The Fame

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
The Fame
Album phòng thu của Lady Gaga
Phát hành 19 tháng 8 năm 2008
Thu âm Tháng 1-tháng 5 năm 2008; Record Plant, Chalice Recording Studios, 150 Studios, Cherrytree Recording Studios, 333 Studios, Poe Boy Studios
Thể loại Pop, nhạc điện tử, dance
Thời lượng 50:42 (Phiên bản bình thường tại Hoa Kỳ)
Hãng đĩa Interscope, Streamline, Kon Live, Cherrytree
Sản xuất Brian & Josh, Rob Fusari, Martin Kierszenbaum, Lady Gaga, RedOne, Space Cowboy
Thứ tự album của Lady Gaga
The Fame
(2008)
The Cherrytree Sessions
(2009)
Đĩa đơn từ The Fame
  1. "Just Dance"
    Phát hành: 8 tháng 4, 2008 (2008-04-08)
  2. "Poker Face"
    Phát hành: 23 tháng 9, 2008 (2008-09-23)
  3. "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)"
    Phát hành: 31 tháng 1, 2009 (2009-01-31)
  4. "LoveGame"
    Phát hành: 24 tháng 3, 2009 (2009-03-24)
  5. "Paparazzi"
    Phát hành: 6 tháng 7, 2009 (2009-07-06)

The Fame (tạm dịch: Danh tiếng) là album đầu tay của nữ ca sĩ người Mỹ Lady Gaga. Nó được phát hành vào ngày 19 tháng 8 năm 2008 bởi hãng ghi âm Interscope. Sau khi viết bài hát cho một số nghệ sĩ khác, Gaga mới phát hành album này. Chủ đề chính của các ca khúc đều hướng về cách mọi người có thể cảm thấy mình trở thành một người nổi tiếng như thế nào. Lady Gaga đã làm việc với nhiều nhà sản xuất trong album, nhưng nhà sản xuất chính là RedOne, Martin Kierszenbaum và Rob Fusari. Những ca khúc trong The Fame phần lớn được lấy cảm hứng từ những mối tình của Lady Gaga, những lối sống giàu có phức tạp trong cuộc sống với những hình tượng nghệ sĩ đi trước mà cô hâm mộ.

Album đã nhận được phần lớn những đánh giá tích cực, nhiều nhà phê bình khen Gaga có khả năng nhận biết thanh nhạc tuyệt vời với những sáng tác giai điệu trong ca khúc rất độc đáo. Album giành vị trí quán quân tại các nước như Anh, Canada, Áo, Đức, Thụy Sĩ, Ireland,... Tại Hoa Kỳ, The Fame đạt vị trí số 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Top Electronic Albums. Trên toàn thế giới, album đã bán được hơn 19 triệu bản.

Hai đĩa đơn đầu tiên trích từ album The Fame: "Just Dance" và "Poker Face" đã đạt được thành công vang dội với "Just Dance" đứng đầu bảng xếp hạng tại hơn sáu quốc gia, trong đó có Billboard Hot 100Hoa Kỳ. "Poker Face" cũng giành được nhiều thành công tại hầu hết các thị trường âm nhạc lớn, ca khúc trở thành đĩa đơn HIT thứ 2 liên tiếp của Lady Gaga trên toàn thế giới. Sau đó cô phát hành tiếp 3 đĩa đơn khác là "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)", "LoveGame", và "Paparazzi". Gaga quảng bá album bằng cách trình diễn các bài hát trong một số chương trình truyền hình, các show diễn và cả chuyến lưu diễn đầu tiên của cô mang tên The Fame Ball Tour. The Fame còn là một album làm nên lịch sử khi có mặt trên bảng xếp hạng Billboard 200 tại Hoa Kỳ, UK Singles Chart tại Liên Hiệp Anh, ÚcCanada trong vòng 3 năm liền kể từ năm 2008-2010.[1]. Vào ngày 2 tháng 12 năm 2009, The Fame được đề cử sáu giải Grammy và giành giải ở hạng mục album nhạc điện tử xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy lần thứ 52 còn đĩa đơn "Poker Face" giành giải ở hạng mục Thu âm nhạc Dance Xuất sắc nhất. Đến năm 2010, album tiếp tục giành giải Album Quốc tế xuất sắc nhất tại lễ trao giải BRIT Awards 2010.[2]

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

The Fame là một album nhạc điện tử mang âm hưởng của thể loại dance thập niên 70 với nhiều ca khúc có tiết tấu sôi động. Phần lớn các ca khúc trong album đều là những sáng tác hoặc đồng sáng tác của GaGa với hai nhà sản xuất nhạc: "RedOne" và "Martin Kierszenbaum".

Ca khúc "The Fame" đã được chọn làm nhạc hiệu mở màn cho mùa thi thứ mười hai của chương trình truyền hình thực tế America's Next Top Model. Tiếp đến, ca khúc "Poker Face" liên tục được chọn trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình danh tiếng khác như: American Idol, So You Think You Can Dance, The Ellen DeGeneres Show, Jimmy Kimmel Live!... Đến năm 2008, Lady Gaga đến Việt Nam để trình diễn bài hát "Just Dance" trong phần thi trang phục áo tắm của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ lần thứ 57. Giám đốc biên tập của Billboard phát biểu về Gaga: "Lady Gaga là một trong những ví dụ hiếm thấy về một nghệ sĩ độc đáo với sức hút vô cùng lớn. Cô ấy đã và đang chứng minh mình là một trong những nhạc sĩ xuất sắc nhất bây giờ, và cả thế giới thì luôn chờ đợi để xem động thái sắp tới của cô ấy sẽ là gì."

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

 Đánh giá chuyên môn
Điểm nhận xét
Nguồn Đánh giá
Allmusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[3]
BBC Online (Tích cực)[4]
The Boston Globe (Tích cực)[5]
Entertainment Weekly (B−)[6]
The Guardian 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[7]
The Phoenix 3/4 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[8]
PopMatters (7/10)[9]
Slant Magazine 2.5/5 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svgStar empty.svg[10]
URB 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg
Washington Post (Tiêu cực)[11]

Album nhận được sự phản hồi tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc. Alexis Petridis của The Guardian khen ngợi Gaga vì album có giai điệu rất dễ nghe, hay và tạo được sự lôi cuốn. Theo anh "The Fame gồm những giai điệu rất hấp dẫn hay những nhịp điệu khiến ta không thể nào chạy thoát nổi, hầu như mọi âm thanh đều giống như những đĩa đơn ăn khách... Âm nhạc của The Fame khẳng định chắc chắn rằng nó có thể thành công."[7]

Diễn biến trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ, The Fame ra mắt tại vị trí thứ 17 trên bảng xếp hạng Billboard 200 với doanh số bán hàng trong tuần đầu tiên là 24.000 bản vào ngày 15 tháng 11 năm 2008 [12][13]. Sau khi có sự thay đổi vị trí xếp hạng, album leo lên đến hạng 10 vào ngày tháng 7 năm 2009 [14] và dừng lại tại vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng [15]. Đồng thời điểm ấy, The Fame cũng đứng đầu bảng xếp hạng Billboard's Dance/Electronic Albums hơn 75 tuần không liên tiếp, lập kỷ lục thế giới [16]. Đến tháng 3 năm 2010, album được chứng nhận ba lần đĩa bạch kim (một đĩa bạch kim tương ứng với 1 triệu bản) do Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) chứng nhận [17]. Đến nay, The Fame đã tiêu thụ được hơn 3.723.000 bản tại Hoa Kỳ và là album download kỹ thuật số bán chạy nhất trên mạng [18][19]. Với việc phát hành phiên bản EP của The Fame mang tên The Fame Monster, nó đã giúp cho The Fame nhảy từ hạng 34 lên đến vị trí thứ 6 trên Billboard 200 với doanh số bán hàng vào thời điểm đó là 151.000 bản [20] Vào ngày 16 tháng 1 năm 2010, The Fame di chuyển đến vị trí cao nhất trên Billboard 200 tại vị trí thứ 2 sau khi trụ vững trên bảng xếp hạng trong thời gian 62 tuần [21].

Tại Canada, album giành vị trí quán quân và được chứng nhận ba lần đĩa bạch kim do Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Canada (CRIA) trao tặng cho việc The Fame tiêu thụ được 390.000 bản [22][23][24]. Ở New Zealand, album đứng vị trí thứ 6 ngay trong tuần đầu phát hành [25] và leo lên đến vị trí số 2 cũng như được chứng nhận đĩa bạch kim đôi [26]. Tại Úc, album ra mắt tại vị trí số 12 [27] và leo lên đến vị trí cao nhất của bảng xếp hạng tại ngôi vị thứ 3 [28]. The Fame đồng thời cũng được chứng nhận ba lần đĩa bạch kim tại Australia do Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc (ARIA) công nhận [29]. Tại Liên Hiệp Anh, The Fame lọt vào bảng xếp hạng UK Albums Chart ở vị trí thứ ba [30]. Sau 10 tuần nằm trong tốp 10, album đã đánh bật Songs for My Mother của nghệ sĩ Ronan Keating để giành vị trí đầu bảng [31]. Cũng từ đó, The Fame đã trải qua bốn tuần liên tiếp giành vị trí số một tại Anh [32]. Album được chứng nhận bốn lần đĩa bạch kim do Ngành Công nghiệp ghi âm Anh (BPI) trao tặng [33]. Bao gồm cả doanh số bán hàng của phiên bản The Monster Fame Deluxe Edition, album đã tiêu thụ được khoảng 1.647.000 bản tại Anh vào ngày 5 tháng 3 năm 2010 [34]. Ở Ireland, album lọt vào bảng xếp hạng ở vị trí thứ 8 [35] và đến tuần thứ năm, The Fame đã leo lên giành vị trí quán quân trong 2 tuần liên tiếp [36]. Ở lục địa Châu Âu, album đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng European Top 100 Albums [37], "Austrian Albums Chart" và "German Album Chart" [38][39]. The Fame cũng nằm trong tốp 20 ở Bỉ, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Hungary, Ý, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, NgaThụy Sĩ [40]. Toàn thế giới, album đã tiêu thụ được 19 triệu bản.[41]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

"Just Dance" được chọn làm đĩa đơn chính thức đầu tiên của album và phát hành trên toàn thế giới vào ngày 17 tháng 6 năm 2008 thông qua việc phân phối tải kỹ thuật số trên mạng [42]. Bài hát được giới phê bình đánh giá cao với nhiều nhận xét khen ngợi lời nhạc có sử dụng kiểu tượng hình một chữ với việc kết hợp độc đáo loại nhạc cụ Synthesizer tạo hiệu ứng âm thanh [3][11]. Ca khúc đạt được sự thành công thương mại trên nhiều thị trường âm nhạc lớn, đứng đầu bảng xếp hạng ở Hoa Kỳ, Australia, Canada, Cộng hoà Ireland, Hà LanAnh Quốc cũng như nằm trong tốp-ten tại nhiều quốc gia khác [43][44][45][46][47]. Just Dance nhận được một đề cử giải Grammy ở hạng mục Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất nhưng lại để vuột mất và giải thưởng được trao cho nhóm nhạc điện tử Daft Punk với đĩa đơn Harder, Better, Faster, Stronger [48]. Vài tuần sau, Lady Gaga tiếp tục phát hành đĩa đơn thứ hai mang tên "Poker Face", bài hát cũng được đón nhận nhiệt tình bởi các nhà phê bình, hầu hết trong số họ đánh giá cao việc tạo hình gương mặt của Gaga trong video với phần lời điệp khúc có sử dụng điệp từ một chữ nhằm tăng sức biểu cảm cho ca khúc [49]. Poker Face đạt được nhiều thành công hơn Just Dancebài hát đứng đầu bảng xếp hạng ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới [50]. Ca khúc trở thành đĩa đơn thứ hai liên tiếp của Lady Gaga giành vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 danh giá [51][52]. Đến ngày 2 tháng 12 năm 2009, Poker Face nhận được ba đề cử Grammy với hạng mục Bài hát của năm, Thu âm của năm và dành giải ở hạng mục Thu âm nhạc Dance xuất sắc nhất [53].

"Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)" được chọn làm đĩa đơn thứ ba của album tại Úc, New Zealand, Thụy Điển, Đan Mạch và là đĩa đơn thứ tư tại Pháp. Tuy nhiên, bài hát lại bị nhận nhiều đánh giá tiêu cực. Một số nhà phê bình so sánh nó với thể loại nhạc Europop đã lỗi thời ở thập niên 70, trong khi những người khác lại chỉ trích nó mang tính chất chậm rãi, từ tốn, không giống như loại nhạc sôi động như hai đĩa đơn đầu [9]. Bài hát thật sự không phù hợp nằm trong album, tại ÚcNew Zealand, ca khúc chỉ giành được vị trí thứ 15 và thứ 9. Eh, Eh đạt được vị trí thứ hai ở Thụy Điển và vị trí thứ bảy tại Pháp [54]. Tiếp theo đó, "LoveGame" được phát hành lên thị trường thế giới, trở thành đĩa đơn thứ ba tại Hoa Kỳ, Canada và một số quốc gia Châu Âu. Đồng thời bài hátđĩa đơn thứ tư tại Úc, New Zealand, và Anh Quốc. Ca khúc được giới phê bình đánh giá cao bởi giai điệu của LoveGame rất dễ nhớ, hay, tạo được sự lôi cuốn và nhất là đoạn điệp khúc mang tên "I wanna take a ride on your disco stick" (Em muốn cưỡi trên cây gậy của anh) [4]. Bài hát lọt vào vị trí tốp-ten ở những quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Canada và nằm trong tốp 20 ở những quốc gia khác [55][56]. "Paparazzi" sau đó trở thành đĩa đơn thứ ba ở Vương quốc Anh, Ireland được phát hành vào ngày 6 tháng 7 năm 2009 và là đĩa đơn thứ tư tại Hoa Kỳ [57]. Ca khúc nằm trong tốp năm tại Úc, Canada, IrelandVương quốc Anh [58]. Paparazzi cũng lọt vào vị trí tốp-ten tại Hoa Kỳ. Bài hát được đánh giá cao bởi phần lời nhạc rất có ý nghĩa, đồng thời Paparazzi cũng được coi là ca khúc đáng nhớ nhất trong album [59]. Video Paparazzi được quay như một bộ phim mini với vai diễn của Gaga là một ngôi sao nổi tiếng, nhưng cô lại là người không may mắn trong chuyện tình yêu bởi cô bị lừa và bị giết bởi chính người bạn trai, nhưng cuối cùng Gaga đã trả thù và đòi lại sự công bằng cho chính mình [60].

The Fame Monster[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: The Fame Monster

Ban đầu The Fame Monster dự định là một phiên bản tái phát hành lại của The Fame với tám bản nhạc được bổ sung. Tuy nhiên, sau đó Lady Gaga và hãng thu âm của cô thông báo rằng The Fame Monster sẽ là một EP chứa tám ca khúc mới. Phiên bản cao cấp của album có thêm một đĩa The Fame nằm trong đĩa The Fame Monster [61]. Album chủ yếu tập trung nói về mặt tối của sự nổi tiếng bằng kinh nghiệm của Gaga trong suốt hai năm 2008-2009 cô đi lưu diễn trên toàn thế giới, thể hiện thông qua phép ẩn dụ là một con quái vật. Nhưng sự cảm nhận này của Lady Gaga so với album đầu tay The Fame lại trái ngược hoàn toàn. Bìa ảnh nghệ thuật của The Fame Monster được thực hiện bởi nhíp ảnh gia người Pháp Hedi Slimane với một cái nhìn Gothic về nó, cũng chính vì thế mà Gaga đã phải thuyết phục công ty thu âm cho phép cô thực hiện điều này. Quá trình tạo bìa ảnh album được lấy cảm hứng từ xu hướng âm nhạc Gothic với lối trình diễn thời trang [62]. Nhiều nhà phê bình đương đại đã đưa ra những đánh giá tích cực cho album, với phần lớn trong số họ khen ngợi những ca khúc xuất sắc như "Bad Romance", "Telephone" và "Dance in the Dark" [63]. Ở một số quốc gia, EP kết hợp cùng với The Fame để xếp hạng, trong khi ở những nước khác như Hoa Kỳ, CanadaNhật Bản. Album đã lọt được vào tốp 10 ở hầu hết các thị trường âm nhạc lớn và giành vị trí quán quân ở các quốc gia như Úc, Áo, Đức, New Zealand, Anh Quốc, Thụy Sĩ... Đồng thời Lady Gaga cũng thông báo rằng chuyến lưu diễn The Monster Ball Tour sẽ hỗ trợ cho cô quảng bá album này, bắt đầu từ ngày 27 tháng 11 năm 2009 [64] và sẽ tiếp tục biểu diễn cho đến hết mùa xuân năm 2011.

  • Chú ý: Gothic là một trường phái nghệ thuật không thật phổ biến nhưng cũng không quá xa lạ đối với chúng ta và đang trên đà phát triển, nó dựa trên cái đẹp, sự lãng mạn, có sự u ám, có nỗi buồn não nề và có thể có cả cái chết… nhưng tất cả đều phải dựa trên nguyên lý sắc đẹp. Nỗi đau trong Gothic không phải là nỗi đau tuyệt vọng, đó chỉ như một vết cắt vào tâm hồn, sau nỗi buồn đó con người vẫn hướng đến phía trước, với sự trân trọng, biết yêu quý cuộc sống hơn thông qua nỗi đau đã trải qua. Gothic khiến ta hiểu rằng, nỗi đau khiến ta thêm yêu những gì mình đang có, và khao khát hơn để vươn tới những điều tốt đẹp trong cuộc đời.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản gốc
STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Just Dance" (hợp tác với Colby O'Donis) Lady Gaga, RedOne, Aliaune Thiam RedOne 4:02
2. "LoveGame"   Lady Gaga, RedOne RedOne 3:31
3. "Paparazzi"   Lady Gaga, Rob Fusari Fusari 3:28
4. "Beautiful, Dirty, Rich"   Lady Gaga, Fusari Fusari 2:52
5. "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)"   Lady Gaga, Martin Kierszenbaum Kierszenbaum 2:55
6. "Poker Face"   Lady Gaga, RedOne RedOne 3:57
7. "The Fame"   Lady Gaga, Kierszenbaum Kierszenbaum 3:42
8. "Money Honey"   Lady Gaga, RedOne, Bilal Hajji RedOne 3:06
9. "Again Again"   Lady Gaga, Fusari Fusari 3:05
10. "Boys Boys Boys"   Lady Gaga, RedOne RedOne 3:21
11. "Brown Eyes"   Lady Gaga, Fusari Fusari 4:03
12. "Summerboy"   Lady Gaga, Brian Kierulf, Josh Schwartz Brian & Josh 4:14

Phiên bản này có danh sách bài hát khác. Trong phiên bản Hoa Kỳ bìa cũng có thay đổi về màu sắc, và chữ ở bìa trước có màu đỏ. Các bài "LoveGame", "Paparazzi", "Boys Boys Boys" và "Money Honey" đã được phối lại nhưng không thay đổi đáng kể. Bài hát "Again Again" đã bị loại bỏ, trong khi "Starstruck", "Paper Gangsta" và "I Like It Rough" đã được thêm vào.

Phát hành năm 2009, phiên bản tại Anh và Ireland chứa tất cả những bài hát từ phiên bản sửa lại và phiên bản gốc: Nó chứa cả ba bài hát được thêm ở phiên bản sửa lại, cộng với cả "Again Again" đã bị loại ở phiên bản sửa lại, cũng như "Disco Heaven". Thứ tự các bài hát cũng đặc biệt và khác so với tất cả những phiên bản khác

Bảng xếp hạng và doanh số chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự chức vụ
Tiền nhiệm:
Kala của M.I.A.
Slumdog Millionaire của A. R. Rahman
Slumdog Millionaire của A. R. Rahman
Sounds of the Universe của Depeche Mode
Ellipse của Imogen Heap
Ocean Eyes của Owl City
The Fame Monster của Lady Gaga
This Is Happening của LCD
Streets of Gold của 3OH!3
Maya của M.I.A.
The Remix của Lady Gaga
Album quán quân Billboard Dance/Electronic (Mỹ)
Ngày 15 tháng 11 năm 2008 – Ngày 17 tháng 1 năm 2009 (Lần 1)
Ngày 14 tháng 2 năm 2009 – Ngày 7 tháng 3 năm 2009 (Lần 2)
Ngày 21 tháng 3 năm 2009 – Ngày 2 tháng 5 năm 2009 (Lần 3)
Ngày 16 tháng 5 năm 2009 – Ngày 5 tháng 9 năm 2009 (Lần 4)
Ngày 19 tháng 9 năm 2009 – Ngày 31 tháng 10 năm 2009 (Lần 5)
Ngày 5 tháng 12 năm 2009 (Lần 6)
Ngày 19 tháng 12 năm 2009 – Ngày 29 tháng 5 năm 2010 (Lần 7)
Ngày 12 tháng 6 năm 2010 – Ngày 10 tháng 7 năm 2010 (Lần 8)
Ngày 24 tháng 7 năm 2010 (Lần 9)
Ngày 7 tháng 8 năm 2010 – Ngày 21 tháng 8 năm 2010 (Lần 10)
Ngày 28 tháng 8 năm 2010 (Lần 11)
Kế nhiệm:
Slumdog Millionaire của A. R. Rahman
Slumdog Millionaire của A. R. Rahman
Sounds of the Universe của Depeche Mode
Ellipse của Imogen Heap
Ocean Eyes của Owl City
The Fame Monster của Lady Gaga
This Is Happening của LCD Soundsystem
Streets of Gold của 3OH!3
Maya của M.I.A.
The Remix của Lady Gaga
Incumbent
Tiền nhiệm:
Dark Horse của Nickelback
Album quán quân Canadian Albums Chart
Ngày 24 tháng 1 năm 2009 – Ngày 31 tháng 1 năm 2009
Kế nhiệm:
Dark Horse của Nickelback
Tiền nhiệm:
Working on a Dream của Bruce Springsteen
No Line on the Horizon của U2
Songs for My Mother của Ronan Keating
Eoghan Quigg của Eoghan Quigg
Sunny Side Up của Paolo Nutini
Album quán quân Irish Albums Chart
Ngày 12 tháng 2 năm 2009 – Ngày 19 tháng 2 năm 2009 (Lần 1)
Ngày 20 tháng 3 năm 2009 (Lần 2)
Ngày 2 tháng 4 năm 2009 (Lần 3)
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 (Lần 4)
Ngày 21 tháng 1 năm 2010 – Ngày 11 tháng 2 năm 2010 (Lần 5)
Kế nhiệm:
Blue Lights on the Runway của Bell X1
Songs for My Mother của Ronan Keating
Eoghan Quigg của Eoghan Quigg
Listen của Christy Moore
Crazy Love của Michael Bublé
Tiền nhiệm:
No Line on the Horizon của U2
Album quán quân Austrian Albums Chart
Ngày 25 tháng 3 năm 2009
Kế nhiệm:
Nichts Passiert của Silbermond
Tiền nhiệm:
Songs for My Mother của Ronan Keating
Glee: The Music, Volume 1 của Glee Cast
Brother của Boyzone
Brother của Boyzone
Album quán quân UK Albums Chart
Ngày 5 tháng 4 năm 2009 – Ngày 26 thang 4, 2009 (Lần 1)
Ngày 28 tháng 2 năm 2010 (Lần 2)
Ngày 21 tháng 3 năm 2010 (Lần 3)
Ngày 11 tháng 4 năm 2010 (Lần 4)
Kế nhiệm:
Together Through Life của Bob Dylan
Lights của Ellie Goulding
Brother của Boyzone
The Defamation of Strickland Banks của Plan B
Tiền nhiệm:
No Line on the Horizon của U2
I Dreamed a Dream của Susan Boyle
A Curious Thing của Amy Macdonald
Album quán quân European Top 100 Albums
Ngày 2 tháng 5 năm 2009
Ngày 16 tháng 1 năm 2010 – Ngày 20 tháng 2 năm 2010
Ngày 24 tháng 4 năm 2010 – Ngày 1 tháng 5 năm 2010
Kế nhiệm:
Sounds of the Universe của Depeche Mode
Soldier of Love của Sade
Iron Man 2 của AC/DC
Tiền nhiệm:
Reality Killed the Video Star của Robbie Williams
Album quán quân German Albums Chart
Ngày 8 tháng 1 năm 2010 – Ngày 29 tháng 1 năm 2010
Kế nhiệm:
Schall & Wahn của Tocotronic
Tiền nhiệm:
The Element of Freedom của Alicia Keys
Album quán quân Swiss Albums Chart
Ngày 10 tháng 1 năm 2010 – Ngày 14 tháng 2 năm 2010
Kế nhiệm:
Soldier of Love của Sade
Tiền nhiệm:
Szanuj của Star Guard Muffin
Album quán quân Polish Albums chart
Ngày 17 tháng 1 năm 2011 – Ngày 23 tháng 1 năm 2011
Kế nhiệm:
Picking up the Pieces của Aga Zaryan

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng Nhãn hiệu
Canada 19 tháng 8, 2008[132] CD, LP, digital download Universal Music
Australia 5 tháng 9, 2008[133] CD, tải nhạc số (standard edition)
28 tháng 10, 2008[134] CD, tải nhạc số (international version)
Hoa Kỳ 28 tháng 10, 2008 CD, LP, digital download Streamline, Kon Live, Interscope, Cherrytree
Ý 31 tháng 10, 2008[135] CD, tải nhạc số (standard edition) Universal Music
30 tháng 1, 2009[136] CD, tải nhạc số (international version)
Đức 2 tháng 12, 2008[137] CD, tải nhạc số
Vương Quốc Anh 12 tháng 1, 2009[138][139] CD, tải nhạc số Polydor
Tây Ban Nha 24 tháng 2, 2009[140] Universal Music
Brasil 31 tháng 3, 2009[141] CD
Trung Quốc 4 tháng 5, 2009[142]
Nhật Bản 20 tháng 5, 2009[143]
22 tháng 7, 2009[144][145][146] CD, DVD

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Fame on charts”. 2010-28-8. Truy cập 2010-28-8.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ Young, Ian (17 tháng 2 năm 2010). “The real Brits Awards winners and losers”. BBC (BBC Online). Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2010. 
  3. ^ a ă Chisling, Matthew (18 tháng 9 năm 2008). “allmusic (The Fame > Overview)”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ a ă Kraines, Talia (9 tháng 1 năm 2009). “Lady GaGa The Fame Review”. BBC (BBC Online). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009. 
  5. ^ Rodman, Sarah (12 tháng 10 năm 2008). “Lady Gaga: The Fame”. The Boston Globe (The New York Times Company). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009. 
  6. ^ Wood, Mikael (22 tháng 10 năm 2008). “The Fame – Music Review”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2010. 
  7. ^ a ă Petridis, Alexis (9 tháng 1 năm 2009). “Lady Gaga: The Fame”. The Guardian. Guardian News and Media. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  8. ^ Brockman, Daniel (22 tháng 10 năm 2008). “Lady Gaga – The Fame”. The Phoenix (Phoenix Media/Communications Group). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009. 
  9. ^ a ă Sawdey, Evan (12 tháng 1 năm 2009). “Lady GaGa The Fame”. PopMatters. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009. 
  10. ^ Cinquemani, Sal (25 tháng 10 năm 2008). “Lady Gaga: The Fame”. Slant Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  11. ^ a ă du Lac, Freedom (18 tháng 10 năm 2008). 'Fame' Isn't Worth Getting GaGa Over”. The Washington Post. The Washington Post Company. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “washington” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  12. ^ “The Billboard 200: Week Ending ngày 15 tháng 11 năm 2008”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 15 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ Kauffman, Gil (29 tháng 1 năm 2010). “Lady Gaga Took A Fast Track To Fame And The Grammys”. MTV (MTV Networks). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  14. ^ Hasty, Katie (15 tháng 2 năm 2009). “Taylor Swift Remains Atop Billboard 200”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  15. ^ Hasty, Katie (11 tháng 3 năm 2009). “U2 Scores Seventh No. 1 On Billboard 200”. Billboard (Nielsen Business Media Inc.). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009. 
  16. ^ “Ask Billboard: Katy Perry, Christina Aguilera and more”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 27 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ “Lady Gaga – The Fame – RIAA certification”. Recording Industry Association of America. 3 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ Grein, Paul (7 tháng 7 năm 2010). “Week Ending ngày 4 tháng 7 năm 2010: Miley's Tricky Transition”. Yahoo!. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010. 
  19. ^ Grein, Paul (2 tháng 9 năm 2010). “Week Ending Aug. 29, 2010: Life's Ups & Downs”. Yahoo!. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  20. ^ Grein, Paul (2 tháng 12 năm 2009). “Week Ending Nov. 29, 2009: Women Take Charge”. Yahoo!. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  21. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Susan Boyle Extends Run Atop Billboard 200”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  22. ^ a ă Williams, John (ngày 14 tháng 1 năm 2009). “Lady GaGa's 'Fame' rises to No. 1”. Jam! (Canadian Online Explorer). Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009. 
  23. ^ a ă “CRIA – Gold & Platinum certifications – June 2009”. Canadian Recording Industry Association. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2009. 
  24. ^ Reporter, Nielsen (4 tháng 2 năm 2010). “The Nielsen Company and Billboard’s 2009 Canadian Industry Report”. Business Wire. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ “New Zealand Albums Top 40”. Recording Industry Association of New Zealand. acharts.us. 6 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  26. ^ “New Zealand Top 40 Albums (Chart #1668)” (PDF). Recording Industry Association of New Zealand. RIANZ.org.nz. 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2009. 
  27. ^ “Australia Albums Top 50”. Australian Recording Industry Association. acharts.us. 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  28. ^ “Australia Albums Top 50”. Australian Recording Industry Association. acharts.us. 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  29. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009. 
  30. ^ “UK Albums Chart”. The Official Charts Company. acharts.us. 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  31. ^ “UK Albums Chart”. The Official Charts Company. acharts.us. 5 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  32. ^ “UK Albums Chart”. The Official Charts Company. acharts.us. 3 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  33. ^ a ă “Lady Gaga Certifications”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  34. ^ Sexton, Paul (5 tháng 3 năm 2010). “Sade, Ke$ha Rule Euro Charts”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  35. ^ “Irish Albums Chart”. Irish Recorded Music Association. acharts.us. 15 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  36. ^ “Irish Albums Chart”. Irish Recorded Music Association. aCharts.us. 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  37. ^ a ă Sexton, Paul (23 tháng 4 năm 2009). “Lady GaGa Scores Euro Chart Double”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  38. ^ “Austrian Albums Chart”. International Federation of the Phonographic Industry. aCharts.us. 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  39. ^ a ă Reporter, MC (5 tháng 1 năm 2010). “Lady Gaga an der Spitze der Album-Charts”. Media Control Charts (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010. 
  40. ^ a ă â b c “Lady Gaga – The Fame (Album)”. Ultratop (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “hung” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  41. ^ “Lady Gaga Opens Up”. CBS News. CBS Interactive Inc. 3 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2010. 
  42. ^ “iTunes release of Just Dance”. iTunes. 17 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  43. ^ Cohen, Jonathan (8 tháng 1 năm 2009). “Lady GaGa Dances To The Top Of Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media Inc.). Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2009. 
  44. ^ “Australian ARIA Singles Chart”. Australian Recording Industry Association. aCharts.us. 15 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  45. ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. aCharts.us. 23 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  46. ^ “UK Singles Chart”. The Official Charts Company. 11 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  47. ^ “Lady Gaga – Just Dance on world charts”. aCharts.us. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  48. ^ Harris, Chris (4 tháng 12 năm 2008). “Lil Wayne, Coldplay Lead Grammy Nominations”. MTV (MTV Networks). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  49. ^ Williams, Chris (tháng 10 năm 2010). “Single Reviews: Poker Face”. Billboard. Nielsen Business Media Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |bot= (trợ giúp)
  50. ^ Pietroluongo, Silvio (1 tháng 4 năm 2009). “Lady GaGa Draws A Pair Of No. 1s”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2009. 
  51. ^ Ben-Yehuda, Ayala; Pietroluongo, Silvio (2 tháng 4 năm 2009). “Lady GaGa Scores Hot 100 Milestone With 'Poker Face'. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2009. 
  52. ^ “Lady Gaga – Poker Face on world charts”. aCharts.us. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  53. ^ “52nd Grammy Awards Nominations”. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  54. ^ “Lady Gaga – "Eh, Eh (Nothing Else I Can Say)" on world charts”. aCharts.us. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  55. ^ Ben-Yehuda, Ayala; Pietroluongo, Silvio (4 tháng 6 năm 2009). “Lady GaGa Takes Two Top 10 Spots On Billboard's Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). 
  56. ^ “Lady Gaga – LoveGame on world charts”. aCharts.us. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  57. ^ Sexton, Paul (28 tháng 5 năm 2009). “Green Day Rises To European Chart Summit”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2009. 
  58. ^ “Lady Gaga – "Paparazzi" on world charts”. aCharts.us. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009. 
  59. ^ Hobart, Erika (31 tháng 3 năm 2009). “Some Like It Pop”. New Times Broward-Palm Beach (Village Voice Media). Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009. 
  60. ^ Kaufman, Gil (29 tháng 5 năm 2009). “Lady Gaga Angry That Epic 'Paparazzi' Video Leaked”. MTV (MTV Networks). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  61. ^ Vena, Jocelyn (12 tháng 11 năm 2009). “Lady Gaga Is 'Honoring' Fans With Cheaper Fame Monster”. MTV (MTV Networks). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009. 
  62. ^ Release, Press (8 tháng 10 năm 2009). “Lady Gaga Returns With 8 New Songs on 'The Fame Monster'. Yahoo! Finance (Yahoo!). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2009. 
  63. ^ Price, Simon (22 tháng 11 năm 2009). “Album: Lady Gaga, The Fame Monster (Polydor)”. The Independent (Independent News & Media). Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2009. 
  64. ^ Herrera, Monica (15 tháng 10 năm 2009). “Lady Gaga Announces 'The Monster Ball'. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  65. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Lady GaGa – The Fame – Music Charts”. αCharts.us. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  66. ^ “CD – TOP 20 Semanal”. Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 11 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  67. ^ “TOP50 Prodejní”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Séc). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009. 
  68. ^ a ă “France Album Top 200”. Syndicat National de l'Édition Phonographique (Lescharts.com). 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  69. ^ “Top 50 Ξένων Aλμπουμ”. IFPI Greece (bằng tiếng Greek). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2010. 
  70. ^ “Hungarian Albums Chart”. Mahasz (bằng tiếng Hungary). Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010. 
  71. ^ “Classifica settimanale dal ngày 14 tháng 9 năm 2009 al ngày 20 tháng 9 năm 2009”. Federation of the Italian Music Industry (bằng tiếng Ý). Fimi.it. 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2009. 
  72. ^ “Japanese Oricon Top 30 Albums”. Oricon (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  73. ^ “Oficjalna Lista Sprzedazy”. Polish Music Charts. 17 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  74. ^ “Российский чарт продаж: Depeche Mode” (bằng tiếng Nga). 2m-online.ru. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010. 
  75. ^ a ă “allmusic (The Fame > Charts & Awards > Billboard Albums)”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009. 
  76. ^ “IFPI Austria – Gold & Platin Datenbank”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  77. ^ “Gold and Platinum – Albums −2009”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop 50. 22 tháng 5 năm 2009. 
  78. ^ Gaga “Lady Gaga Certificados” (bằng tiếng Bồ Đào Nhae). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2009. 
  79. ^ http://www.hitlisterne.dk/lister.asp?w=42&y=2009&list=a40#
  80. ^ “European Certification”. International Federation of the Phonographic Industry. Tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2010. 
  81. ^ “Finnish Certification”. International Federation of the Phonographic Industry. 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  82. ^ “Diamond certifications Albums – Year 2010” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  83. ^ a ă “IFPI Middle East Awards – 2010”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  84. ^ “Top 75 Aλμπουμ – Werk 2010_44” (bằng tiếng Greek). IFPI Greece. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010. 
  85. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Lady Gaga)” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2011. 
  86. ^ “Hungarian Top 40 – Certification” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  87. ^ “Irish Multi-Platinum albums”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010. 
  88. ^ “Gfk – Certificano – Albums” (PDF) (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  89. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2010年8月” (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  90. ^ “Platinum + Gold disc certifications” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2011. 
  91. ^ “Latest Gold / Platinum Albums”. RIANZ. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2010. 
  92. ^ “Gold disc certifications” (bằng tiếng Na Uy). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010. 
  93. ^ “Polish Society of the Phonographic Industry – Platinum albums” (bằng tiếng Ba Lan). Związek Producentów Audio Video. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  94. ^ “AFP – Galardões 2010” (bằng tiếng Bồ Đào Nhae). Associação Fonográfica Portuguesa. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  95. ^ “Gold and Platinum Albums in Russia – 2008”. 2M (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009. 
  96. ^ “PROMUSICAE Top 100 Albumes – 34/2010” (PDF). Productores de Música de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010. 
  97. ^ “IFPI Sweden – Guld & Platina – År 2009” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Thụy Điển). 22 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2010. 
  98. ^ “Swiss Music Charts – The Fame”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Đức). Swiss Music Charts. 14 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010. 
  99. ^ “RIAA Certifications Search”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010. 
  100. ^ “ARIA Top 100 Albums 2009”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  101. ^ “Jahreshitparade 2009”. Hitradio Ö3 (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  102. ^ “Jaaroverzichten 2009”. Ultratop (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  103. ^ “Rapports annuels 2009”. Ultratop (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  104. ^ “Charts Year End: Canadian Albums Chart”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 11 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  105. ^ “Danish 2009 Year-end list”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2010. 
  106. ^ “Jaaroverzichten 2009”. MegaCharts (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  107. ^ “Charts Year End: European Top 100 Albums”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 11 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  108. ^ “Best selling physical albums in 2009 in France” (PDF). Syndicat National de l'Édition Phonographique. tr. 22. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 
  109. ^ “German Album Jahrescharts 2009”. MTV. MTV Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  110. ^ “Best selling albums in 2009 in Hungary”. Mahasz. Mahasz. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  111. ^ “Top 20 Albums”. Irish Recorded Music Association. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  112. ^ “Charts Year End: AMPROFON” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 21 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  113. ^ “2009 Annual Albums Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  114. ^ “Årslista Albums – År 2009”. Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  115. ^ “Swiss Year-End Charts 2009”. Media Control Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.  Đã bỏ qua văn bản “Media Control ” (trợ giúp)
  116. ^ a ă Sexton, Paul; Paine, Andre (4 tháng 1 năm 2010). “Susan Boyle Tops Lady Gaga In 2009 U.K. Sales Race”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “ukyearend” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  117. ^ “Charts Year End: The Billboard 200”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  118. ^ “Best of 2009: Top Dance/Electronic 200”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  119. ^ “Jahreshitparade 2010”. Hitradio Ö3 (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  120. ^ “Charts Year End 2010: Canadian Albums Chart”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 11 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  121. ^ “Charts Year End: European Top 100 Albums”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 22 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010. 
  122. ^ “VIVA Album Jahrescharts 2010 - 2010”. Viva. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2011. 
  123. ^ “Best selling albums in 2010 of Hungary”. Mahasz. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2011. 
  124. ^ “^ "アルバム 年間ランキング-ORICON STYLE ランキング". Oricon. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2010. 
  125. ^ “Charts Year End: AMPROFON” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011. 
  126. ^ “Swiss Year-End Charts 2010”. Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011. 
  127. ^ “Best of 2010: Top Billboard 200”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010. 
  128. ^ “Best of 2010: Top Dance/Electronic 200”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  129. ^ “ARIA Chart Sales – ARIA End of Decade Albums/Top 100” (PDF). Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  130. ^ “Bestenlisten – 00er Albums” (bằng tiếng Hà Lan). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  131. ^ “2000s Dance/Electronic Decade End Chart”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2011. 
  132. ^ “The FAME – Lady Gaga – Canada”. Amazon. Ngày 19 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2008. 
  133. ^ “The FAME – Lady Gaga – Australian release”. www.jbhifi.com.au. Ngày 5 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009. 
  134. ^ “The FAME – Lady Gaga – Australian international release”. www.jbhifi.com.au. Ngày 28 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009. 
  135. ^ “Italy Standard Edition release”. www.ibs.it. Ngày 31 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009. 
  136. ^ “Italy International Edition release”. www.ibs.it. Ngày 30 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009. 
  137. ^ “Lady Gaga – The Fame Germany”. Plattenladen. Ngày 2 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009. 
  138. ^ The Fame – UK iTunes release”. iTunes. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2009. 
  139. ^ The Fame – UK CD release”. HMV (UK). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2009. 
  140. ^ The Fame – Spain release”. Spanish 7Digital. Ngày 24 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009. 
  141. ^ “Lady Gaga: The Fame”. Saraiva.com.br. Ngày 31 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009. 
  142. ^ “Lady Gaga: The Fame”. Amazon.cn. Ngày 19 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2009. 
  143. ^ “The Fame – Lady Gaga”. Universal Music. Ngày 20 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009. 
  144. ^ “Fame(+DVD, Limited, Special Edition (Deluxe))”. HMV. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 
  145. ^ “Amazon.co.jp: The Fame-Deluxe Edition-(+DVD)”. Amazon.co.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 
  146. ^ “The Fame Deluxe Edition [w/ DVD, Limited Release]”. CDJapan.co.jp. Neowing. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]