Bước tới nội dung

Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Ngữ chi Cơ Tu)
Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu
Phân bố
địa lý
Đông Dương
Phân loại ngôn ngữ họcNam Á
  • Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu
Tiền ngôn ngữTiếng Cơ Tu nguyên thuỷ
Ngữ ngành con
  • Cơ Tu
  • Kui–Bru (Tây)
  • Pa Kô
  • Tà Ôi–Kriang
Glottolog:katu1271[1]
{{{mapalt}}}
   Nhóm Cơ Tu

Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu là một Nhóm ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á với chừng 1,3 triệu người nói, có mặt ở bán đảo Đông Dương. Paul Sidwell, một trong những chuyên gia hàng đầu về Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu, nhận thấy rằng những ngôn ngữ Môn-Khmer, bất kể thuộc nhóm nào, có vị trí địa lý càng gần với hai Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu và Ba Na thì càng có nhiều nét tương đồng từ vựng. Do hai nhóm Cơ Tu và Ba Na không có đặc điểm phát sinh chung nào, nên chúng không nằm cùng nhánh.

Phân loại

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1966, hai nhà ngôn ngữ học SIL David Thomas và Richard Phillips thực hiện một nghiên cứu từ vựng thống kê nhiều ngôn ngữ Môn-Khmer ở Đông Dương. Nghiên cứu này giúp nhận diện hai nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer mới, là Nhóm ngôn ngữ Cơ Tu và Nhóm ngôn ngữ Ba Na (Sidwell 2009). Tài liệu giúp phân loại chính xác các ngôn ngữ Cơ Tu chỉ mới xuất hiện vào thập niên 1990, khi mà Lào mở cửa cho các nhà ngôn ngữ học nước ngoài.

Sidwell (2005)

[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại dưới được đề xuất bởi Sidwell (2005). Sidwell (2005) ngờ vực giả thuyết Việt-Cơ Tu của Diffloth, cho rằng bằng chứng để chứng minh còn quá mơ hồ. Sidwell (2009) cho rằng nhánh Cơ Tu là phân nhánh nguyên thủy nhất, những nhánh còn lại đã phát sinh ra nhiều đặc điểm riêng hơn.

Gehrmann (2019)

[sửa | sửa mã nguồn]

Gehrmann (2019)[2] đề xuất cách phân loại nhóm Cơ Tu như sau.

Proto-Cơ Tu

Ethnologue còn liệt kê cả tiếng Kassang, nhưng ngôn ngữ này thuộc Nhóm ngôn ngữ Ba Na (Sidwell 2003). Lê Bá Thảo và đồng nghiệp (2014:294)[3] ghi nhận một nhóm người nói ngôn ngữ Cơ Tu gọi là Ba-hi sống ở huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế, Việt Nam.

Tiếng Kuy và Bru mỗi tiếng có chừng nửa triệu người nói, còn cụm phương ngữ Tà Ôi có hơn 200.000 người nói.

Ngôn ngữ nguyên thủy

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ Cơ Tu nguyên thủy, hoặc những nhánh con của nó, đã được một vài học giả phục dựng:

  • Thomas (1967): A Phonology Reconstruction of Proto-East-Katuic
  • Diffloth (1982): Registres, devoisement, timbres vocaliques: leur histoire en katouique
  • Efinov (1983): Problemy fonologicheskoj rekonstrukcii proto-katuicheskogo jazyka
  • Peiros (1996): Katuic Comparative Dictionary
  • Therapahan L-Thongkum (2001): Languages of the Tribes in Xekong Province, Southern Laos
  • Paul Sidwell (2005): The Katuic languages: classification, reconstruction and comparative lexicon

Sidwell (2005) phục dựng hệ thống phụ âm của ngôn ngữ Cơ Tu nguyên thủy (Proto-Katuic) như sau:

Môi Lợi Ngạc cứng Ngạc mềm Thanh hầu
Tắc vô thanh *p *t *c *k
hữu thanh *b *d
hút vào
Mũi *m *n
Chảy *w *l, *r *j
Xát *s *h

Điều này giống hệt với các phục dựng của tiếng Nam Á nguyên thủy, ngoại trừ âm được bảo tồn tốt hơn trong nhóm Cơ Tu so với các nhánh khác của hệ Nam Á mà Sidwell tin rằng cũng từng tồn tại trong tiếng Môn-Khmer nguyên thuỷ.

Đường đồng ngữ từ vựng

[sửa | sửa mã nguồn]

Paul Sidwell (2015:185–186)[4] liệt kê các từ vựng đổi mới đặc trưng cho nhánh Cơ Tu đã thay thế các hình thái gốc trong tiếng Nam Á nguyên thủy.

Nghĩa Cơ Tu thượng cổ[5] Nam Á thượng cổ
vợ *kɗial *kdɔːr
năm *kmɔɔ *cnam
rắn hổ mang *duur *ɟaːt
nấm *trɨa *psit
xương *ʔŋhaaŋ *cʔaːŋ
sáu *tbat *tpraw
tám *tgɔɔl *thaːm
đầu[6] *pləə *b/ɓuːk; *kuːj

Sidwell (2015:173) liệt kê các đường đồng ngữ từ vựng được chia sẻ giữa nhánh Cơ tu và nhánh Bahnar.

Nghĩa Proto-Katuic Proto-Bahnaric Ghi chú
vỏ cây *ʔnɗɔh *kɗuh
móng/vuốt *knrias *krʔniəh từ Khmer kiəh 'cào'
da *ʔŋkar *ʔəkaːr
đứng dậy *dɨk *dɨk có thể được vay mượn từ nhóm Chăm
cây/gỗ *ʔalɔːŋ *ʔlɔːŋ từ Khơ Mú cổ *cʔɔːŋ
nỏ *pnaɲ *pnaɲ từ Môn cổ pnaɲ 'quân đội'
sừng *ʔakiː *ʔəkɛː
lòng bàn tay/bàn chân *trpaːŋ *-paːŋ
muối *bɔːh *bɔh
ăn cắp *toŋ *toŋ
mười *ɟit *cit

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, biên tập (2013). "Katuic". Glottolog. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
  2. ^ Gehrmann, Ryan. 2019. On the Origin of Rime Laryngealization in Ta’oiq: A Case Study in Vowel Height Conditioned Phonation Contrasts. Paper presented at the 8th International Conference on Austroasiatic Linguistics (ICAAL 8), Chiang Mai, Thailand, August 29–31, 2019.
  3. ^ Lê Bá Thảo, Hoàng Ma, et. al; Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam - Viện dân tộc học. 2014. Các dân tộc ít người ở Việt Nam: các tỉnh phía nam. Hà Nội: Nhà xuất bản khoa học xã hội. ISBN 978-604-90-2436-8
  4. ^ Sidwell, Paul. 2015. "Austroasiatic classification." In Jenny, Mathias and Paul Sidwell, eds (2015). The Handbook of Austroasiatic Languages. Leiden: Brill.
  5. ^ Reconstructions are from Sidwell (2005).
  6. ^ Sidwell, Paul (2021). "Classification of MSEA Austroasiatic languages". The Languages and Linguistics of Mainland Southeast Asia. De Gruyter. tr. 179–206. doi:10.1515/9783110558142-011.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]