Pokémon (hoạt hình)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Pokémon (phim))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pokémon
Pokemon Best Wishes Vietnamese logo.png
Logo tiếng Việt
ポケットモンスター
(Poketto Monsutā)
Thể loại Kodomomuke
Anime truyền hình
Đạo diễn Yuyama Kunihiko (chính)
Hidaka Masamitsu (1997–2006)
Sudō Norihiko (2006–2013)
Yajima Tetsuo (2013–nay)
Sản xuất Tajiri Satoshi
Masuda Masuda
Sugimori Ken
Kịch bản Takeshi Shudo (1997–2002)
Tomioka Atsuhiro (2006–nay)
Âm nhạc Miyazaki Shinji
Tanaka Hirokazu (mowr)
Hãng phim OLM, Inc.
Team Ota (1997–2006)
Team Iguchi (2006–2009)
Team Kato (2010–nay)
Cấp phép
4Kids Entertainment (1998–2006)
The Pokémon Company (2006–nay)
Kênh TV Tokyo
Phát sóng 1 tháng 4 năm 1997 – nay
Số tập 800+ (danh sách tập)
Phim (tổng 19)
  • 5 phim original
  • 4 phim Advanced Generation
  • 4 phim Diamond & Pearl
  • 3 phim Best Wishes!
  • 3 phim XY
Đặc biệt
  • 8 TV specials (3 dài đủ, 5 dài thường)
  • 25 side-story episodes
  • 7 Winter Vacation shorts
  • 8 ANA flights shorts
Chủ đề Anime và manga

Pokémon (ポケモン Pokemon?), viết tắt từ Pocket Monsters (ポケットモンスター Poketto Monsutā), là một loạt anime kodomo truyền hình Nhật Bản. Phim dựa trên dòng trò chơi điện tử Pokémon và một phần từ truyện tranh.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Satoshi (サトシ Satoshi?) là nhân vật chính của series phim hoạt hình, tên tiếng Anh là Ash Ketchum, bên cạnh cậu luôn là chú Pokémon điện nhỏ màu vàng Pikachu. Satoshi đã và đang đi đến các vùng đất trong thế giới Pokémon (Kanto, Orange Islands, Johto, Hoenn, Sinnoh, Unova, Kalos, Alola) để thi đấu và thu phục các Pokémon mới. Ước mơ của cậu là trở thành bậc thầy huấn luyện Pokémon.

Những người bạn của Satoshi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brock: Có mặt ở mùa 1 - 13, trừ season 2. Là Thủ lĩnh nhà thi đấu của thành phố Nibi, là một tay đầu bếp giàu kinh nghiệm và là bác sĩ của nhóm. Rất mê gái, đặc biệt hễ thấy cô nào trẻ đẹp (ví dụ như là cảnh sát trưởng Junsa hoặc bác sĩ Joy) là buông lời tán tỉnh và hậu quả là luôn bị véo tai bởi Kasumi hay Masato, hay tuyệt chiêu Chích nọc độc của Guregguru.
  • Misty: Có mặt ở season 1 - 5. Sở thích của cô là các Pokémon hệ nước và rất sợ các Pokémon hệ côn trùng. Sau này, cô trở thành trưởng hội quán Hakuda.
  • Kenji: Có mặt ở season 2. Là một người quan sát Pokemon và xem giáo sư Okido là một thần tượng. Vì vậy, sau chuyến đi ở quần đảo Orange, cậu sang giúp việc tại nghiên cứu của giáo sư Okido nhưng sau này, cậu sang làm việc ở hội quán của Kasumi.
  • Haruka (May): Có mặt ở season 6 - 9. Mục tiêu của cô là các cuộc thi Pokémon Contest và trở thành điều phối viên hàng đầu.
  • Мasato: Có mặt ở season 6 - 9. Cậu là em trai của Haruka với ước mơ trở thành nhà huấn luyện Pokémon. Cậu ấy rất yêu quý Pokémon và rất muốn làm bạn với chúng.
  • Dawn: Có mặt ở season 10 - 13. Ước mơ của cô là trở thành một nhà điều phối viên hàng đầu như mẹ của mình.Satoshi có gặp lại cô ở season 15
  • Cilan: Có mặt ở season 14 - 16. Là một học giả Pokemon tài ba và là một trong ba thủ lĩnh CLB thành phố Striaton. Cậu rất giỏi nấu nướng. Cậu ấy có rất nhiều sở thích khác nhau và hay phô trương, làm cả nhóm đôi lúc ngám ngẩm.
  • Iris: Có mặt ở season 14 - 16. Cô lớn lên ở Làng Rồng nên ước mơ của cô là trở thành Bậc thầy luyện rồng. Iris rất sợ pokemon hệ băng vì cô thấm dần tính cách của pokemon hệ rồng (hệ rồng sợ hệ băng). Iris rất giỏi leo trèo để tìm kiếm trái cây tươi và giỏi về các bài thuốc gia truyền.
  • Serena: Có mặt ở season 17-20. Serena là một Nhà huấn luyện Pokémon đến từ vùng Kalos và là một trong những người bạn đồng hành của Satoshi. Mục tiêu của cô là trở thành nhà trình diễn Pokemon. Cô và Satoshi đã từng gặp nhau trước khi bắt đầu cuộc hành trình ở trại hè viện nghiên cứu của giáo sư Okido. Cô rất thích thời trang và những vật lấp lánh. Cô có cảm tình với Satoshi, luôn đỏ mặt mỗi khi tiếp xúc với cậu.
  • Citron: Có mặt ở season 17-20. Citron rất tập trung trong việc nghiên cứu và phát minh, tuy nhiên tất cả các sản phẩm cậu làm ra đều hoạt động không chính xác hoặc kết thúc bằng một vụ nổ. Cậu ấy luôn gắn chặt mình với khoa học và sợ những thứ trái với logic. Citron cũng sợ phải đứng trước máy ảnh, điều đó cho thấy cậu ta bị chứng sợ chụp ảnh. Cậu là một người anh rất thương em và là một người giỏi nấu ăn. Ngoài ra, cậu là trưởng hội quán của Miare.
  • Eureka: Có mặt ở season 17-20. Là em gái của Citron và là nhân vật nữ chính nhỏ tuổi nhất từ trước đến nay. Cô bé rất yêu quý các pokemon và chơi đùa vui vẻ với chúng. Sứ mệnh của cô bé là tìm một người vợ hoàn hảo cho anh hai của mình, điều đó làm Citron lâm vào nhiều tình huống khó xử. Vì chưa là một nhà huấn luyện Pokemon, eureka đã nhờ Citron bắt Dedenne giúp cô. Sau khi gặp Zygarde (một trong vị thần của vùng Kalos), cô bé ước mơ được trở thành nhà huấn luyện Pokemon như Satoshi và cùng Dedenne, Zyagarde đi phiêu lưu.

Pokémon của Satoshi[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Kanto:

  • Pikachu: Thu phục ở tập 1. Là Pokémon đầu tiên, cũng là bạn đồng hành của Satoshi trong suốt cuộc hành trình. Nó không thích bị nhốt trong quả cầu Pokémon và cũng không muốn tiến hóa.
  • Caterpie: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Transel ở tập 3. Tiến hóa thành Butterfree ở tập 4. Chia tay ở tập 21. Là Pokémon đầu tiên Satoshi bắt được, nó rất thích Misty (Kasumi) và nhanh chóng tiến hóa và xuất hiện trong những trận đấu đầu tiên của Satoshi. Satoshi đã thả nó về với bầy đàn và nó đã kết đôi cùng với một con Butterfree màu hồng. Satoshi chưa từng gặp lại nó sau khi chia tay.
  • Pigeon: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Pidgeot ở tập 83. Chia tay ở tập 83. Nó thường được dùng để tìm kiếm các Pokémon thất lạc. Satoshi đã để nó lại ở một khu rừng để bảo vệ đàn Pidgeotto và Pidgey. Satoshi hứa sẽ quay lại gặp nó sau khi xong việc ở quần đảo Orange nhưng chưa bao giờ thực hiện lời hứa đó.
  • Fushigidane: Thu phục ở tập 10. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Okido ở tập 227. Là Pokémon theo Satoshi lâu nhất sau Pikachu, nó không muốn tiến hóa dù có cơ hội được tiến hóa cùng bầy đàn.
  • Hitokage: Thu phục ở tập 11. Tiến hóa thành Lizado ở tập 43. Tiến hóa thành Lizadon ở tập 46. Chia tay ở tập 136. Được Satoshi cứu sau khi bị chủ cũ bỏ rơi. Tuy nhiên sau khi tiến hóa nó đã không chịu nghe lời Satoshi do nghĩ rằng cậu không đủ đẳng cấp để ra lệnh nó. Ở vùng đảo Orange, nó đã để thua trận do không nghe lời của Satoshi và hơn thế nữa, nó đã bị đóng băng. Satoshi đã thức suốt đêm để chăm sóc nó, tâm sự cho nó nghe về những mong ước của mình. Từ đó, nó đã hiểu thêm về người chủ của mình và đã chịu nghe lời của Satoshi (tập 107). Satoshi đã để nó ở lại núi Hỏa Long tập luyện, thỉnh thoảng nó có bay đến giúp cậu đánh một vài trận quan trọng (tập 256, 271, 412). Đến vùng Isshu, sau khi hoàn thành việc tập luyện, nó trở về viện nghiên cứu của giáo sư Okido. Sau đó được giáo sư chuyển quả cầu Pokemon của nó qua cho Satoshi để cùng cậu tham gia chuyến phiêu lưu ở Unova. Sau khi cuộc hành trình kết thúc, nó được Satoshi để ở lại ở viện nghiên cứu ở giáo sư Okido
  • Zenigame: Thu phục ở tập 12. Chia tay ở tập 149. Là thủ lĩnh quân đoàn rùa Zenigame phá phách. Nó đã giúp Satoshi dành nhiều chiến thắng quan trọng. Satoshi đã để nó trở về lãnh đạo quân đoàn chữa cháy rùa Zenigame, thỉnh thoảng có gặp lại để giúp Satoshi đánh một số trận đánh quan trọng (tập 269, 466)
  • Crab: Thu phục ở tập 13. Tiến hóa thành Kingler ở tập 77. Sau khi bắt nó ở bãi biển, nó đã bị trả về phòng thí nghiệm giáo sư Okido ngay lập tức do Satoshi đã mang theo đủ 6 Pokémon. Nó đã giúp Satoshi chiến thắng tuyệt đối ở vòng loại ở liên minh Kanto.
  • Okorizaru: Thu phục ở tập 25. Chia tay ở tập 29. Lúc đầu nó rất ghét Satoshi nhưng sau khi thấy được tình thương Satoshi dành cho mình, nó đã mến cậu. Tuy nhiên Satoshi đã để nó lại cho một nhà huấn luyện khác để rèn luyện tài năng đấm đánh của nó. Sau đó Satoshi chưa bao giờ gặp lại nó.
  • Betbeton: Thu phục ở tập 30. Sau khi thu phục cậu đã gửi nó về phòng thí nghiệm giáo sư Okido. Nó thường xuyên xuất hiện bên cạnh giáo sư Oak khi Satoshi gọi điện về, nó đã giúp Satoshi chiến đấu ở liên minh Kanto.
  • Kentauros: Thu phục ở tập 35. Satoshi đã thu phục được 30 con Tauros ở khu rừng Safari và gửi về cho giáo sư Okido. Thỉnh thoảng cậu nhờ đến sự trợ giúp của nó trong một vài cuộc thi.

Vùng Orange Islands:

  • Rapurasu: Thu phục ở tập 86. Chia tay ở tập 115. Nó bị lạc khỏi bầy đàn và sau khi được Satoshi cứu, nó đã đi theo giúp cậu trong suốt cuộc hành trình ở quần đảo Orange. Satoshi đã chia tay sau khi nó gặp lại bầy đàn. Có một lần gặp lại nó (tập 259).
  • Kabigon: Thu phục ở tập 96. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 113. Là một Pokémon mạnh mẽ nhưng nó thường ngủ hơn là chiến đấu.

Vùng Johto:

  • Heracross: Thu phục ở tập 121. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 148. Là một Pokémon mạnh mẽ mà Satoshi thu phục đầu tiên trong hành trình Johto, nó thích hút mật từ củ trên lưng Bulbasaur. Tuy không đi chung với Satoshi lâu nhưng cậu thường gọi nó đến để đánh những trận lớn.
  • Chikorita: Thu phục ở tập 128. Tiến hóa thành Bayleaf ở tập 201. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon hiếu thắng, nó thích làm nũng với Satoshi và hay ganh tị với Pikachu, cũng là Pokémon giống cái đầu tiên của Satoshi.
  • Hinoarashi: Thu phục ở tập 143. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Tiến hóa thành Magmarashi ở tập 651. Là một Pokémon hiền lành, lúc đầu nó không thể kiểm soát được khả năng chiến đấu nhưng Satoshi đã giúp nó.
  • Waninoko: Thu phục ở tập 153. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Okido ở tập 276. Satoshi và Kasumi đã đấu một trận để giành quyền sở hữu. Nó là một Pokémon vui tính, lúc nào cũng thích nhảy nhót và mê gái.
  • Yozunozuku: Thu phục ở tập 156. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon khá thông minh, con Yozunozuku của Satoshi có màu lông khác với đồng loại.
  • Gomazou: Nở từ trứng ở tập 232. Tiến hóa thành Donfan ở tập 431. Rất khoái các tuyệt chiêu hệ điện của Pikachu.

Vùng Hoenn:

  • Subame: Thu phục ở tập 280. Tiến hóa thành Ohsubame ở tập 356.
  • Kimori: Thu phục ở tập 283. Tiến hóa thành Juptile ở tập 342. Tiến hóa thành Jukain ở tập 438.
  • Heigani: Thu phục ở tập 299.
  • Cotoise: Thu phục ở tập 334.Nó thể hiện cảm xúc rất tự nhiên.
  • Yukiwarashi: Thu phục ở tập 385. Tiến hóa thành Onigohri ở tập 400. Trước khi tiến hóa nó rất nghịch ngợm và hay chọc phá người khác
  • Eipam: Thu phục ở tập 459. Trao đổi với Hikari ở tập 524. Là một Pokémon giống cái, tính tình nghịch ngợm, hay ganh tị, nó thích thi Pokémon contest hơn là thi đấu Pokémon nên Satoshi đã trao đổi nó với Hikari.

Vùng Sinnoh:

  • Mukkuru: Thu phục ở tập 471. Tiến hóa thành Mukubird ở tập 482. Tiến hóa thành Mukuhawk ở tập 587. Thường dùng để tìm kiếm các Pokémon khác.
  • Naetle: Thu phục ở tập 474. Tiến hóa thành Hayashigame ở tập 569. Tiến hóa thành Dodaitose ở tập 635. Nó tình nguyện bảo vệ những Pokemon ở khu rừng mặc dù đôi khi hơi bị quá. Sau này, nó chính là một người hòa giải ở trong nhóm của Satoshi. Tính tình hiền lành, rất sốc khi mất tốc độ của mình sau khi tiến hóa.
  • Hikozaru: Thu phục ở tập 521. Tiến hóa thành Moukazaru ở tập 601. Tiến hóa thành Goukazaru ở tập 632. Chủ của nó là đối thủ của Satoshi - Shinji. Sau trận đấu đôi cùng với Satoshi, cậu ta đã không ngần ngại bỏ rơi nó. Satoshi chứng kiến tất cả nên đã mời nó về đội của mình. Trong thời gian ở cùng với Satoshi, nó vượt qua được những nỗi sợ hãi mà khi ở chung với chủ cũ và vui vẻ sống như bao Pokemon khác. Chính vì sự tập luyện khắc nghiệp của Shinji, nó thường hay bị mất kiểm soát bản thân khi bản thân bị đưa vào tình thế cuối (lúc ấy sẽ sản sinh ra năng lực đặc biệt của nó). Nhưng nhờ sự tin tưởng và giúp đỡ của Satoshi, nó đã kiểm soát được năng lượng của bản thân và chính nhờ vậy mà nó tiến hóa ở cấp độ cao nhất và trở thành pokemon chủ lực của Satoshi ở vùng Sinnoh. Sau này, nó đã chứng minh với Shinji rằng việc cậu từ bỏ nó là điều sai lầm.
  • Buoysel: Trao đổi với Hikari ở tập 524. Nó được coi là pokemon chủ lực của Satoshi trước khi Hikozaru tiến hóa đến cấp độ cao nhất.
  • Gliger: Thu phục ở tập 533. Tiến hóa thành Glion ở tập 554. Chia tay ở tập 623 để luyện tập với bậc thầy thi đấu trên không. Khi đến liên minh Sinnoh, nó quay trở lại để cùng Satoshi chiến thắng ở vòng loại. Nó rất thích Satoshi bằng cách hạ cách trên người của cậu.
  • Fukamaru: Thu phục ở tập 626. Nó thích cắn đầu Satoshi.

Vùng Isshu:

  • Mamepato: Thu phục ở tập 662. Tiến hóa thành Hatoboh ở tập 682. Tiến hóa thành Kenhoron ở tập 730. Là Pokémon giống cái thứ 3 mà Satoshi có, tuy nhiên Satoshi không biết điều đó cho đến khi nó giúp cậu thu phục được Snivy.
  • Mijụmaru: Thu phục ở tập 663. Là một trong 3 Pokémon ở phòng thí nghiệm dành tặng cho những nhà huấn luyện mới, tuy nhiên nó đã tự nguyện đi theo Satoshi. Khi tức giận nó hay ném vỏ sò của mình xuống đất rồi nhặt lên lại. Rất mê gái, tham ăn và nhát gan nhưng đôi lúc lại rất dũng cảm. Nó luôn muốn được Satoshi chọn để thi đấu (nó có thể tự ra khỏi Pokeball)
  • Pokabu: Thu phục ở tập 664. Nó đã bị nhà huấn luyện cũ bỏ rơi và trở thành Pokémon hoang dã, và đã tự nguyện đi theo Satoshi sau khi nó nhận ra tình thương của Satoshi dành cho Pokemon. Tiến hóa thành Chaoboo ở tập 730. Đã gặp lại chủ cũ của mình và đã chứng tỏ rằng mình không hề yếu đuối như chủ nó nghĩ.
  • Tsutarja: Thu phục ở tập 667. Là một Pokémon giống cái có đẳng cấp cao. Nó đã từ bỏ nhà huấn luyện cũ vì cho rằng không xứng đáng, nó đã chịu để Satoshi thu phục sau khi chứng kiến tình cảm của Satoshi dành cho Pokémon của mình.
  • Zuruggu: Nở từ trứng ở tập 677. Là một Pokémon khá lưu manh, nó gặp ai cũng muốn đánh, sau khi được Satoshi cứu thì nó chịu nghe lời hơn. Rất thích chơi với Kibago của Iris.
  • Kurumiru: Thu phục ở tập 678. Tiến hóa thành Kurumayu ở tập 685.Tiến hóa thành Hahakomori ở tập 736. Là một Pokémon thích chiến đấu. Lúc đầu nó không có cảm tình với Satoshi vì Satoshi đã có ý định thu phục nó. Nhưng sau khi 2 lần Satoshi cứu nó, nó đã cảm mến và tình nguyện đi theo Satoshi.
  • Gamagaru: Thu phục ở tập 695. Là một Pokémon mạnh mẽ, biết nhiều chiêu thức tấn công. Trước khi được Satoshi thu phuc thì nó rất thân với một con Muggyo (sau đó là Pokemon của Cilan)
  • Dangoro: Thu phục ở tập 697. Nó đi theo Satoshi sau khi được cậu cứu khỏi đội Hỏa tiễn. Tiến hóa thành Gantle ở tập 723.
  • Meguroco: Xuất hiện ở tập 663. Tiến hóa thành Waruvile ở tập 680. Thu phục ở tập 727. Tiến hóa thành Waruvial ở tập 754. Là Pokémon đầu đàn ở khu nghỉ mát suối nước nóng, vì muốn chiến đấu với Pikachu của Satoshi nên nó đã đi theo sau nhóm Satoshi. Tính tình rất nhút nhát mỗi khi bị mất đôi mắt kính râm.

Vùng Kalos:

  • Keromatsu: Thu phục ở tập 806. Tiến hóa thành Gekogashira ở tập 856.Tiến hóa thành Gekkouga ở tập 904. Sau khi cùng Satoshi cứu Gaburias, nó đã chặn ở trước phòng nghiên cứu của giáo sư Platane và đưa cho Satoshi quả cầu Pokeball của mình, đây là Pokemon đầu tiên của Satoshi tại vùng Kalos này. Nó và Satoshi có một mối liên kết mạnh mẽ do sự thấu hiểu sâu sắc lẫn nhau nên đã tạo ra một hình dạng mới của Gekkouga (Satoshi-Gekkouga). Chia tay ở tập 943.Vì muốn cứu vùng Kalos thoát khỏi thảm họa của Furadari nên đã đi cùng với Zygarde.
  • Yayakoma: Thu phục ở tập 807. Tiến hoá thành Hinoyakoma ở tập 840.Tiến hóa thành Fiarrow ở tập 890.
  • Ruchaburu: Thu phục ở tập 839. Nhà vô địch của khu rừng, nó bảo vệ những Pokemon yếu trong khu rừng, sau trận chiến với Machamp, nó đã đấu với Satoshi tuy hòa nhưng nó vẫn muốn theo nhóm Satoshi và các bạn.
  • Numera: "Rơi" vào mặt Satoshi ở tập 859. Tiến hóa thành Numeil ở tập 865. Tiến hóa thành Numelgon ở tập 869. Chia tay ở tập 874. Sau đó, nó qua trở về để giúp đỡ Satoshi trong cuộc chiến với Shota ở liên minh Kalos (tập 930). Nhưng sau khi diễn ra cuộc chiến sống còn ở Kalos, nhóm Satoshi đã tiễn nó trở về rừng (tập 943).
  • Onbat:Nở từ trứng ở tập 880. Tiến hoá thành Onvern ở tập 914. Nó xem Satoshi là cha mẹ của mình và Ruchaburu là hình tượng để mình học hỏi. Cũng chính vì tình thương với Ruchaburu nên nó mới có động lực để tiến hóa.

Vùng Alola:

  • Rowlet: Là Pokémon đầu tiên mà Satoshi bắt được ở vùng Alola vào tập 948. Nó rất ham ăn. Nó hay ngủ được trong cái balo của Satoshi.
  • Rockruff: Là Pokemon mà Satoshi bắt được ở tập 959 sau khi học được chiêu Ném. Tiến hóa thành Lugarugan ở tập 981. Hình dạng tiến hóa của nó là một dạng đặc biệt (Hình dạng Chạng Vạng)
  • Nyabbi: Xuất hiện ở tập 951. Thu phục tại tập 965. Là một con mèo hoang sống chung với chú chó già Mooland. Là pokemon có tính cách mạnh mẽ và rất quý Mooland. Cậu đã tin tưởng và đi theo Satoshi sau cái chết của Mooland.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Full-length TV specials[sửa | sửa mã nguồn]

Normal-length TV specials[sửa | sửa mã nguồn]

Kì nghỉ đông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngắn chuyến bay ANA[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội mùa hè của Pikachu (ピカチュウのなつまつり Pikachū no Natsumatsuri)
là phim ngắn đầu tiên được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2004.
Lễ hội ma quỷ của Pikachu (ピカチュウのおばけカーニバル Pikachū no Obake Kānibaru)
là phim ngắn thứ 2 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2005.
Hòn đảo kỳ quái của Pikachu / Chuyến phiêu lưu đảo của Pikachu (ピカチュウのわんぱくアイランド Pikachū no Wanpaku Airando)
là phim ngắn thứ 3 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2006 và phim Pokémon: Ngôi đền đại dương được phát hành DVD ở Mỹ.
Pikachu's Exploration Club (ピカチュウたんけんクラブ Pikachū Tanken Kurabu)
là phim ngắn thứ 4 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2007.
Pikachu's Great Ice Adventure (ピカチュウ 氷の大冒険 Pikachū Kōri no Daibōken)
là phim ngắn thứ 5 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2008.
Pikachu's Great Sparking Search (ピカチュウのキラキラだいそうさく Pikachū no Kirakira Daisōsaku)
là phim thứ 6 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2009 và phim Pokémon Ranger: Locus of Light được phát hành DVD ở Nhật Bản.
Pikachu's Strange Wonder Adventure (ピカチュウのふしぎなふしぎな大冒険 Pikachū no Fushigina Fushigina Daibōken)
là phim ngắn thứ 7 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2010.
Pikachu's Summer Bridge Story (ピカチュウのサマー・ブリッジ・ストーリー Pikachū no samā burijji sutōrī)
là phim ngắn thứ 8 được ra mắt trên chuyến bay ANA vào ngày 1 tháng 8 năm 2011.

3D ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon 3D Adventure: Find Mew! (ポケモン3Dアドベンチャー ミュウを探せ! Pokemon 3D Adobenchā: Myū o Sagase!)
là phim ngắn Pokémon 3D đầu tiên được chiếu tại Công viên Pokémon (PokéPark) ở Nhật Bản năm 2005, và cũng được chiếu tại PokéPark ở Đài Loan năm 2006.
Pokémon 3D Adventure 2: Pikachu's Big Undersea Adventure (ポケモン3Dアドベンチャー2 ピカチュウの海底大冒険 Pokemon 3D Adobenchā 2: Pikachū no Kaitei Daibōken)
là phim ngắn Pokémon 3D thứ 2 được chiếu ở Nhật Bản năm 2007.
Pokémon BW: The Celestial Globe of Light and Shadows! (ポケットモンスター ベストウイッシュ 光と影のテンキュウギ)
là phim ngắn 3D được chiếu tại Nhật Bản năm 2011.

Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Chronicles[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Origins[sửa | sửa mã nguồn]

Đa chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Weekly Pokémon Broadcasting Station[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Sunday[sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Smash![sửa | sửa mã nguồn]

Pokémon Get TV[sửa | sửa mã nguồn]

Công chiếu và sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, phim anime được phát sóng trên kênh HTV3 (phần Best Wishes) từ ngày 25 tháng 1 năm 2014 [1], riêng phần XY dự kiến phát sóng phần XY và Kalos Quest trên kênh VTV2 bắt đầu từ ngày 28 tháng 9 năm 2015 [2]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Bản mẫu:Kids' WB