Lịch sử Áo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tiền Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ đồ đá mới, lãnh thổ của nước Áo ngày nay là quê hương của nền văn hóa gốm tuyến tính, một trong những nền văn hóa nông nghiệp đầu tiên ở châu Âu.

Người băng Ötzi, xác ướp của một người được bảo quản tốt đông lạnh trong dãy núi Anpơ của Áo, có niên đại từ năm 3300 TCN.

Đầu Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn di cư, các bộ lạc Slav của người Carantania di cư vào dãy Anpơ trong thời kỳ bành trướng của những lãnh chúa Avar trong thế kỷ thứ 7, người Carantania pha trộn với dân số Celt-Germanic, và thành lập vương quốc Carantania, trong đó bao gồm phần lớn phía đông và trung tâm lãnh thổ Áo. Trong khi đó, các bộ lạc Germanic của người Bavaria phát triển trong thế kỷ thứ 5 và 6 ở phía tây của Áo và tại Bavaria, khu vực Vorarlberg ngày được định cư bởi những người Alamanni. Những nhóm này hòa trộn với dân số Rhaeto-Romanic và đẩy nhóm người Rhaeto-Romanic lên các khu vực vùng núi.

Carantania, dưới áp lực của người Avar, mất độc lập vào tay Bavaria năm 745 và trở thành một bá tước. Trong những thế kỷ sau, người định cư Bavarian đã di chuyển xuống khu vực sông Danube và lên dãy núi Alps, một quá trình mà qua đó, Áo đã trở thành nước chủ yếu nói tiếng Đức như ngày nay.

Người Bavaria sau đó chịu sự thống trị của những người Frank Carolingia và sau đó là một công quốc của Thánh chế La Mã. Công tước Tassilo III, người muốn duy trì độc lập của Bavaria, đã bị đánh bại và thay thế bởi Charlemagne trong năm 789.

Biên giới phía đông (orientalis marchia) được thành lập trong thời gian cai trị của Charlemagne, nhưng biên giới này cũng bị người Hungary tràn qua trong năm 909.

Áo thuộc triều đại Babenberg[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi người Hungary bị đánh bại bởi Otto Đại đế trong trận Lechfeld (955), những biên giới mới được thành lập ở khu vực ngày nay là Áo. Khu vực biên giới orientalis marchia đã trở thành lãnh thổ chính của Áo và đã được trao cho Leopold của Babenberg trong năm 976 sau cuộc nổi dậy của Henry II, Công tước xứ Bavaria.

Những tài liệu đầu tiên cái tên Áo xuất hiện là vào năm 996 khi cái tên này được viết trong Ostarrîchi, nhằm chỉ tới lãnh thổ biên giới Babenberg. Thuật ngữ Ostmark chưa được xác định trong lịch sử và được xem là dịch từ marchia orientalis màu sau này mới xuất hiện.

Các thế kỷ sau đã được đánh dấu bởi những dòng di cư đầu tiên, khi rừng bị phá, các thị xã và tu viện được thành lập. Năm 1156 Privilegium Minus nâng Áo lên vị trí một công quốc. Năm 1192, những người Babenberg cũng đã giành được công quốc Styria thông qua Hiệp ước Georgenberg. Vào thời gian đó, Các công tước Babenberg là một trong những gia đình cầm quyền có ảnh hưởng nhất trong khu vực, đạt đến đỉnh cao trong triều đại của Leopold VI (1198-1230).

Tuy nhiên, sau khi con trai ông là Frederick II bị giết hại trong năm 1246, dòng họ bị tuyệt vong, điều này dẫn đến interregnum, một khoảng thời gian vài thập kỷ, trong đó vị thế của đất nước trở thành vấn đề trong. Přemysl Otakar II của Bohemia kiểm soát hiệu quả các công quốc Áo, Styria và Carinthia. Triều đại của ông chấm dứt sau thất bại vào tay của Rudolf của Habsburg trong trận Dürnkrut và Jedenspeigen vào năm 1278.

Triều đại Habsburg (thế kỷ 13 tới 1918)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi triều đại Babenberg chấm dứt vào thế kỷ 13, Áo đã trải qua một thời gian ngắn chịu sự cai trị của vua Séc Otakar II. Tranh cãi về cuộc bầu cử nhằm đưa Rudolf I của Habsburg thành Hoàng đế, Otakar đã bị đánh bại và bị giết bởi vua Đức, người đã chiếm Áo và trao quyền cai tri cho con trai của ông vào năm 1278. Áo được cai trị bởi nhà Habsburg trong 640 năm tiếp theo. Trong thế kỷ 14 và 15, nhà Habsburg bắt đầu sáp nhập các tỉnh lân cận công quốc Áo, khi đó vẫn là một công quốc nhỏ dọc theo sông Danube, cùng với Styria, công quốc mà họ đã giành được từ Ottokar cùng giai đoạn với Áo. CarinthiaCarniola bị nhà Habsburg xâm chiếm trong năm 1335, Tyrol trong năm 1363.

Lịch sử hai thế kỷ sau đó chứng kiến rất nhiều thăng trầm. Sau sự cai trị trong một thời gian ngắn của Rudolf IV, hai người anh em của ông là Albert IIILeopold III phân chia lãnh thổ trong Hiệp ước Neuberg năm 1379. Albert giữ quyền kiểm soát Áo, trong khi Leopold chiếm phần lãnh thổ còn lại. Năm 1402, lại có một cuộc chia cắt nữa trên đường ranh giới Leopoldia, khi Ernest người sắt đã chiếm phần nội địa Áo (Styria, Carinthia và Carniola) và Frederick IV đã trở thành người cai trị của Tyrol và Áo mở rộng. Các vùng lãnh thổ chỉ được thống nhất bởi con trai của Ernest là Frederick V (Frederick III là hoàng đế La Mã Thần thánh), khi đường ranh giới Albertinia (1457) và đường ranh giới Elder Tyrolean (1490) bị xóa bỏ.

Năm 1438, Công tước Albert V của Áo được chọn làm người thừa kế ngôi vàng của cha vợ, Hoàng đế Sigismund. Mặc dù bản thân Albert chỉ trị vì trong một năm, từ đó về sau, mọi hoàng đế của Áo đều thuộc dòng họ Habsburg, chỉ có một ngoại lệ. Nhà Habsburg cũng tiếp tục quá trình mở rộng lãnh thổ. Năm 1477, Maximilian Archduke, người con trai duy nhất của Hoàng đế Frederick III, kết hôn với người thừa kế của Burgundy, do đó dành quyền kiểm soát hầu hết các quốc gia thuộc vùng đất thấp cho gia đình. Người con trai của ông Philip Công bằng kết hôn với người thừa kế của của Castile và Aragon, và do đó cũng dành thêm được Tây Ban Nha, các vùng đất ở Ý, châu Phi, và Tân Thế giới cho nhà Habsburg. Tuy nhiên, các lãnh thổ của nhà Habsburg đã nhanh chóng bị tách ra khỏi đế chế rộng lớn này khi vào năm 1520, Hoàng đế Charles V trao quyền cai trị của người em của mình, Ferdinand.

Áo và cuộc Cải cách (1526–1618)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1526, sau trận Mohács, trận chiến mà người anh vợ của Ferdinand là Louis II, vua của Hungary và Bohemia, đã bị giết chết, Ferdinand bành trướng lãnh thổ của mình, đưa Bohemia và phần Hungary không bị chiếm đóng bởi Đế quốc Ottoman dưới sự cai trị của ông. Sự bành trướng của nhà Habsburg vào Hungary đã dẫn đến những xung đột thường xuyên với người Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là cái gọi là cuộc Chiến tranh giai đoạn 1593-1606.

Áo và các tỉnh khác của nhà Habsburg (Hungary và Bohemia) bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc cải cách này. Mặc dù những nhà cai trị Habsburg vẫn là những người Công giáo, các tỉnh tự chuyển đổi sang Giáo hội Luther, điều mà Ferdinand I và người kế nhiệm ông, Maximilian II, Rudolf II, và Mathias phần lớn chấp thuận.

Áo và Chiến tranh ba mươi năm[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nổi lên của Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Charles VI và Maria Theresa (1711–1780)=[sửa | sửa mã nguồn]

Sự trị vì của Joseph II và Leopold II (1780–1792)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời đại Cách mạng Pháp và Napoleon (1792–1814)[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Áo thuộc Đức và Cộng hòa Thứ nhất (1918–1934)[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa phát xít Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Sự xâm lược của Phát xít Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Thứ hai (từ 1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]