]
  • Canada: 8× Bạch kim[39]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[95]
"Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)" 2009 15 68 7 9
"LoveGame" 5 4 6 2 5 7 12 15 19
  • Mỹ: 2.670.000[j]
  • Pháp: 94.710[aa]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[92]
  • Úc:  Bạch kim[93]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • Canada: 2× Bạch kim[39]
  • New Zealand: Vàng Vàng[95]
"Paparazzi" 6 2 3 3 6 1 3 5 4 4
  • Mỹ: 3.600.000[j]
  • Pháp: 120.000[x]
  • Mỹ: 4× Bạch kim[92]
  • Úc: 2× Bạch kim[93]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Đức:  Bạch kim[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • IFPI Thụy Sĩ: Vàng Vàng[38]
  • New Zealand: Vàng Vàng[95]
"Bad Romance" 2 2 1 1 1 1 1 2 2 1
  • Toàn cầu: 9.700.000[ab]
  • Mỹ: 5.900.000[j]
  • Pháp: 250.000+[ac]
  • L.H. Anh: 1.045.372[y]
  • Mỹ: 11× Bạch kim[92]
  • Úc: 4× Bạch kim[101]
  • L.H. Anh: 2× Bạch kim[34]
  • Đức: 3× Vàng[35]
  • Ý: 2× Bạch kim[94]
  • IFPI Thuỵ Sĩ:  Bạch kim[38]
  • Canada: 7× Bạch kim[39]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[95]
  • Pháp:  Bạch kim[102]
The Fame Monster
"Telephone"
(hợp tác với Beyoncé)
2010 3 3 3 3 3 3 2 3 4 1
  • Toàn cầu: 7.400.000[ab]
  • Mỹ: 3.500.000[j]
  • Pháp: 126.500[ad]
  • L.H. Anh: 723.000[ae]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[92]
  • Úc: 3× Bạch kim[101]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Đức: Vàng Vàng[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • IFPI Thuỵ Sĩ: Vàng Vàng[38]
  • Canada: 3× Bạch kim[39]
  • New Zealand:  Bạch kim[95]
  • Pháp: Vàng Vàng[102]
"Alejandro" 5 2 2 4 3 2 2 11 3 7
  • Mỹ: 2.630.000[j]
  • Pháp: 130.000[x]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[92]
  • Úc:  Bạch kim[104]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
  • Đức:  Bạch kim[35]
  • Ý: 2× Bạch kim[94]
  • IFPI Thuỵ Sĩ:  Bạch kim[38]
  • New Zealand: Vàng Vàng[95]
  • Pháp: Vàng Vàng[102]
"Dance in the Dark" [af] 24 88 89
"Born This Way" 2011 1 1 1 1 2 1 2 1 1 3
  • Toàn cầu: 8.200.000[ag]
  • Mỹ: 4.300.000[j]
  • Pháp: 110.100[ah]
  • L.H. Anh: 712.600[ai]
  • Mỹ: 4× Bạch kim[92]
  • ÚcL 4× Bạch kim[101]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Đức:  Bạch kim[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • IFPI Thuỵ Sĩ:  Bạch kim[38]
  • New Zealand:  Bạch kim[95]
Born This Way
"Judas" 10 6 6 8 8 23 3 12 8 8
  • Mỹ: 1.000.000[j]
  • Pháp: 82.800[ah]
  • Mỹ: 2× Bạch kim[92]
  • Úc:  Bạch kim[101]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • Ý: Vàng Vàng[94]
  • New Zealand: Vàng Vàng[95]
"The Edge of Glory" 3 2 3 3 7 3 2 3 10 6
  • Mỹ: 3.000.000[j]
  • Pháp: 42.000[ah]
  • L.H. Anh: 606.000[ai]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[92]
  • Úc: 2× Bạch kim[101]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Đức: Vàng Vàng[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • IFPI Thuỵ Sĩ: Vàng Vàng[38]
  • New Zealand: Vàng Vàng[95]
"You and I" 6 14 8 10 98 21 19 5 32 23
  • Mỹ: 2.400.000[j]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[92]
  • Úc: Vàng Vàng[101]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • New Zealand: Vàng Vàng[109]
"The Lady Is a Tramp"
(với Tony Bennett)
[aj] 50 188 Duets II
"Marry the Night" 29 88 13 11 50 17 42 34 16 Born This Way
"Applause" 2013 4 11 6 4 3 5 2 7 7 5
  • Mỹ: 2.700.000[j]
  • Pháp: 60.000[x]
  • L.H. Anh: 300.000[ai]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[92]
  • Úc:  Bạch kim[112]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
  • Đức: Vàng Vàng[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • Canada: 2× Bạch kim[39]
  • New Zealand: Vàng Vàng[113]
Artpop
"Do What U Want"
(hợp tác với R. Kelly)
13 21 10 3 8 14 3 12 14 9
  • Mỹ: 1.300.000[j]
  • L.H. Anh: 248.000[ae]
  • Mỹ:  Bạch kim[92]
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[34]
  • Đức: Vàng Vàng[35]
  • Ý:  Bạch kim[94]
  • Canada: Vàng Vàng[39]
"G.U.Y." 2014 76 88 92 98 115
"Anything Goes"
(với Tony Bennett)
178 65 174 Cheek to Cheek
"I Can't Give You Anything but Love"
(với Tony Bennett)
173 76
"Til It Happens to You" 2015 95 46 46 171 Đĩa đơn không nằm trong album
"Perfect Illusion" 2016 15 14 21 17 1 31 5 31 16 12 Joanne
"Million Reasons" 4 34 52 16 29 85 12 [al] 7 39
  • Mỹ: 1.100.000[j]
  • Mỹ:  Bạch kim[92]
  • Úc:  Bạch kim[114]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • Ý: 3× Bạch kim[94]
  • Canada: Vàng Vàng[39]
  • Pháp: Vàng Vàng[102]
"The Cure" 2017 39 10 37 33 4 57 36 [am] 41 19 Đĩa đơn không nằm trong album
"Joanne" 45 154 Joanne
"Shallow"
(với Bradley Cooper)
2018 1 1 1 1 1 4 2 1 1 1
  • Mỹ:  Bạch kim[92]
  • Úc: 6× Bạch kim[120]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[34]
  • Ý: 3× Bạch kim[94]
  • IFPI Áo:  Bạch kim[37]
  • Canada: 2× Bạch kim[39]
  • New Zealand: 3× Bạch kim[121]
  • Pháp:  Kim cương[102]
A Star Is Born
"Always Remember Us This Way" 41 12 25 26 1 84 41 14 8 25
  • Mỹ: 248.000[j]
  • Úc:  Bạch kim[122]
  • L.H. Anh:  Bạc[34]
  • Ý: Vàng Vàng[94]
  • New Zealand:  Bạch kim[123]
  • Pháp:  Bạch kim[102]
"I'll Never Love Again"
(với Bradley Cooper)
2019 36 15 73 43 4 61 [aq] 14 27
  • Mỹ: 226.000[j]
"—" biểu thị đĩa đơn không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Hợp tác

Danh sách đĩa đơn với vai trò góp giọng, vị trí xếp hạng cao nhất, năm phát hành và tên album
Tiêu đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
Hoa Kỳ Mỹ
[15]
Úc Úc
[6]
Bỉ
Bỉ
(FL)

[126]
Canada Canada
[7]
Cộng hòa Ireland Ireland
[127]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[8]
"Chillin"
(Wale hợp tác với Lady Gaga)
2009 99 29 [ar] 73 19 12 Attention Deficit
"3-Way (The Golden Rule)"
(The Lonely Island hợp tác với Justin Timberlake và Lady Gaga)
2011 [as] The Wack Album
"—" biểu thị đĩa đơn không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Đĩa đơn quảng bá

Danh sách đĩa đơn quảng bá, vị trí xếp hạng cao nhất, chứng nhận và tên album
Tiêu đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
Hoa Kỳ Mỹ
[15]
Úc Úc
[6]
Canada Canada
[7]
Pháp Pháp
[129]
Đức Đức
[4]
Ý Ý
[26]
Nhật Bản Nhật Bản
[130]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Sĩ Thuỵ Sĩ
[28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[8]
"Beautiful, Dirty, Rich" 2008 83 The Fame
"Vanity"[131] Đĩa đơn không nằm trong album
"Christmas Tree"
(hợp tác với Space Cowboy)
79
"Hair" 2011 12 20 11 16 5 9 13 Born This Way
"Venus" 2013 32 31 19 9 35 7 20 18 76 Artpop
"Dope" 8 34 96 8 34 5 20 15 124
"Winter Wonderland"[132]
(với Tony Bennett)
2014 Đĩa đơn không nằm trong album
"A-Yo" 2016 66 55 167 [at] 62 66 Joanne
"Your Song"[au] 2018 36 27 Revamp
"—" biểu thị đĩa đơn quảng bá không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Các bài hát khác được xếp hạng

Danh sách các bài hát khác được xếp hạng, năm phát hành, vị trí xếp hạng cao nhất, doanh số, chứng nhận và tên album
Tiêu đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Hoa Kỳ Mỹ
[15]
Úc Úc
[6]
Canada Canada
[7]
Pháp Pháp
[129]
Cộng hòa Ireland Ireland
[127]
Ý Ý
[26]
New Zealand New Zealand
[27]
Thụy Điển Thuỵ Điển
[67]
Thụy Sĩ Thụy Sĩ
[28]
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland L.H. Anh
[135]
"The Fame" 2008 73 The Fame
"Starstruck"
(hợp tác với Space CowboyFlo Rida)
[av] 74 191
"Big Girl Now"
(New Kids on the Block hợp tác với Lady Gaga)
84 The Block
"Video Phone (bản remix mở rộng)[aw]"
(Beyoncé hợp tác với Lady Gaga)
2009 65 31 32 58 I Am... Sasha Fierce
"Monster" [ax] 80 29 68 The Fame Monster
"Speechless" 94 67 88
"So Happy I Could Die" 53 84
"Teeth" 107
"Poker Face / Speechless / Your Song"[ay]
(hợp tác với Elton John)
2010 94 Bài hát không nằm trong album
"Scheiße" 2011 [az] 136 Born This Way
"Black Jesus + Amen Fashion" 172
"Fashion of His Love" 140
"The Queen" 150
"White Christmas"[ba] 87 A Very Gaga Holiday
"Artpop" 2013 185 Artpop
"Diamond Heart" 2016 [bb] 155 Joanne
"John Wayne" 180
"Dancin' in Circles" 186
"Angel Down" 152
"Music to My Eyes"
(với Bradley Cooper)
2018 91 [bc] [bd] A Star Is Born
"Look What I Found" 95 84 [be] [bf]
"Is That Alright?" 63 96 85 34 [bg]
"Diggin' My Grave"
(với Bradley Cooper)
101
"I Don't Know What Love Is"
(với Bradley Cooper)
108
"Before I Cry" 140
"Heal Me" 182
"La Vie en Rose"[bh] 191
"—" biểu thị bài hát không được phát hành hoặc không có mặt trên bảng xếp hạng tại quốc gia này.

Xem thêm

Tham khảo

Ghi chú
  1. ^ Doanh số tiêu thụ của The Fame trên toàn cầu tính đến năm 2012; bao gồm doanh số của cả The Fame Monster.[10]
  2. ^ a ă â Doanh số tiêu thụ tại Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2019.[29]
  3. ^ Doanh số tiêu thụ của The Fame tại Canada tính đến tháng 4 năm 2011.[30]
  4. ^ Doanh số tiêu thụ của The Fame tại Pháp tính đến tháng 1 năm 2019.[31]
  5. ^ Doanh số tiêu thụ của The Fame tại L.H. Anh tính đến tháng 11 năm 2018.[32]
  6. ^ Doanh số tiêu thụ của Born This Way tại Hoa Kỳ tính đến năm 2012.[10]
  7. ^ Doanh số tiêu thụ của Born This Way tại Canada tính đến tháng 11 năm 2011).[42]
  8. ^ Doanh số tiêu thụ của Born This Way tại L.H. Anh tính đến tháng 2 năm 2017.[44]
  9. ^ Doanh số tiêu thụ của Artpop trên toàn cầu tính đến tháng 3 năm 2014.[46]
  10. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r Doanh số tiêu thụ tại Hoa Kỳ tính đến tháng 2 năm 2019.[47]
  11. ^ Doanh số tiêu thụ của Artpop tại L.H. Anh tính đến tháng 10 năm 2014.[49]
  12. ^ Doanh số tiêu thụ của Cheek to Cheek trên toàn cầu tính đến tháng 8 năm 2016.[50]
  13. ^ Doanh số tiêu thụ của Cheek to Cheek tại Pháp tính đến tháng 5 năm 2015.[51]
  14. ^ Doanh số tiêu thụ của Joanne trên toàn cầu tính đến hết năm 2016.[53]
  15. ^ Doanh số tiêu thụ của Joanne tại Pháp tính đến tháng 10 năm 2018.[54]
  16. ^ Doanh số tiêu thụ của Joanne tại L.H. Anh tính đến tháng 10 năm 2018.[55]
  17. ^ Doanh số tiêu thụ của A Star Is Born trên toàn cầu tính đến tháng 6 năm 2019.[56]
  18. ^ Doanh số tiêu thụ của A Star Is Born tại Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2019.[57]
  19. ^ Doanh số tiêu thụ của A Star Is Born tại Canada tính đến tháng 1 năm 2019.[58]
  20. ^ Doanh số tiêu thụ của A Star Is Born tại Pháp tính đến tháng 6 năm 2019.[59]
  21. ^ Doanh số tiêu thụ của The Remix trên toàn cầu tính đến tháng 7 năm 2010.[12]
  22. ^ Doanh số tiêu thụ của The Cherrytree Sessions tại Hoa Kỳ tính đến tháng 9 năm 2010.[83]
  23. ^ Doanh số tiêu thụ của The Fame Monster tại Pháp tính đến tháng 11 năm 2010.[84]
  24. ^ a ă â b Doanh số tiêu thụ tại Pháp tính đến tháng 5 năm 2015.[91]
  25. ^ a ă â Doanh số tiêu thụ tại L.H. Anh tính đến tháng 9 năm 2017.[98]
  26. ^ Tổng doanh số tiêu thụ của "Poker Face" tại Pháp tính đến hết năm 2009[91][96] và năm 2010.[97]
  27. ^ a ă Doanh số tiêu thụ tại Pháp tính đến hết năm 2009.[96]
  28. ^ a ă Doanh số tiêu thụ trên toàn cầu tính đến hết năm 2011.[99]
  29. ^ Doanh số tiêu thụ của "Bad Romance" tại Pháp tính đến tháng 6 năm 2019.[100]
  30. ^ Doanh số tiêu thụ của "Telephone" tại Pháp tính đến hết năm 2010.[97]
  31. ^ a ă Doanh số tiêu thụ tại L.H. Anh tính đến tháng 2 năm 2017.[103]
  32. ^ Dù không lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100, nhưng "Dance in the Dark" lại từng đạt được vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100.[105]
  33. ^ Doanh số tiêu thụ của "Born This Way" trên toàn cầu tính đến hết năm 2012.[106]
  34. ^ a ă â Doanh số tiêu thụ tại Pháp tính đến hết năm 2011.[107]
  35. ^ a ă â Doanh số tiêu thụ tại L.H. Anh tính đến tháng 9 năm 2016.[108]
  36. ^ Dù không lọt vào Billboard Hot 100, nhưng "The Lady Is a Tramp" từng giành được vị trí thứ 21 trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 Singles.[110]
  37. ^ a ă Doanh số tiêu thụ tại Hoa Kỳ tính đến tháng 4 năm 2015.[111]
  38. ^ Dù không lọt vào bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "Million Reasons" vẫn đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng NZ Heatseekers Singles Chart.[115]
  39. ^ Dù không lọt vảo bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "The Cure" từng giành được vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng NZ Heatseekers Singles Chart.[116]
  40. ^ Doanh số tiêu thụ của "The Cure" tại Hoa Kỳ tính đến tháng 9 năm 2018.[117]
  41. ^ Doanh số tiêu thụ của "Shallow" tại Hoa Kỳ tính đến tháng 4 năm 2019.[118]
  42. ^ Doanh số tiêu thụ của "Shallow" tại Pháp tính đến hết năm 2018.[119]
  43. ^ Dù không lọt vào bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "I'll Never Love Again" vẫn giành được vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng NZ Hot Singles Chart.[124]
  44. ^ Dù không có mặt trên bảng xếp hạng Ultratop 50, nhưng "Chillin" vẫn đạt vị trí thứ 20 trên bảng xếp hạng Flemish Ultratip.[126]
  45. ^ Dù không lọt vào Billboard Hot 100, nhưng "3-Way (The Golden Rule)" lại từng giành được vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 Singles.[128]
  46. ^ Dù không có mặt trên bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "A-Yo" lại từng đạt được vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng NZ Heatseekers Singles Chart.[133]
  47. ^ Là phiên bản cover của bài hát cùng tên của nam nhạc sĩ Elton John.[134]
  48. ^ Dù không góp mặt trên Billboard Hot 100, nhưng "Starstruck" từng đạt được vị trí thứ bảy Bubbling Under Hot 100 Singles.[105]
  49. ^ Nguyên văn tiếng Anh: "Extended Remix".[136]
  50. ^ Dù không lọt được vào Billboard Hot 100, nhưng "Monster" vẫn từng giành được vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 Singles.[105]
  51. ^ Đây là liên khúc gồm ba bài hát mà nữ ca sĩ đã biểu diễn cùng với Elton John tại lễ trao giải Grammy lần thứ 52 (2010).[137]
  52. ^ Dù không được góp mặt trên Billboard Hot 100, nhưng "Scheiße" lại giành được vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 Singles.[105]
  53. ^ Phiên bản cover do Gaga trình bày của bài hát cùng tên do nhạc sĩ Irving Berlin sáng tác vào năm 1942. Phiên bản này đã được cô trình bày trên chương trình đặc biệt được phát sóng nhân dịp Lễ Tạ ơn với tựa đề A Very Gaga Thanksgiving và được đưa vào EP A Very Gaga Holiday.[138][139]
  54. ^ Dù không lọt vào bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "Diamond Heart" vẫn đạt vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng NZ Heatseekers Singles Chart.[133]
  55. ^ Dù không có mặt trên bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "Music to My Eyes" lại từng giành được vị trí thứ 31 trên bảng xếp hạng NZ Hot Singles Chart.[124]
  56. ^ Dù không được góp mặt trên bảng xếp hạng Swedish Singelista Chart, nhưng "Music to My Eyes" lại từng đạt vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng Swedish Heatseeker Chart.[140]
  57. ^ Dù không được góp mặt trên bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "Look What I Found" vẫn giành được vị trí thứ 27 trên bảng xếp hạng NZ Hot Singles Chart.[124]
  58. ^ Dù không lọt vào bảng xếp hạng Swedish Singellista Chart, nhưng "Look What I Found" lại từng vươn lên vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Swedish Heatseeker Chart.[140]
  59. ^ Dù không được góp mặt trên bảng xếp hạng NZ Top 40 Singles Chart, nhưng "Is That Alright?" lại từng đạt vị trí thứ 40 trên bảng xếp hạng NZ Hot Singles Chart.[141]
  60. ^ Phiên bản cover do Gaga trình bày cho bộ phim Vì sao vụt sáng.[142]
Nguồn tham khảo
  1. ^ “Lady Gaga”. People. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  2. ^ a ă â b c d đ “Lady Gaga Album & Song Chart History: Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê “American album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  4. ^ a ă â b c d đ “Discographie von Lady Gaga” (bằng tiếng Đức). Offizielle Deutsche Charts. GfK Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  5. ^ a ă â b c d “Lady Gaga” (chọn tab "ALBUMS"). Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g Vị trí xếp hạng cao nhất tại Úc:
  7. ^ a ă â b c Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn tại Canada: “Lady Gaga Chart History: Canadian Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  8. ^ a ă â b Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn tại L.H. Anh:
  9. ^ Birchmeier, Jason. “Lady Gaga | Biography”. AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  10. ^ a ă â “Big Concerts & Live Nation Entertainment Press Release” (PDF). Big Concerts. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  11. ^ a ă â b c Vị trí xếp hạng cao nhất của các album tại Canada:
  12. ^ a ă Ziegbe, Mawuse (8 tháng 7 năm 2010). “Lady Gaga Remix Album Due In The U.S. Next Month”. MTV News. MTV Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  13. ^ Kreps, Daniel (13 tháng 9 năm 2010). “Lady Gaga Names Her New Album 'Born This Way'. Rolling Stone. Jann S. Wenner. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  14. ^ Caulfield, Keith (1 tháng 10 năm 2014). “Tony Bennett & Lady Gaga's 'Cheek To Cheek' Debuts at No. 1”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  15. ^ a ă â b c Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn tại Hoa Kỳ: “Lady Gaga Chart History: Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  16. ^ “Le Top de la semaine : Top Singles Téléchargés – SNEP (Week 37, 2016)” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  17. ^ Caulfield, Keith (30 tháng 10 năm 2016). “Lady Gaga Scores Her Fourth No. 1 Album on Billboard 200 Chart With 'Joanne'. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  18. ^ Caulfield, Keith (14 tháng 10 năm 2018). “Lady Gaga & Bradley Cooper's 'A Star Is Born' Soundtrack Debuts at No. 1 on Billboard 200 Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  19. ^ “Lady Gaga Exits WME for CAA”. Billboard. 12 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  20. ^ “Official chart analysis: weekly album sales plummet to record 21st Century low, Adele back at No.1”. Music Week. 15 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  21. ^ Trust, Gary (25 tháng 2 năm 2018). “Ask Billboard: Lady Gaga's Career Sales, The Biggest No. 2 Hits & Ed Sheeran's Latest Chart Record”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  22. ^ Trust, Gary (2 tháng 10 năm 2015). “Ask Billboard: Lady Gaga First Artist With Two 7-Million-Selling Downloads”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  23. ^ “Top Artists (Digital Singles)”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  24. ^ a ă â “Discographie Lady GaGa” (bằng tiếng Đức). austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  25. ^ a ă â b “Discographie Lady GaGa” (bằng tiếng Pháp). lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  26. ^ a ă â b c d đ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng cao nhất của các nhạc phẩm ở Ý:
    • Áp dụng cho tất cả ngoại trừ: “Discography Lady Gaga”. italiancharts.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
    • "Just Dance", "You and I", "Marry the Night" và "G.U.Y.": “Lady Gaga” (Chọn ô "Artista/Band", nhập "Lady GaGa" vào ô tìm kiếm bên phải rồi chọn mục "Classifiche".) (bằng tiếng Italy). Federazione Industria Musicale Italiana. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
    • "The Lady Is a Tramp" và "I Can't Give You Anything but Love": “Tony Bennett & Lady Gaga” (Chọn ô "Artista/Band", nhập "TONY BENNETT & LADY GAGA" và ô tìm kiếm bên phải rồi chọn mục "Classifiche".). Federazione Industria Musicale Italiana. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
    • "Anything Goes": “Lady Gaga & Tony Bennett” (Chọn ô "Artista/Band", nhập "LADY GAGA & TONY BENNETT" và ô tìm kiếm bên phải rồi chọn mục "Classifiche".). Federazione Industria Musicale Italiana. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  27. ^ a ă â b c d đ “Discography Lady GaGa”. charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  28. ^ a ă â b c “Lady GaGa” (chọn tab "CHARTS") (bằng tiếng Đức). swisscharts.com. Hung Medien. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  29. ^ Caulfield, Keith (29 tháng 3 năm 2019). “Lady Gaga & Bradley Cooper's 'A Star Is Born' Soundtrack Passes 1 Million in U.S. Sales”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  30. ^ Nguồn tham khảo nói về doanh số tiêu thụ của The Fame tại Canada:
  31. ^ Ruelle, Yohann (20 tháng 1 năm 2019). “Lady Gaga: son tube 'Just Dance' était numéro un il y a 10 ans, retour sur son histoire”. Purebreak Charts (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  32. ^ Myers, Justin (16 tháng 11 năm 2018). “Lady Gaga's The Fame has passed a big sales milestone”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019. 
  33. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2016 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  34. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u “Britain album and single certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Chọn albums hoặc singles trong bảng chọn Format. Nhập Lady Gaga vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  35. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Gold-/Platin-Datenbank (Lady Gaga)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  36. ^ a ă â b c “Italy album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Chọn lệnh "Tutti gli anni" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Lady Gaga" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  37. ^ a ă â b c “Austrian album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Nhập Lady Gaga vào ô Interpret (Tìm kiếm). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  38. ^ a ă â b c d đ e ê g h “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Lady Gaga)”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  39. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n “Canada album and single certifications – Lady Gaga”. Music Canada. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  40. ^ a ă “Latest Gold / Platinum Albums”. RadioScope. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  41. ^ a ă â b c d “France album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  42. ^ Nguồn tham khảo nói về doanh số tiêu thụ của Born This Way tại Canada:
  43. ^ “Lady GaGa – Born This Way”. Pure Charts by Charts in France (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  44. ^ Myers, Justin (1 tháng 2 năm 2017). “Lady Gaga's biggest songs and albums revealed”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  45. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  46. ^ Graff, Gary (7 tháng 7 năm 2014). “Lady Gaga Thanks Doritos, Defends 'Artpop' Sales, Slams Critics 'Who Don't Know F--ck About the Music Industry' at SXSW Keynote”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  47. ^ Trust, Gary (10 tháng 2 năm 2019). “Ask Billboard: Lady Gaga's Career Sales & Streams; Ariana Grande Takes '7' to 1”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  48. ^ “Lady GaGa – Artpop”. Pure Charts by Charts in France (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  49. ^ Jones, Alan (27 tháng 10 năm 2014). “Official Charts Analysis: Trainor matches Clean Bandit for longest-running No.1 single of 2014”. Music Week. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  50. ^ “Will Lady Gaga and Tony Bennett Collab On Another Album?”. Out. 3 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  51. ^ Hamard, Jonathan (16 tháng 5 năm 2015). “Lady Gaga: quels sont les plus gros tubes de la popstar en France ? Lea más en” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  52. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  53. ^ “Anuario SGAE 2016 (Musica Grabada)” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). SGAE. 24 tháng 9 năm 2017. tr. 29. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 24 tháng 9 năm 2017. 
  54. ^ Ruelle, Yohann (30 tháng 10 năm 2018). "Joanne" de Lady Gaga certifié disque d'or en France” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts in France. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  55. ^ Jones, Alan (12 tháng 10 năm 2018). “Charts analysis: A Star Is Born races to No.1”. Music Week. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  56. ^ Malach, Hannah (25 tháng 6 năm 2019). 'A Star Is Born' Soundtrack Is Certified Double Platinum in U.S.”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  57. ^ McIntyre, Hugh (26 tháng 3 năm 2019). “Lady Gaga's 'A Star Is Born' Has Now Sold Over One Million Actual Copies In The U.S.”. Forbes. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  58. ^ Bliss, Karen (9 tháng 1 năm 2019). “Drake Dominates Nielsen Music's 2018 Canada Report”. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  59. ^ “MUSIC ENREGISTRÉE: Les performances du 1er semestre 2019” (PDF). Syndicat national de l'Édition phonographique. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019. 
  60. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2019 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  61. ^ “Britain album certifications – Motion Picture Cast Recording” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Nhập Motion Picture Cast Recording vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  62. ^ “Austrian album certifications – Div/OST – A Star Is Born” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Nhập Div/OST vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập A Star Is Born vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  63. ^ “New Zealand album certifications – Lady Gaga and Bradley Cooper – A Star Is Born OST”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  64. ^ a ă â Vị trí xếp hạng cao nhất của các album tại Nhật Bản:
  65. ^ ザ・シングルス: レディー・ガガ, ビヨンセ, スペース・カウボーイ: 音楽 [The Singles: Lady Gaga, Beyoncé, Space Cowboy: Music] (bằng tiếng Nhật). Amazon.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  66. ^ a ă “Discografie Lady Gaga”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  67. ^ a ă â “Discography Lady Gaga”. swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  68. ^ “Lady GaGa – The Remix”. Pure Charts by Charts in France (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  69. ^ “Lady GaGa – Born This Way – The Remix”. Pure Charts by Charts in France (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  70. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Hoa Kỳ:
  71. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Úc:
  72. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng cao nhất của các DVD tại Áo:
    • Vị trí xếp hạng cao nhất của Lady Gaga Presents the Monster Ball Tour: At Madison Square Garden: “Musik-DVD Top 10 Hitparaden” (bằng tiếng Hà Lan). Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế. Hung Medien. 2 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
    • Vị trí xếp hạng cao nhất của Tony Bennett and Lady Gaga: Cheek to Cheek Live!: “Austria Top 40 – Musik-DVDs Top 10” (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  73. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Pháp:
  74. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Ý:
  75. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Nhật Bản:
  76. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Hà Lan:
    • Vị trí xếp hạng cao nhất của Lady Gaga Presents the Monster Ball Tour: At Madison Square Garden: “Musik-DVD Top 10 Hitparaden” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Hung Medien. 2 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
    • Vị trí xếp hạng cao nhất của Tony Bennett and Lady Gaga: Cheek to Cheek Live!: “Musik-DVD Top 10 Hitparaden” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Hung Medien. 24 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  77. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng của các DVD tại Thuỵ Sĩ:
    • Vị trí xếp hạng cao nhất của Lady Gaga Presents the Monster Ball Tour: At Madison Square Garden: “Musik-DVD Top 10” (bằng tiếng Đức). Swiss Music Charts. Hung Medien. 27 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  78. ^ Nguồn tham khảo về vị trí xếp hạng của các DVD tại L.H. Anh:
  79. ^ “The Fame Monster Videos by Lady GaGa”. iTunes. Apple Inc. 7 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  80. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 DVD”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  81. ^ “Britain video certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Chọn videos trong bảng chọn Format. Nhập Lady Gaga vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  82. ^ “France video certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  83. ^ Grein, Paul (8 tháng 9 năm 2010). “Week Ending Sept. 5, 2010: Rihanna Leads The Pack”. Yahoo! Music. Yahoo!! Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  84. ^ “Les disques les plus vendus en France depuis début 2010”. Pure Charts by Charts in France (bằng tiếng Pháp). 9 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  85. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2010 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  86. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2010”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  87. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2013” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019.  Nhập Lady Gaga vào ô tìm kiếm ở trên cùng. Nhấn vào "Sok" và chọn The Fame Monster
  88. ^ “Japan album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019.  Chọn 2010年12月 trong menu thả xuống
  89. ^ “Poland album certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  90. ^ Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn tại Pháp: “Lady Gaga Chart History: Top 100 Singles français”. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  91. ^ a ă “Lady Gaga: quels sont les plus gros tubes de la popstar en France ?”. chartsinfrance.net (bằng tiếng Pháp). 16 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  92. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q “American single certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  93. ^ a ă â b c “ARIA Charts – Accreditations – 2009 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  94. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o “Italy single certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019.  Chọn lệnh "Tutti gli anni" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Lady Gaga" vào ô "Filtra". Chọn "Singoli online" dưới phần "Sezione".
  95. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Latest Gold / Platinum Singles”. RadioScope. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  96. ^ a ă “The most sold Singles in 2009”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  97. ^ a ă “The most sold Songs in 2010”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  98. ^ Copsey, Rob (19 tháng 9 năm 2017). “The UK's Official Chart 'millionaires' revealed”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  99. ^ “IFPI Digital Music Report 2011” (PDF). Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  100. ^ "Bad Romance", "I Gotta Feeling", "Ça m'énerve"... Ces tubes fêtent leurs 10 ans”. chartsinfrance.net (bằng tiếng Pháp). 10 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  101. ^ a ă â b c d “ARIA Charts – Accreditations – 2011 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  102. ^ a ă â b c d đ “France single certifications – Lady Gaga” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  103. ^ Myers, Justin (1 tháng 2 năm 2017). “Lady Gaga's biggest songs and albums revealed”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  104. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2010 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  105. ^ a ă â b “Lady Gaga – Chart history: Bubbling Under Hot 100 Singles”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  106. ^ “IFPI Digital Music Report 2012” (PDF). Liên đoàn Công nghiệp Ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  107. ^ “The most sold Songs in 2011”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  108. ^ Myers, Justin (2 tháng 9 năm 2016). “Lady Gaga's Official Top 20 biggest songs in the UK revealed”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  109. ^ “New Zealand single certifications – Lady Gaga – You and I”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  110. ^ “Bubbling Under Hot 100 – Issue Date: October 8, 2011”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  111. ^ Trust, Gary (5 tháng 4 năm 2015). “Ask Billboard: Lady Gaga's Top-Selling Songs & Albums”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  112. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2013 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  113. ^ “New Zealand single certifications – Lady Gaga – Applause”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  114. ^ a ă â “ARIA Charts – Accreditations – 2017 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  115. ^ “NZ Heatseekers Singles Chart”. Recorded Music NZ. 17 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  116. ^ “NZ Heatseekers Singles Chart”. Recorded Music NZ. 24 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  117. ^ “Billboard Digital Songs Chart Week Ending September 28, 2017” (PDF). Nielsen SoundScan. 2 tháng 10 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  118. ^ McIntyre, Hugh (17 tháng 4 năm 2019). “Lady Gaga And Bradley Cooper's 'Shallow' Has Now Sold One Million Copies In The U.S.”. Forbes. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  119. ^ “The mot sold Songs in 2018”. InfoDisc (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  120. ^ “ARIA Australian Top 50 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Úc. 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2019. 
  121. ^ “New Zealand single certifications – Lady Gaga and Bradley Cooper – Shallow”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2019. 
  122. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2019 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  123. ^ “New Zealand single certifications – Lady Gaga – Always Remember Us This Way”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  124. ^ a ă â “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 5 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  125. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2018 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  126. ^ a ă “Discografie Lady Gaga”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  127. ^ a ă “Discography Lady GaGa”. irish-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  128. ^ Shipley, Al (10 tháng 6 năm 2011). “Radio Hits One: The Elusive Superstar Duet (Or Three-Way)”. The Village Voice. Village Voice Media. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  129. ^ a ă “Lady Gaga – Chart History: French singles top 100”. chartsinfrance.net. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  130. ^ “Lady Gaga – Chart History: Japan Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  131. ^ Rhapsody (4 tháng 11 năm 2008). “Vanity: Lady GaGa”. Rhapsody. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  132. ^ “Winter Wonderland – Single by Tony Bennett & Lady Gaga”. iTunes Store. 9 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  133. ^ a ă “NZ Heatseekers Singles Chart”. Recorded Music NZ. 31 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  134. ^ Wicks, Amanda (30 tháng 3 năm 2018). “Listen to Lady Gaga's New Cover of Elton John's "Your Song". Pitchfork. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  135. ^ Nguồn tham khảo nói về vị trí xếp hạng cao nhất của các bài hát khác được xếp hạng tại L.H. Anh:
    • Áp dụng cho tất cả ngoại trừ: “Lady Gaga”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
    • "Starstruck": “The Official UK Singles Chart for the week ending April 11, 2009”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (398): 3. 
    • "Teeth": “The Official UK Singles Chart for the week ending December 5, 2009”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (432): 3. 
    • "Scheiße", "Marry the Night", "Black Jesus + Amen Fashion", "Fashion of His Love" và "The Queen": “The Official UK Singles Chart for the week ending June 1, 2011”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd). 
    • "Angel Down", "Diamond Heart", "John Wayne" và "Dancin' in Circles": Jones, Alan (28 tháng 10 năm 2016). “Official Charts Analysis: Elvis tops the albums chart again”. Music Week. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  136. ^ Anitai, Tamar (17 tháng 11 năm 2009). “Video Premire: Beyonce, Featuring Lady Gaga, 'Video Phone (Extended Remix)'. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  137. ^ Montgomery, James (31 tháng 1 năm 2010). “Lady Gaga Teams With Elton John To Open The Grammys”. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  138. ^ Strecker, Erin (28 tháng 11 năm 2014). “Flashback Friday: Lady Gaga Sings 'White Christmas' During Thanksgiving Special”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  139. ^ “Lady Gaga's cover of 'White Christmas' emerges online – audio”. NME. 23 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  140. ^ a ă “Veckolista Heatseeker – Vecka 45, 9 november 2018”. Sverigetopplistan. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  141. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019. 
  142. ^ Bowenbank, Starr (14 tháng 2 năm 2019). “Lady Gaga Just Got a Giant Tattoo Inspired By 'A Star Is a Born'. Elle. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 

Liên kết ngoài