Pokémon (hoạt hình)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Pokémon (phim))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pokémon
Pokemon Best Wishes Vietnamese logo.png
Logo tiếng Việt
ポケットモンスター
(Poketto Monsutā)
Thể loại Kodomomuke
Anime truyền hình
Đạo diễn Yuyama Kunihiko (chính)
Hidaka Masamitsu (1997–2006)
Sudō Norihiko (2006–2013)
Yajima Tetsuo (2013–nay)
Sản xuất Tajiri Satoshi
Masuda Masuda
Sugimori Ken
Kịch bản Takeshi Shudo (1997–2002)
Tomioka Atsuhiro (2006–nay)
Âm nhạc Miyazaki Shinji
Tanaka Hirokazu (mowr)
Hãng phim OLM, Inc.
Team Ota (1997–2006)
Team Iguchi (2006–2009)
Team Kato (2010–nay)
Cấp phép
4Kids Entertainment (1998–2006)
The Pokémon Company (2006–nay)
Kênh TV Tokyo
Phát sóng 1 tháng 4, 1997 – nay
Số tập 800+ (danh sách tập)
Phim (tổng 19)
  • 5 phim original
  • 4 phim Advanced Generation
  • 4 phim Diamond & Pearl
  • 3 phim Best Wishes!
  • 3 phim XY
Đặc biệt
  • 8 TV specials (3 dài đủ, 5 dài thường)
  • 25 side-story episodes
  • 7 Winter Vacation shorts
  • 8 ANA flights shorts
Chủ đề Anime và manga

Pokémon (ポケモン Pokemon?), viết tắt từ Pocket Monsters (ポケットモンスター Poketto Monsutā), là một loạt anime kodomo truyền hình Nhật Bản. Phim dựa trên dòng trò chơi điện tử Pokémon và một phần từ truyện tranh.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Satoshi (サトシ Satoshi?) là nhân vật chính của series phim hoạt hình, tên tiếng Anh là Ash Ketchum, bên cạnh cậu luôn là chú Pokémon điện nhỏ màu vàng Pikachu. Satoshi đã và đang đi đến các vùng đất trong thế giới Pokémon (Kanto, Orange Islands, Johto, Hoenn, Sinnoh, Unova, Kalos, Alola) để thi đấu và thu phục các Pokémon mới. Ước mơ của cậu là trở thành bậc thầy huấn luyện Pokémon.

Những người bạn của Satoshi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Takeshi (Brock): Có mặt ở mùa 1 - 13, trừ season 2. Là Thủ lĩnh nhà thi đấu của thành phố Nibi, là một tay đầu bếp giàu kinh nghiệm và là bác sĩ của nhóm. Rất mê gái, đặc biệt hễ thấy cô nào trẻ đẹp (ví dụ như là cảnh sát trưởng Junsa hoặc bác sĩ Joy và Kinako)là buông lời tán tỉnh và hậu quả là luôn bị véo tai bởi Kasumi hay Masato, hay tuyệt chiêu Chích nọc độc của Guregguru.
  • Kasumi (Misty): Có mặt ở season 1 - 5. Sở thích của cô là các Pokémon hệ nước và rất sợ các Pokémon hệ côn trùng.
  • Kenji (Tracey): Có mặt ở season 2. Hiện đang giúp việc nghiên cứu của giáo sư Okido tại phòng thí nghiệm
  • Haruka (May): Có mặt ở season 6 - 9. Mục tiêu của cô là các cuộc thi Pokémon Contest và trở thành điều phối viên hàng đầu.
  • Мasato (Max): Có mặt ở season 6 - 9. Cậu là em trai của Haruka,chưa phải là nhà huấn luyện Pokémon. Tuy vậy cậu ấy rất thích Pokémon.
  • Hikari (Dawn): Có mặt ở season 10 - 13. Là cô bé tròn mười tuổi, muốn được trở thành điều phối viên hàng đầu giống như mẹ. Con Buneary của cô ấy rất thích Pikachu.
  • Dento (Cilan): Có mặt ở season 14 - 17. Là một Gym Leader tài ba và rất giỏi nấu nướng. Cậu ấy có rất nhiều sở thích khác nhau và hay phô trương, làm cả nhóm đôi lúc ngám ngẩm.Theo tin tức mới nhất,Cilan sẽ trở lại trong Season 19.
  • Airisu (Iris): Có mặt ở season 14 - 17. Sở thích của cô ấy là Pokémon hệ rồng, rất am hiểu về chúng và sợ các Pokemon hệ băng.
  • Serena: Có mặt ở season 18. Serena là một Nhà huấn luyện Pokémon đến từ vùng Kalos và là một trong những người bạn đồng hành của Satoshi. Mục tiêu của cô là trở thành nhà trình diễn Pokemon. Cô và Satoshi đã từng gặp nhau trước khi bắt đầu cuộc hành trình khi Satoshi chăm sóc cho cô. Cô rất thích thời trang và những vật lấp lánh. Cô có cảm tình với Satoshi, luôn đỏ mặt mỗi khi tiếp xúc với cậu.
  • Shitoron (Clemont): Có mặt ở season 18. Shitoron rất tập trung trong việc nghiên cứu và phát minh, tuy nhiên tất cả các sản phẩm cậu làm ra đều hoạt động không chính xác hoặc kết thúc bằng một vụ nổ. Cậu ấy luôn gắn chặt mình với khoa học, và sợ những thứ trái với logic. Shitoron cũng sợ phải đứng trước máy ảnh, điều đó cho thấy cậu ta bị chứng sợ chụp ảnh.
  • Yurika (Bonnie): Có mặt ở season 18. Là em gái của Shitoron và là nhân vật nữ chính nhỏ tuổi nhất từ trước đến nay, sứ mệnh của cô bé là tìm một người vợ hoàn hảo cho anh hai của mình, điều đó làm Shitoron lâm vào nhiều tình huống khó xử. Vì chưa là một nhà huấn luyện Pokemon, Yurika đã nhờ Shitoron bắt Dedenne giúp cô.

Pokémon của Satoshi[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Kanto:

  • Pikachu: Thu phục ở tập 1. Là Pokémon đầu tiên, cũng là bạn đồng hành của Satoshi trong suốt cuộc hành trình. Nó không thích bị nhốt trong quả cầu Pokémon và cũng không muốn tiến hóa.
  • Caterpie: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Metapod ở tập 3. Tiến hóa thành Butterfree ở tập 4. Chia tay ở tập 21. Là Pokémon đầu tiên Satoshi bắt được, nó rất thích Misty và nhanh chóng tiến hóa và xuất hiện trong những trận đấu đầu tiên của Satoshi. Satoshi đã thả nó về với bầy đàn và nó đã kết đôi cùng với một con Butterfree màu hồng. Satoshi chưa từng gặp lại nó sau khi chia tay.
  • Pidgeotto: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Pidgeot ở tập 83. Chia tay ở tập 83. Nó thường được dùng để tìm kiếm các Pokémon thất lạc. Satoshi đã để nó lại ở một khu rừng để bảo vệ đàn Pidgeotto và Pidgey. Satoshi hứa sẽ quay lại gặp nó sau khi xong việc ở quần đảo Orange nhưng chưa bao giờ thực hiện lời hứa đó.
  • Bulbasaur: Thu phục ở tập 10. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 227. Là Pokémon theo Satoshi lâu nhất sau Pikachu, nó không muốn tiến hóa dù có cơ hội được tiến hóa cùng bầy đàn.
  • Charmander: Thu phục ở tập 11. Tiến hóa thành Charmeleon ở tập 43. Tiến hóa thành Charizard ở tập 46. Chia tay ở tập 136. Được Satoshi cứu sau khi bị chủ cũ bỏ rơi. Tuy nhiên sau khi tiến hóa nó đã không chịu nghe lời Satoshi do nghĩ rằng cậu không đủ đẳng cấp để ra lệnh nó. Nó đã chịu nghe lời Satoshi sau khi được cậu cứu. Satoshi đã để nó ở lại núi Hỏa Long tập luyện, thỉnh thoảng nó có bay đến giúp cậu đánh một vài trận quan trọng (tập 256).Có thông tin rằng ở vùng đất Kalos. Charizard của Satoshi sẽ tiến hóa mega thành Mega Charizard Y.
  • Squirtle: Thu phục ở tập 12. Chia tay ở tập 149. Là thủ lĩnh quân đoàn rùa Squirtle Squad phá phách. Nó đã giúp Satoshi dành nhiều chiến thắng quan trọng. Satoshi đã để nó trở về lãnh đạo quân đoàn rùa Squirtle, thỉnh thoảng có gặp lại để giúp Satoshi đánh một số trận đánh quan trọng.Đã có lần gặp lại nó.
  • Krabby: Thu phục ở tập 13. Tiến hóa thành Kingler ở tập 77. Sau khi bắt nó ở bãi biển, nó đã bị trả về phòng thí nghiệm giáo sư Oak ngay lập tức do Satoshi đã mang theo đủ 6 Pokémon. Nó đã giúp Satoshi chiến thắng tuyệt đối ở vòng loại Indigo Plateau.
  • Primeape: Thu phục ở tập 25. Chia tay ở tập 29. Lúc đầu nó rất ghét Satoshi nhưng sau khi thấy được tình thương Satoshi dành cho mình, nó đã mến cậu. Tuy nhiên Satoshi đã để nó lại cho một nhà huấn luyện khác để rèn luyện tài năng đấm đánh của nó. Sau đó Satoshi chưa bao giờ gặp lại nó.
  • Muk: Thu phục ở tập 30. Sau khi thu phục cậu đã gửi nó về phòng thí nghiệm giáo sư Oak. Nó thường xuyên xuất hiện bên cạnh giáo sư Oak khi Satoshi gọi điện về, nó đã giúp Satoshi chiến đấu ở Indigo Plateau.
  • Tauros: Thu phục ở tập 35. Satoshi đã thu phục được 30 con Tauros ở khu rừng Safari và gửi về cho giáo sư Oak. Thỉnh thoảng cậu nhờ đến sự trợ giúp của nó trong một vài cuộc thi.

Vùng Orange Islands:

  • Lapras: Thu phục ở tập 86. Chia tay ở tập 115. Nó bị lạc khỏi bầy đàn và sau khi được Satoshi cứu, nó đã đi theo giúp cậu trong suốt cuộc hành trình ở quần đảo Orange. Satoshi đã chia tay sau khi nó gặp lại bầy đàn. Có một lần gặp lại nó (tập 259).
  • Snorlax: Thu phục ở tập 96. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 113. Là một Pokémon mạnh mẽ nhưng nó thường ngủ hơn là chiến đấu.

Vùng Johto:

  • Heracross: Thu phục ở tập 121. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 148. Là một Pokémon mạnh mẽ mà Satoshi thu phục đầu tiên trong hành trình Johto, nó thích hút mật từ củ trên lưng Bulbasaur. Tuy không đi chung với Satoshi lâu nhưng cậu thường gọi nó đến để đánh những trận lớn.
  • Chikorita: Thu phục ở tập 128. Tiến hóa thành Bayleef ở tập 201. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon hiếu thắng, nó thích làm nũng với Satoshi và hay ganh tị với Pikachu, cũng là Pokémon giống cái đầu tiên của Satoshi.
  • Cyndaquil: Thu phục ở tập 143. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Tiến hóa thành Quilava ở tập 651. Là một Pokémon hiền lành, lúc đầu nó không thể kiểm soát được khả năng chiến đấu nhưng Satoshi đã giúp nó.
  • Totodile: Thu phục ở tập 153. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Satoshi và Misty đã đấu một trận để giành quyền sở hữu. Nó là một Pokémon vui tính, lúc nào cũng thích nhảy nhót và mê gái.
  • Noctowl: Thu phục ở tập 156. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon khá thông minh, con Noctowl của Satoshi có màu lông khác với đồng loại.
  • Phanphy: Nở từ trứng ở tập 232. Tiến hóa thành Donphan ở tập 431.Rất khoái các tuyệt chiêu hệ điện của Pikachu.

Vùng Hoenn:

  • Taillow: Thu phục ở tập 280. Tiến hóa thành Swellow ở tập 356.
  • Treecko: Thu phục ở tập 283. Tiến hóa thành Grovyle ở tập 342. Tiến hóa thành Sceptile ở tập 438.
  • Corphish: Thu phục ở tập 299.
  • Torkoal: Thu phục ở tập 334.Nó thể hiện cảm xúc rất tự nhiên.
  • Snorunt: Thu phục ở tập 385. Tiến hóa thành Glalie ở tập 400. Trước khi tiến hóa nó rất nghịch ngợm và hay chọc phá người khác
  • Aipom: Thu phục ở tập 459. Trao đổi với Dawn ở tập 524. Là một Pokémon giống cái, tính tình nghịch ngợm, hay ganh tị, nó thích thi Pokémon contest hơn là thi đấu Pokémon nên Satoshi đã trao đổi nó với Dawn.

Vùng Sinnoh:

  • Starly: Thu phục ở tập 471. Tiến hóa thành Staravia ở tập 482. Tiến hóa thành Staraptor ở tập 587. Thường dùng để tìm kiếm các Pokémon khác.
  • Turtwig: Thu phục ở tập 474. Tiến hóa thành Grotle ở tập 569. Tiến hóa thành Torterra ở tập 635. Tính tình hiền lành, rất sốc khi mất tốc độ của mình sau khi tiến hóa.
  • Chimchar: Thu phục ở tập 521. Tiến hóa thành Monferno ở tập 601. Tiến hóa thành Infernape ở tập 632. Đã từng bị chủ nó bỏ rơi, sau đó đi theo Satoshi. Thường mất kiểm soát khi dùng Blaze.
  • Buizel: Trao đổi với Dawn ở tập 524.
  • Gligar: Thu phục ở tập 533. Tiến hóa thành Gliscor ở tập 554. Chia tay ở tập 623.
  • Gible: Thu phục ở tập 626. Nó thích cắn đầu Satoshi.

Vùng Isshu":

  • Pidove: Thu phục ở tập 662. Tiến hóa thành Tranquil ở tập 682. Tiến hóa thành Unfezant ở tập 730. Là Pokémon giống cái thứ 3 mà Satoshi có, tuy nhiên Satoshi không biết điều đó cho đến khi nó giúp cậu thu phục được Snivy.
  • Oshawott: Thu phục ở tập 663. Là một trong 3 Pokémon ở phòng thí nghiệm dành tặng cho những nhà huấn luyện mới, tuy nhiên nó đã tự nguyện đi theo Satoshi. Khi tức giận nó hay ném vỏ sò của mình xuống đất rồi nhặt lên lại.Rất mê gái,tham ăn và nhát gan nhưng đôi lúc lại rất dũng cảm.Oshawott luôn muốn được Satoshi chọn để thi đấu.
  • Tepig: Thu phục ở tập 664. Nó đã bị nhà huấn luyện cũ bỏ rơi và trở thành Pokémon hoang dã, và đã tự nguyện đi theo Satoshi sau khi cậu giải cứu nó. Tiến hóa thành Pignite ở tập 730.Đã gặp lại chủ cũ của mình và đã chứng tỏ rằng mình không hề yếu đuối như chủ nó nghĩ.
  • Snivy: Thu phục ở tập 667. Là một Pokémon giống cái có đẳng cấp cao. Nó đã từ bỏ nhà huấn luyện cũ vì cho rằng không xứng đáng, nó đã chịu để Satoshi thu phục sau khi chứng kiến tình cảm của Satoshi dành cho Pokémon của mình.
  • Scraggy: Nở từ trứng ở tập 677. Là một Pokémon khá lưu manh, nó gặp ai cũng muốn đánh, sau khi được Satoshi cứu thì nó chịu nghe lời hơn. Rất thích chơi với Axew.
  • Sewaddle: Thu phục ở tập 678. Tiến hóa thành Swadloon ở tập 685.Tiến hóa thành Leavanny ở tập 736.Là một Pokémon thích chiến đấu, nó tình nguyện đi theo Satoshi sau khi được cậu cứu.
  • Palpitoad: Thu phục ở tập 695. Là một Pokémon mạnh mẽ, biết nhiều chiêu thức tấn công.Trước khi được Satoshi thu phuc thì nó rất thân với một con Stunfisk (sau đó là Pokemon của Cilan)
  • Roggenrola: Thu phục ở tập 697. Nó đi theo Satoshi sau khi được cậu cứu khỏi đội Hỏa tiễn và tập huấn. Tiến hóa thành Boldore ở tập 723.
  • Sandile: Xuất hiện ở tập 663. Tiến hóa thành Krokorok ở tập 680. Thu phục ở tập 727. Tiến hóa thành Krookodile ở tập 754. Là Pokémon đầu đàn ở khu nghỉ mát suối nước nóng, vì muốn chiến đấu với Pikachu của Satoshi nên nó đã đi theo sau nhóm Satoshi. Tính tình rất nhút nhát mỗi khi bị mất đôi mắt kính râm.

Vùng Kalos:

  • Froakie: Thu phục ở tập 801. Tiến hóa thành Frogadier ở tập 851.Tiến hóa thành Greninja và chuyển hóa thành Ash-Greninja ở tập 7 season 20. Sau khi cùng Satoshi cứu Garchomp, nó đã chặn ở trước phòng nghiên cứu của giáo sư Sycamore và đưa cho Satoshi quả cầu Pokeball của mình, đây là Pokemon đầu tiên của Satoshi tại vùng Kalos này. Chia tay ở tập 943.Vì muốn cứu vùng Kalos thoát khỏi thảm họa của Furadari nên đã đi cùng với Zygarde.
  • Fletchling: Thu phục ở tập 802. Tiến hoá thành Fletchinder ở tập 835.Tiến hóa thành Talonflame ở tập 990. Là Pokemon thứ hai của Satoshi tại vùng Kalos.
  • Hawlucha: Thu phục ở tập 834. Nhà vô địch của khu rừng, nó bảo vệ những Pokemon yếu trong khu rừng, sau trận chiến với Machamp, nó đã đấu với Satoshi tuy thua nhưng nó vẫn muốn theo nhóm Satoshi và các bạn.
  • Goomy:"Rơi" vào mặt Satoshi ở tập 849. Tiến hóa thành Sliggoo ở tập 860. Tiến hóa thành Goodra ở tập 864. Chia tay ở tập 869, trở lại vào tập 925 và lại chia tay ở tập 943.
  • Noibat:Nở từ trứng ở tập 875. Được Satoshi chăm sóc và tập bay cho. Mới nở nó rất nhút nhát nhưng vì được Satoshi cứu nên có cảm tình hơn.

Vùng Alola:

Rowlet: Là Pokémon đầu tiên mà Satoshi bắt được ở vùng Alola vào tập 948.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Full-length TV specials[sửa | sửa mã nguồn]

Normal-length TV specials[sửa | sửa mã nguồn]

Kì nghỉ đông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngắn chuyến bay ANA[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội mùa hè của Pikachu (ピカチュウのなつまつり Pikachū no Natsumatsuri)
là phim ngắn đầu tiên được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2004.
Lễ hội ma quỷ của Pikachu (ピカチュウのおばけカーニバル Pikachū no Obake Kānibaru)
là phim ngắn thứ 2 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2005.
Hòn đảo kỳ quái của Pikachu / Chuyến phiêu lưu đảo của Pikachu (ピカチュウのわんぱくアイランド Pikachū no Wanpaku Airando)
là phim ngắn thứ 3 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2006 và phim Pokémon: Ngôi đền đại dương được phát hành DVD ở Mỹ.
Pikachu's Exploration Club (ピカチュウたんけんクラブ Pikachū Tanken Kurabu)
là phim ngắn thứ 4 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2007.
Pikachu's Great Ice Adventure (ピカチュウ 氷の大冒険 Pikachū Kōri no Daibōken)
là phim ngắn thứ 5 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2008.
Pikachu's Great Sparking Search (ピカチュウのキラキラだいそうさく Pikachū no Kirakira Daisōsaku)
là phim thứ 6 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2009 và phim Pokémon Ranger: Locus of Light được phát hành DVD ở Nhật Bản.
Pikachu's Strange Wonder Adventure (ピカチュウのふしぎなふしぎな大冒険 Pikachū no Fushigina Fushigina Daibōken)
là phim ngắn thứ 7 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2010.
Pikachu's Summer Bridge Story (ピカチュウのサマー・ブリッジ・ストーリー Pikachū no samā burijji sutōrī)
là phim ngắn thứ 8 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8, 2011.

3D ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon 3D Adventure: Find Mew! (ポケモン3Dアドベンチャー ミュウを探せ! Pokemon 3D Adobenchā: Myū o Sagase!)
là phim ngắn Pokémon 3D đầu tiên được chiếu tại Công viên Pokémon (PokéPark) ở Nhật Bản năm 2005, và cũng được chiếu tại PokéPark ở Đài Loan năm 2006.
Pokémon 3D Adventure 2: Pikachu's Big Undersea Adventure (ポケモン3Dアドベンチャー2 ピカチュウの海底大冒険 Pokemon 3D Adobenchā 2: Pikachū no Kaitei Daibōken)
là phim ngắn Pokémon 3D thứ 2 được chiếu ở Nhật Bản năm 2007.
Pokémon BW: The Celestial Globe of Light and Shadows! (ポケットモンスター ベストウイッシュ 光と影のテンキュウギ)
là phim ngắn 3D được chiếu tại Nhật Bản năm 2011.

Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Chronicles[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Origins[sửa | sửa mã nguồn]

Đa chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Weekly Pokémon Broadcasting Station[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Sunday[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Smash![sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Get TV[sửa | sửa mã nguồn]

Công chiếu và sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, phim anime được phát sóng trên kênh HTV3 (phần Best Wishes) từ ngày 25 tháng 1 năm 2014 [1], riêng phần XY dự kiến phát sóng phần XY và Kalos Quest trên kênh VTV2 bắt đầu từ ngày 28 tháng 9 năm 2015 [2]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Bản mẫu:Kids' WB