Triệu Tiệp dư (Hán Vũ Đế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Câu Dặc phu nhân)
Jump to navigation Jump to search
Triệu Tiệp dư
趙婕妤
Hán Vũ Đế phi tần
Gou yi fu ren.jpg
Hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị (truy tặng bởi Hán Chiêu Đế)
Thông tin chung
Phu quân Hán Vũ Đế
Hậu duệ Hán Chiêu Đế
Tước hiệu Tiệp dư (婕妤)
Câu Dặc phu nhân (钩弋夫人)
Hoàng thái hậu (thụy phong)
Sinh 113 TCN
huyện Vũ Viên, nay là Túc Ninh, Hà Bắc
Mất 88 TCN
Vân Dương cung (雲陽宮)
An táng Vân lăng (雲陵), cũng gọi Nữ lăng (女陵)

Triệu Tiệp dư (chữ Hán: 趙婕妤; 113 TCN - 88 TCN), thường được biết đến qua biệt hiệu Câu Dặc phu nhân (钩弋夫人), là một phi tần của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, mẹ sinh của Hán Chiêu Đế Lưu Phất Lăng.

Truyền thuyết về cái chết của bà rất nổi tiếng trong lịch sử. Tương truyền khi đó, Hán Vũ Đế tuổi đã cao, chỉ định con út Phất Lăng làm Thái tử. Lo sợ việc Thái tử kế vị còn quá nhỏ tuổi, Tử ấu mẫu tráng (子幼母壮); mà Triệu tiệp dư còn trẻ sẽ làm Hoàng thái hậu, lâm triều xưng chế như Lữ hậu trước kia, nên Hán Vũ Đế đã ra lệnh xử tử Triệu tiệp dư.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu tiệp dư người huyện Vũ Viên, nay là Túc Ninh, Hà Bắc. Bà có tư sắc diễm lệ, nổi tiếng trong vùng, thế nhưng nắm tay của bà từ khi lọt lòng cứ luôn nắm chặt, nên có biệt danh Quyền phu nhân (拳夫人). Một ngày, Hán Vũ Đế thị sát vùng Hà Giang, nghe mỹ danh và câu chuyện lạ của Triệu thị, bèn triệu kiến. Khi gặp Vũ Đế, tay của Triệu thị bỗng nhiên xòe ra được, bên trong tay nắm rõ một cái móc bằng ngọc, từ đó bà có biệt danh Câu Dặc phu nhân.

Phu nhân sau đó được Vũ Đế sủng hạnh, sắc phong làm Tiệp dư (婕妤), cư ngụ tại Câu Dặc cung (鉤弋宮). Năm 94 TCN, Triệu tiệp dư sinh hạ một người con trai, là Hoàng tử thứ sáu của Hán Vũ Đế, tên Lưu Phất Lăng (刘弗陵). Tương truyền, Triệu tiệp dư mang thai tới 14 tháng, bằng số thời gian mà Đế Nghiêu được mang thai; sử quan biết chuyện tâu lên chúc mừng Vũ Đế, còn Vũ Đế tuổi già nghe tin ấy mà mừng vui, hạ chiếu đổi tên cửa của Câu Dặc cung làm Nghiêu Mẫu môn (尧母门).

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, Câu Dặc phu nhân Triệu tiệp dư bạo bệnh mà chết. Nhưng truyền thuyết lưu truyền lại hoàn toàn khác biệt. Khi Án Vu cổ kết thúc, ngôi vị Thái tử còn trống, Hán Vũ Đế đã lập Phất Lăng làm Thái tử, nhưng lại lo sợ mẹ của Thái tử là Triệu tiệp dư sẽ can thiệp. Ít lâu sau đó, Hán Vũ Đế cố ý tìm một khuyết điểm của Triệu tiệp dư và gay gắt quở trách.

Triệu tiệp dư gỡ bỏ tất cả những đồ trang sức đeo trên người, rồi dập đầu tạ tội. Vũ Đế dù cảm thấy rất đáng thương, nhưng vẫn hạ lệnh cho thần hạ của mình:"Hãy dẫn bà ấy tống vào Đình ngục"[1][2].

Triệu tiệp dư cứ bước đi một bước lại quay đầu nhìn, đôi mắt như van xin, nhưng Vũ Đế khoát tay nói:"Hãy đi cho mau, nhà người đừng mong chi được sống sót!"[3]

Bị tra khảo và ép chết, Triệu tiệp dư qua đời ở Vân Dương cung (雲陽宮). Ngày xử tử Triệu tiệp dư, mây mù ảm đạm, gió to thét gào. Bá tánh hay tin, không ai là không cảm thấy thương tiếc, một giai nhân trẻ tuổi và ngây thơ như thế, mà lại chấm dứt cuộc đời quá ư bi thảm.

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự kiện xử tử Triệu tiệp dư, Hán Vũ Đế biết trong dân gian và cung đình đều bất bình trước quyết định xử tử Triệu tiệp dư của mình, bèn hỏi chuyện các quan tả hữu. Thị tòng hồi đáp:"Bên ngoài đâu đâu cũng khiến trỉ Bệ hạ hà khắc, nếu Bệ hạ đã quyết định lập con của Câu Dặc phu nhân làm Thái tử, cớ sao còn xử tử phu nhân?"

Hán Vũ Đế ung dung trả lời:"A! Những kẻ ngu độn các ngươi vẫn chưa minh bạch chăng. Từ xưa đến nay, triều đại hỗn loạn, căn nguyên cũng vì [Chủ thiếu mẫu tráng; 主少母壯] họa hoạn. Nữ chúa độc quyền trong cung cấm, kiêu căng chuyên quyền, gây ra chuyện dâm loạn, lũng đoạn triều cương. Các ngươi chưa nghe qua cớ sự của Lữ hậu ư ?"

Về sau, triều đại Bắc Ngụy dựa vào điển tích Hán Vũ Đế giết Câu Dặc phu nhân, mà đề ra quy định trong hậu cung; khi một Hoàng tử được lập làm Thái tử, thì người mẹ phải chết, được gọi là [Sát mẫu lập Tử; 杀母立子]. Quy định này làm hậu cung Bắc Ngụy ai oán một thời, vô số cung phi xem việc sinh hạ Thái tử trở thành ác mộng.

Hậu kì[sửa | sửa mã nguồn]

Hán Chiêu Đế tức vị, truy phong Triệu tiệp dư làm Hoàng thái hậu. Ông ra lệnh cho 2 vạn nhân công xây lăng mộ cho mẹ mình, gọi là Vân lăng (雲陵) hoặc Nữ lăng (女陵). Đồng thời truy tôn ngoại tổ phụ làm Thuận Thành hầu (顺成侯)[4].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nơi chuyên thẩm án Hoàng gia tử đệ
  2. ^ Nguyên văn: 拉她走,送去掖庭獄!
  3. ^ Nguyên văn: 快走吧!妳不能再活下去!
  4. ^ Tam phụ hoàng đồ - 三輔黃圖 - quyển 6

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]