Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất
Grammy Award.jpg
Chiếc cúp hình máy hát mạ vàng trao cho người chiến thắng giải thưởng Grammy
Trao cho Nghệ sĩ có phần trình diễn/thu âm nhạc dance (nhạc nhảy) xuất sắc nhất
Quốc gia  Hoa Kỳ
Được trao bởi Viện hàn lâm Nghệ thuật Thu âm Hoa Kỳ
Lần đầu tiên 1998
Lần gần nhất 2016
Trang chủ grammy.com

Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất (tiếng Anh: Grammy Award for Best Dance Recording) là một hạng mục trong giải Grammy (trước đây có tên là giải Gramophone) được Viện hàn lâm Nghệ thuật Thu âm Hoa Kỳ thành lập năm 1998 nhằm trao tặng cho những nghệ sĩ có thành tích xuất sắc nhất trong lĩnh vực nhạc dance.[1] Các đề cử được thông báo bởi Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật ghi âm quốc gia Hoa Kỳ nhằm "vinh danh những thành tích xuất sắc trong lĩnh vực âm nhạc mà không cần tiêu chí doanh số hay vị trí xếp hạng".[1]

Tác phẩm đầu tiên đoạt giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất là bài hát "Carry On" của Donna SummerGiorgio Moroder vào năm 1998. Năm 2003, Viện hàn lâm sáng lập ra một hạng mục mới dành cho album là Album nhạc điện tử/dance xuất sắc nhất.[2] Theo Viện hàn lâm, Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất được trao cho các ca khúc hát đơn, hát theo cặp, hát theo nhóm hoặc hát hợp tác (có thể là bằng giọng hát hoặc bằng nhạc cụ).[3] Những người nhận giải có thể là ca sĩ, nhà sản xuất thu âm, kĩ sư thu âm hoặc/và kĩ sư phối/hòa âm.

Justin Timberlake là nghệ sĩ duy nhất đoạt hai giải trong hai năm liên tiếp là 2007 và 2008. Madonna giữ số đề cử nhiều nhất với năm lần. Gloria Estefan có nhiều đề cử nhất (ba đề cử) nhưng chưa thắng giải nào. Từ lần trao giải đầu tiên vào năm 1998, số nghệ sĩ quốc tịch Hoa Kỳ đoạt giải là nhiều hơn cả. Ngoài ra còn có các nghệ sĩ có các quốc tịch khác là Ý, Bahamas, Úc, Liên hiệp Anh, PhápBarbados.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù ban đầu đây không phải là một hạng mục chính thức nhưng Ellyn Harris và Ủy ban vì Sự phát triển của Nhạc Dance đã cố gắng thuyết phục Viện hàn lâm hơn hai năm để vinh danh nhạc dance.[4] Một vài thành viên của Viện hàn lâm tranh cãi rằng liệu nhạc dance có thể là một thể loại âm nhạc thực thụ, trong khi số khác lo lắng rằng nhạc dance không phải là một thể loại có từ lâu, và sợ rằng hạng mục sẽ sớm giải tán giống như hạng mục Thu âm disco xuất sắc nhất (chỉ được trao thưởng năm 1980).[4]

Năm 1998, những nỗ lực của Ellyn Harris đã được đền đáp khi Donna Summer cùng với Giorgio Moroder chiến thắng hạng mục lần đầu tiên với bài hát "Carry On". Viện hàn lâm cho rằng nhạc dance chỉ là "thứ mà một ca sĩ nhạc pop tạo ra trong những khoảng thời gian phù phiếm nhất", còn Ivan Bernstein, giám đốc điều hành một chi nhánh của cơ sở tại Florida cho rằng sẽ không có hạng mục này nếu Viện hàn lâm không cân nhắc về chất lượng nhạc dance.[4]

Nội dung thắng giải[sửa | sửa mã nguồn]

Madonna, nghệ sĩ thắng giải năm 1999 với tác phẩm "Ray of Light".
Cher, nghệ sĩ thắng giải năm 2000 với tác phẩm "Believe".
Janet Jackson, nghệ sĩ thắng giải năm 2002 với tác phẩm "All for You".
Britney Spears, nghệ sĩ thắng giải năm 2005 với tác phẩm "Toxic".
Nghệ sĩ thắng cử trong hai năm liên tiếp (2007 và 2008), Justin Timberlake.
Lady Gaga, nghệ sĩ thắng giải năm 2010 với tác phẩm "Poker Face".
Rihanna, nghệ sĩ thắng giải năm 2011 với tác phẩm "Only Girl (In the World)"
Năm[I] Nghệ sĩ thắng cử Quốc tịch Tác phẩm được đề cử Các đề cử khác Nguồn
1998 Summer, DonnaDonna SummerGiorgio Moroder  Hoa Kỳ
 Ý
"Carry On" [5]
1999 Madonna  Hoa Kỳ "Ray of Light" [6]
2000 Cher  Hoa Kỳ "Believe" [7]
2001 Baha Men  Bahamas "Who Let the Dogs Out?" [8]
2002 Jackson, JanetJanet Jackson  Hoa Kỳ "All for You" [9]
2003 Dirty Vegas  Anh Quốc "Days Go By" [10]
2004 Minogue, KylieKylie Minogue  Úc "Come into My World" [11]
2005 Spears, BritneyBritney Spears  Hoa Kỳ "Toxic" [12]
2006 The Chemical BrothersQ-Tip  Anh Quốc
 Hoa Kỳ
"Galvanize" [13]
2007 Timberlake, JustinJustin TimberlakeTimbaland[II]  Hoa Kỳ "SexyBack" [2]
2008 Timberlake, JustinJustin Timberlake  Hoa Kỳ "LoveStoned/I Think She Knows" [14]
2009 Daft Punk  Pháp "Harder, Better, Faster, Stronger (Alive 2007)" [15]
2010 Lady Gaga  Hoa Kỳ "Poker Face" [16]
2011 Rihanna  Barbados "Only Girl (In the World)" [17]
2012 Skrillex  Hoa Kỳ "Scary Monsters and Nice Sprites" [18]
2013 SkrillexSirah  Hoa Kỳ "Bangarang" [19]
2014 Zedd hợp tác cùng Foxes Cờ Nga Nga - Cờ Đức Đức
Flag of the United Kingdom.svg Anh Quốc
"Clarity" [20]
2015 Clean Bandit hợp tác cùng Jess Glynne[II] Flag of the United Kingdom.svg Anh Quốc "Rather Be" [21]
2016 Skrillex and Diplo hợp tác cùng Justin Bieber[II] Hoa Kỳ Hoa Kỳ "Where Are Ü Now" [22]

^[I] Các năm thắng giải đều được liên kết với lễ trao giải Grammy năm đó.
^[II] Các nghệ sĩ cùng một quốc tịch thắng giải.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tra cứu chung
Cụ thể
  1. ^ a ă “Overview”. Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật ghi âm quốc gia Hoa Kỳ. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ a ă Paoletta, Michael (1 tháng 2, 2003). "Beat Box". Billboard: 37. Truy cập 30 tháng 1 năm 2013.
  3. ^ “49th annual grammy award”. Grammy.com. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ a ă â "Grammy finally realize dance music will survive". Sun Journal. 23 tháng 2, 1998. Truy cập 30 tháng 1 năm 2013.
  5. ^ Campbell, Mary (ngày 7 tháng 1 năm 1998). “Rock veterans Dylan, McCartney face off for album of year”. Pittsburgh Post-Gazette (Block Communications). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ “1999 Grammy Nominees”. NME. IPC Media. Ngày 27 tháng 11 năm 1998. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  7. ^ “42nd Annual Grammy Awards nominations”. CNN. Ngày 4 tháng 1 năm 2000. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ “43rd Grammy Awards”. CNN. Ngày 21 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  9. ^ “Complete List Of Grammy Nominees”. CBS News. Ngày 4 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ “Complete list of Grammy nominees; ceremony set for Feb. 23”. San Francisco Chronicle. Ngày 8 tháng 1 năm 2003. tr. 1. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  11. ^ “The 46th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  12. ^ “The 47th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  13. ^ “The Complete List of Grammy Nominations”. The New York Times (The New York Times Company). Ngày 8 tháng 12 năm 2005. tr. 1. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  14. ^ “50th annual Grammy Awards nominations”. Variety. Reed Business Information. Ngày 6 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  15. ^ “The 52th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  16. ^ “The 52th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  17. ^ “The 53th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  18. ^ “The 54th Annual Grammy Awards Nominees List "Dance". National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010. 
  19. ^ “The 55th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  20. ^ “The 56th annual Grammy award for Best Dance Recording”. GRAMMY.com. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016. 
  21. ^ Alex Needham và Lanre Bakare (ngày 9 tháng 2 năm 2015). “Grammy Awards 2015: winners and performances – as it happened”. Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016. 
  22. ^ “2016 Grammy Awards: Complete list of nominees”. Los Angeles Times. Ngày 12 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Audio-x-generic.svg Chủ đề Âm nhạc