Tôn giáo tại Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà thờ Quốc gia Washington, ở Washington, D.C., là một nhà thờ của Giáo hội Tân giáo.

Tôn giáo tại Hoa Kỳ rất đa dạng về các tín ngưỡng và lễ nghi, và có số lượng tín hữu khá cao. Theo các cuộc thăm dò ý kiến gần đây, 76% tổng số dân Hoa Kỳ nhận họ theo Kitô giáo (trong đó, 52% theo Tin Lành, 24% theo Công giáo Rôma), 1% theo Do Thái giáo và 1% theo Hồi giáo. Theo một cuộc khảo sát khác, 40% nói rằng họ tham dự các buổi lễ gần như mỗi tuần hay nhiều hơn, và 58% nói rằng họ cầu nguyện ít nhất mỗi tuần.[1] Đa số người Mỹ cho biết tôn giáo đóng một vai trò "rất quan trọng" trong cuộc đời họ, một tỷ lệ bất thường tại một nước phát triển.[2] Nhiều tôn giáo đã nở rộ tại Hoa Kỳ, kể cả các tôn giáo được bắt nguồn từ đây và các tôn giáo được các người nhập cư đưa vào sau này; vì thế, Hoa Kỳ là một trong những nước có tôn giáo đa dạng nhất.[3]

Theo cuộc khảo sát "Nhận thức Tôn giáo người Mỹ" thì số người nhận định họ theo Kitô giáo đã giảm từ 86% còn lại 77%, Do Thái giáo giảm số lượng nhỏ, số lượng người theo đạo Hồi tăng gấp đôi, Ấn độ giáo và Phật giáo cũng gia tăng số lượng [4] Những tôn giáo như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, và Do Thái giáo), gọp lại chiếm khoảng 3,9% đến 5,5% dân số người dân đã trưởng thành.[4][5][6] Thêm vào đó, 15% dân số đã trưởng thành tự nhận rằng họ không có tín ngưỡng hay tôn giáo.[4] Khi được hỏi, khoảng 5,2% nói rằng họ không biết, hay không chịu trả lời.[4] Theo Thăm dò Nhận thức Tôn giáo, tín ngưỡng có nhiều sự khác biệt khắp nước: 59% người Mỹ ở các tiểu bang miền Tây cho rằng họ tin vào Thượng đế, trong khi ở miền Nam (mệnh danh là "Vòng đai Kinh Thánh"), con số này cao đến 86%.[4][7]

Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp cấm Chính phủ liên bang ban hành "luật liên quan đến việc thiết lập tôn giáo", và bảo đảm tự do hành đạo. Tối cao Pháp viện đã giải thích rằng việc này có nghĩa rằng tôn giáo là một vấn đề riêng tư trong cuộc sống của người Mỹ, chính quyền không có quyền lực gì liên quan đến tôn giáo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lúc Mỹ vẫn còn là thuộc địa, khi người nhập cư từ Anh và Đức đã đến Mỹ để tìm tự do tôn giáo, Mỹ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo.[8] Sự ảnh hưởng đó vẫn tiếp tục đến ngày nay, và được thể hiện trong văn hóa, cuộc sống xã hội, và chính trị.[9]

Một số trong Mười ba thuộc địa đầu tiên được thành lập bởi những người muốn được hành đạo mà không bị kỳ thị: Thuộc địa Vịnh Masachusetts bởi tín hữu Thanh giáo Anh, Pennsylvania bởi những tín hữu Quaker, Maryland bởi những tín hữu Công giáo, và Virginia bởi những tín hữu Anh giáo.

Tự do tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù một số tiểu bang ở vùng New England tiếp tục dùng tiền thuế vào ngân quỹ của các giáo hội cho đến thập niên 1830, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên không có quốc giáo.[10]

Theo mô hình của Luật Tự do Tôn giáo Virginia, những người viết Hiến pháp đã loại bỏ bất cứ tiêu chuẩn tôn giáo nào cho các chức vụ trong chính quyền, và Tu chính án thứ nhất đã cụ thể cấm Chính phủ liên bang ban hành luật thiết lập tôn giáo hay cấm hành đạo. Vì thế, các tổ chức và cơ quan tôn giáo không bị chính quyền quấy nhiễu. Quyết định này là do sự ảnh hưởng từ các quan niệm Duy lý là Kháng cách từ châu Âu, nhưng một phần là do các nhóm tôn giáo nhỏ và các tiểu bang nhỏ lo ngại rằng họ sẽ bị thống trị bởi một quốc giáo không đại diện họ.[11]

Các tôn giáo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Hoa Kỳ [12]
Tôn giáo percent
Kitô giáo
  
78.5%
Không tôn giáo
  
16.1%
Do Thái giáo
  
1.7%
Phật giáo
  
0.7%
Hồi giáo
  
0.6%
Ấn Độ giáo
  
0.4%
Tôn giáo khác
  
2%

Kitô giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa Pha Lê, một nhà thờ đại giáo đoàn Kháng Cách tại California, nay là một nhà thờ Công giáo

Tôn giáo lớn nhất Hoa Kỳ là Kitô giáo, chiếm đại đa số dân số (76% trong năm 2008[4]). Trong số những người được hỏi, 51,3% theo phong trào Kháng Cách (Tin Lành), 25% theo Công giáo, 1,7 là tín hữu Mặc Môn và 1,7% theo các giáo phái khác.[16] Kitô giáo được nhập vào từ châu Âu thời thuộc địa.

Theo thống kê năm 2000 của Yearbook of American and Canadian Churches, tính các giáo hội từ Hoa Kỳ và Canada, năm giáo phái lớn nhất là:[17]

Vì dân số đông và lịch sử, Hoa Kỳ có số lượng tín hữu Kitô giáo (và tín hữu Kháng Cách) cao hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Những người nhập cư từ Bắc Âu đã đưa Kháng Cách vào nước Mỹ. Trong các phong trào Kháng Cách, Anh giáo, Báp-tít, Thanh giáo, Trưởng Lão, Luther, Quaker, and Moravia là những giáo phái đầu tiên đến Hoa Kỳ và đã phát huy sớm nhất.

Người Tây Ban Nha, Pháp, và Anh đưa Công giáo đến. Những người Công giáo thường là người gốc Tây Ban Nha, Ireland, Scots, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Pháp, Hungary, Đức, và Liban.

Những người nhập cư từ Hy Lạp, Ukraina, Nga, Trung và Đông Âu, Trung Đông, Ethiopia đã đem Chính Thống giáo Đông Phương đến Hoa Kỳ. Những giáo phái này ngày nay đã được truyền bá ngoài các nhóm dân tộc thiểu số.

Từ đó, các tín hữu Cơ đốc đã mở mang con đường riêng của họ. Trong các thời Đại Tỉnh thức những phong trào Tin LànhNgũ Tuần được thành lập, cùng với những giáo phái mới như Cơ đốc Phục Lâm và Phong trào Khôi phục, Nhân Chứng Giê-hô-va, và Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, còn gọi là Giáo hội Mạc Môn.

Ngày nay, với 16,6 triệu tín hữu (5,3% dân số), Báp-tít Nam Phương là giáo hội lớn nhất trong hơn 200 giáo phái Kháng Cách khác nhau.[18]

Không tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một cuộc thăm dò ý kiến do Tiến sĩ Ariela Keysar từ Đại học Thành phố New York (City University of New York) cho thấy thể loại "không tôn giáo" có mức độ tăng trưởng cao nhất trong số lượng và tỷ lệ. Trong con số này gồm có những người theo chủ nghĩa vô thần, bất khả thi, nhân văn, và các thuyết khác không tin vào thần thánh. Con số đã tăng lên từ 14,3 triệu năm 1990 đến 34,2 triệu năm 2008, tăng tỷ lệ từ 8% đến 15%.[4] Một cuộc khảo sát toàn quốc khác cho thấy con số người không tôn giáo đã lên đến 16,1%.[19]

Trong một cuộc khảo sát toàn quốc năm 2006, các nhà nghiên cứu từ Đại học Minnesota đã khám phá rằng mặc dù người Mỹ có thái độ chấp nhận hơn đối với sự đa dạng tôn giáo, những người không tôn giáo không được tín nhiệm lắm, và bị xếp thấp hơn cả các tín đồ Hồi giáo, những người nhập cư mới đến và những nhóm thiểu số khác trong việc "chia sẻ cái nhịn của họ về xã hội Mỹ". Người Mỹ cũng liên hệ người không tôn giáo với các tính nết không ưa như các hành đồng tội phạm, tin tưởng vào chủ nghĩa duy vật, và tánh tự cao văn hóa.[20][21] Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu này cũng cho thấy độ chấp nhận hay phản đối những người vô thần biến đổi theo kinh nghiệm, giáo dục, và vị thế chính trị—những người có học thức cao, sinh sống tại vùng ven biển miền Tây hay miền Đông có thái độ chấp nhận hơn là những người sống ở miền Trung Tây.[22]

Do Thái giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Kitô giáo và không tôn giáo, Do Thái giáo là nhóm tín ngưỡng lớn thứ ba tại Hoa Kỳ, mặc dù những người tự xưng là Do Thái không nhất thiết theo các phong tục tập quán của tôn giáo này.[4] Một con số đông người Mỹ tự xưng là người Do Thái căn cứ vào dân tộc hay văn hóa thay vì tôn giáo. Ví dụ, 19% người tự xưng là người Mỹ Do Thái tin rằng Thượng đế không tồn tại.[23] Một cuộc khảo sát năm 2001 dự đoán rằng có khoảng 5,3 triệu người trưởng thành là người Do Thái, trong đó 2,83 triệu là người theo đạo, 1,08 triệu không theo đạo nào, và 1,36 triệu theo đạo khác.[24][25]

Người Do Thái đã có mặt tại Mỹ từ thế kỷ 17, nhưng họ không nhập cư bằng số đông cho đến thế kỷ 19, do bị đàn áp tại Đông Âu. Khoảng 25% nhóm người này sống tại Thành phố New York.[26]

Theo điều tra dân số năm 2008, tổng số người Do Thái là 6.489.000 [2], tăng lên từ 6.141.325 năm 2000.

Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Hồi giáo Mỹ tại Michigan là đền thờ Hồi giáo lớn nhất Hoa Kỳ

Hồi giáo được du nhập vào Hoa Kỳ với các người nô lệ từ châu Phi. Khoảng 10% nô lệ từ châu Phi được đưa vào Hoa Kỳ là tín đồ Hồi giáo.[27] Tuy nhiên, hầu hết đều cải đạo theo Kitô giáo và số tín đồ Hồi giáo không đáng kể đến khi những người nhập cư từ các khu vực Ả Rập và Đông Á đông người theo đạo Hồi.[28] Tổ chức Hồi giáo đầu tiên là Cộng động Hồi giáo Ahmadiyya, thành lập năm 1921.[29] Giữa thế kỷ 20, Hồi giáo được biết đến nhiều hơn qua tổ chức Nation of Islam, một nhóm có đông người da đen theo sau thập niên 1940; những thành viên tổ chức này gồm có Malcolm XMuhammad Ali.[30][31]

Nghiên cứu cho thấy những người theo Hồi giáo ở Hoa Kỳ có xu hướng hội nhập và giàu có hơn người Hồi giáo ở châu Âu.[32][33] Tuy nhiên, các cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng mức độ hội nhập của họ thấp hơn các cộng đồng văn hóa và tôn giáo khác, đặc biệt là sau vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9.[34]

Theo một số nguồn, Hồi giáo là tôn giáo tăng trưởng nhanh nhất tại Hoa Kỳ.[35][36][37] Phần lớn độ tăng trưởng này là nhờ vào số người nhập cư và chỉ số sinh đẻ khá cao.[38] Khoảng một phần tư người Hồi giáo là người cải đạo, hầu hết là người Mỹ gốc Phi.[34] Có nhiều tranh cãi về con số tín đồ Hồi giáo tại Hoa Kỳ. Con số cao nhất được chấp nhận là 2,5 triệu vào năm 2009 (0,8% dân số).[39] Một số ngưồn khác ước tính cao đến 6-7 triệu.[40][41]

Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Tây Lai tại Los Angeles, California
Chùa Huệ Quang, Santa Ana, California

Phật giáo được du nhập vào Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 cùng với những người nhập cư từ Đông Á. Chùa đầu tiên tại Hoa Kỳ được thành lập tại San Francisco năm 1853 bởi những người Mỹ gốc Hoa.

Cuối thế kỷ 19 những nhà truyền giáo từ Nhật Bản đến Hoa Kỳ, cùng vào thời điểm này, giới trí thức Hoa Kỳ bắt đầu để ý đến Phật giáo.

Người Mỹ nổi tiếng đầu tiên quy y đạo Phật là Henry Steel Olcott. Một sự kiện góp phần tăng trưởng Phật giáo tại Hoa Kỳ là Nghị viện Các Tôn giáo Thế giới diễn ra năm 1893, có sự tham gia của các Phật tử từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, và Tích Lan.

Ướt tính số Phật tử tại Hoa Kỳ duy động từ 0,5%[4] đến 0,9%,[15]; con số 0,7% được CIA[5] và PEW công bố.[6]

Ấn Độ giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các giáo phái được thành lập tại Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Robert D. Putnam and David E Campbell, American Grace: How Religion Divides and Unites Us (2010) ch 1 at note 5
  2. ^ “U.S. Stands Alone in its Embrace of Religion”. Pew Global Attitudes Project. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2007. 
  3. ^ Eck, Diana (2002). A New Religious America: the World's Most Religiously Diverse Nation. HarperOne. tr. 432. ISBN 978-0060621599. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Barry A. Kosmin and Ariela Keysar (2009). “AMERICAN RELIGIOUS IDENTIFICATION SURVEY (ARIS) 2008” (PDF). Hartford, Connecticut, USA: Trinity College. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2009. 
  5. ^ a ă â “CIA Fact Book”. CIA World Fact Book. 2002. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2007. 
  6. ^ a ă â “Religious Composition of the U.S.”. U.S. Religious Landscape Survey. Pew Forum on Religion & Public Life. 2007. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  7. ^ Newport, Frank (28 tháng 7 năm 2008). “Belief in God Far Lower in Western U.S.”. The Gallup Organization. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ Sydney Ahlstrom, A Religious History of the American People (Yale UP, 2nd ed. 2004) ISBN 0-300-10012-4
  9. ^ Kevin M. Schultz, and Paul Harvey, "Everywhere and Nowhere: Recent Trends in American Religious History and Historiography", Journal of the American Academy of Religion, March 2010, Vol. 78 Issue 1, pp. 129–162
  10. ^ Feldman, Noah (2005). Divided by God. Farrar, Straus and Giroux, pg. 10 ("For the first time in recorded history, they designed a government with no established religion at all.")
  11. ^ Marsden, George M. 1990. Religion and American Culture. Orlando: Harcourt Brace Jovanovich, pp. 45–46.
  12. ^ “US Religious Landscape Survey”. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ a ă â b “The Association of Religion Data Archives (ARDA), Year 2000 Report”. ARDA. 2000. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2010. 
  14. ^ Ihsan Bagby, Paul M. Perl, Bryan T. Froehle (2010-02-20) [1]. Council on American-Islamic Relations (Washington, D.C.). Retrieved on 2010-02-20.
  15. ^ a ă “The Religious Freedom Page”. University of Virginia Library. 
  16. ^ Paulson, Michael (26 tháng 2 năm 2008). “US religious identity is rapidly changing”. The Boston Globe.  Boston Globe
  17. ^ http://www.ncccusa.org/news/100204yearbook2010.html News from the National Council of Churches
  18. ^ http://www.sbcec.net/bor/2007/2007SBCAnnual.pdf
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên pewstudy
  20. ^ “Atheists Are Distrusted”. 3 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  21. ^ Paulos, John Allen (2 tháng 4 năm 2006). “Who's Counting: Distrusting Atheists”. ABC News. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  22. ^ “Atheists identified as America's most distrusted minority, according to new U of M study”. UMN News. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2006. 
  23. ^ While Most Americans Believe in God, Only 36% Attend a Religious Service Once a Month or More Often
  24. ^ “RELIGION AND IDENTITY: HISPANICS & JEWS”. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2008. 
  25. ^ “American Religious Identification Survey”. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 
    Kosmin, Mayer & Keysar (19 tháng 12 năm 2001). “American Identification Survey, 2001” (PDF). The Graduate Center of the City University of New York. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 
  26. ^ “Jewish Community Study of New York” (PDF). United Jewish Appeal-Federation of New York. 2002. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2008. 
  27. ^ Tweed, Thomas A. “Islam in America: From African Slaves to Malcolm X”. National Humanities Center. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ Kambiz GhaneaBassiri, A History of Islam in America: From the New World to the New World Order (Cambridge University Press; 2010) pp. 59–94
  29. ^ Official site
  30. ^ Mattias Gardell, In the Name of Elijah Muhammad: Louis Farrakhan and The Nation of Islam (Duke University Press, 1996)
  31. ^ C. Eric Lincoln, The Black Muslims in America (3rd ed. Eerdmans, 1994)
  32. ^ Zogby phone survey
  33. ^ “America's Muslims after 9/11”. Voice of America. 
  34. ^ a ă Muslim Americans Pew Research Center. Retrieved on 2009-07-03.
  35. ^ CoNexus Press-SourceBook Project (1995). A sourcebook for earth's community of religions. pp. 60.
  36. ^ New World Library (2000). Sourcebook of the world's religions: an interfaith guide to religion and spirituality. pp. 74.
  37. ^ Greenwood Publishing Group (2007). Voices of Islam: Voices of change. pp. 54.
  38. ^ Muslim population set to outpace others
  39. ^ Mapping the Global Muslim Population Pew Research Center. October 2009. Retrieved on 2010-01-02.
  40. ^ Ilyas Ba-Yunus (1997). Muslim of Illinois: A Demographic Report. Chicago: East-West University. tr. 9. “William B. Milam the U.S. Ambassador to Pakistan states that there are seven million Muslims in America” 
  41. ^ http://www.cair.com/Portals/0/pdf/The_Mosque_in_America_A_National_Portrait.pdf