iPad Air 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

iPad Air 2
Apple iPad Air 2 Logo.svg
IPad Air 2.png
iPad Air 2 màu Gold
Nhà phát triểnApple Inc.
Nhà chế tạoFoxconn
Dòng sản phẩmiPad Air
LoạiMáy tính bảng
Thế hệThứ 2
Ngày ra mắt22 tháng 10, 2014
Giá giới thiệu$499 USD
499€ EUR
£399 GBP
$619 AUD
$549 CAD
Ngừng sản xuất21 tháng 3, 2017
Hệ điều hànhNguyên bản: iOS 8.1
Hiện tại: iPadOS 13.1.3, phát hành 15 tháng 10, 2019 (2019-10-15)
SoC đã sử dụngApple A8X với kiến trúc 64-bit và bộ đồng xử lý chuyển động Apple M8
CPU3 nhân 1.5GHz 64-bit ARMv8-A "Typhoon"[1]
Bộ nhớ2GB LPDDR3 RAM[2]
Lưu trữ16, 32, 64 hoặc 128 GB bộ nhớ flash
Hiển thị9,7 inch (250 mm) 2,048 x 1,536 px (264 ppi) tỉ lệ 4:3
Đồ họaPowerVR GXA6850[3]
Âm thanhStereo (2 loa dưới đáy)
Đầu vàoMàn hình cảm ứng đa điểm, headset controls, bộ đồng xử lý chuyển động M8, cảm biến tiệm cận và cảm biến ánh sáng, gia tốc kế 3 trục, con quay hồi chuyển 3 trục, la bàn kĩ thuật số, microphone kép, cảm biến vân tay Touch ID, áp kế[4]
Máy ảnhTrước: 1.2 MP, 720p HD, khẩu độ ƒ/2.2
Sau: Sony Exmor RS IMX134 8.0 MP AF, iSight với ống kính 5 thành phần, Hybrid IR filter, chống rung video, phát hiện gương mặt, HDR, khẩu độ ƒ/2.4
Bàn di chuộtKính
Kết nối
Wi-FiWi-Fi + Di động:
Wi-Fi 802.11 a/b/g/n/ac tại 2.4 GHz và 5 GHz và MIMO

Bluetooth 4.2

Wi-Fi + Di động:
GPS & GLONASS
GSM
UMTS / HSDPA
850, 1700, 1900, 2100 MHz
GSM / EDGE
850, 900, 1800, 1900 MHz
CDMA
CDMA/EV-DO Rev. A and B.
800, 1900 MHz
LTE
Đa băng tần
A1567: 1, 2, 3, 4, 5, 7, 8, 13, 17, 18, 19, 20, 25, 26, 28, 29 và TD-LTE 38, 39, 40, 41
Năng lượng27.8 W·h 3.76 V 27.62 W·h (7,340 mA·h)[2]
Dịch vụ trực tuyếnApp Store, iTunes Store, iBookstore, iCloud, Game Center
Kích thước240 mm (9,4 in) (h)
169,5 mm (6,67 in) (w)
6,1 mm (0,24 in) (d)
Trọng lượngWi-Fi: 437 g (0,963 lb)
Wi-Fi + Di động: 444 g (0,979 lb)
Người tiền nhiệmiPad Air
Kế vịiPad Air (thế hệ thứ 3)
Bài viết liên quaniPad Mini 4
Trang webiPad Air 2 tại Wayback Machine (lưu trữ 21 tháng 3, 2017)

iPad Air 2máy tính bảng iPad Air thế hệ thứ hai được Apple Inc. thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường. Nó được công bố vào ngày 16 tháng 10 năm 2014 cùng với sản phẩm iPad Mini 3, cả hai đều được phát hành vào ngày 22 tháng 10 năm 2014. iPad Air 2 mỏng hơn và nhanh hơn so với sản phẩm tiền nhiệm của nó, iPad Air, giới thiệu tính năng mới Touch ID. iPad Air 2 có thiết kế, chiều cao và kích thước màn hình tương tự như iPad Air.

iPad Air 2 đã bị ngừng sản xuất vào ngày 21 tháng 3 năm 2017. Sản phẩm kế tiếp của nó là iPad Air thế hệ thứ ba, được phát hành vào ngày 18 tháng 3 năm 2019.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

iPad Air 2 đã được công bố trong một sự kiện vào ngày 16 tháng 10 năm 2014 và là chiếc iPad đầu tiên có Touch ID. Chủ đề của sự kiện là "nó đã quá dài".[5] Air 2 bắt đầu đến các cửa hàng bán lẻ vào ngày 22 tháng 10 năm 2014. Khẩu hiệu cho thiết bị là Change Is in the Air. Với việc phát hành iPad Pro mới, khẩu hiệu cho thiết bị được đổi thành Light. Heavyweight.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần mềm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: iOS, iOS 8, iOS 9, iOS 10, iOS 11, iOS 12, và iPadOS

iPad Air 2 được cài đặt sẵn iOS 8 và bao gồm một phiên bản Apple Pay với chức năng NFC in-store đã bị loại bỏ. Cảm biến Touch ID đi kèm cho phép người dùng thanh toán cho các mặt hàng trực tuyến mà không cần nhập chi tiết thẻ của người dùng.

Hardware[sửa | sửa mã nguồn]

iPad Air 2 thừa hưởng phần cứng tương tự iPhone 6iPhone 6 Plus với sự thay đổi lớn về bộ xử lý so với Apple A8X, biến thể 3 nhân cao cấp của [ [Apple A8]]. iPad Air 2 có 2 GB RAM (biến iPad Air 2 trở thành thiết bị iOS đầu tiên có RAM hơn 1 GB) và GPU PowerVR 8 nhân.[6] Nó cũng sử dụng bộ đồng xử lý chuyển động Apple M8 có áp kế và là thế hệ đầu tiên của iPad thừa hưởng cảm biến vân tay Touch ID từ iPhone. Ngoài ra, so với iPad Air, nó bao gồm một camera phía sau 8 megapixel (3264 × 2448) được cải tiến với chế độ chụp liên tục 10 fps và video slow motion ở tốc độ 120 khung hình/giây, tương tự như camera của iPhone 5S. Camera FaceTime HD ở mặt trước cũng đã được cải tiến với khẩu độ ƒ/2.2 lớn hơn, cho phép thu được ánh sáng nhiều hơn 81%.[7] Apple đã thêm tùy chọn màu vàng cho các lựa chọn màu xám không gian và bạc hiện có cho iPad Air 2, các màu hiện có trước đây đã được sử dụng trên iPad Air trước đó.

Không giống như những người tiền nhiệm iPad của nó, cần gạt tắt tiếng/khóa xoay đã được loại bỏ để giảm độ mỏng. Thay vào đó, người dùng phải sử dụng đến Trung tâm điều khiển để truy cập các chức năng này.

Nó có pin nhỏ hơn một chút so với iPad Air, mặc dù Apple tuyên bố thời lượng pin 10 giờ như trước đây. iPad Air 2 có sẵn trong các tùy chọn lưu trữ 16, 32, 64 hoặc 128  GB mà không có tùy chọn lưu trữ mở rộng. Apple đã phát hành một "bộ kết nối máy ảnh" với đầu đọc thẻ SD, nhưng nó chỉ có thể được sử dụng để chuyển ảnh và video sang iPad.[8]

Timeline[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Timeline of iPad models

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kshitiz Jaiswal (ngày 21 tháng 10 năm 2014). “Another Geekbench result confirms triple core iPad Air 2 with 2GB RAM”. Gizmobic. 
  2. ^ a ă “iPad Air 2 Teardown”. iFixit. Ngày 22 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2014. 
  3. ^ “Apple A8X’s GPU - GXA6850, Even Better Than I Thought”. Anandtech. Ngày 11 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ Molen, Brad (ngày 16 tháng 10 năm 2014). “A first look at the iPad Air 2 and iPad mini 3”. Engadget. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2014. 
  5. ^ “‘It’s been way too long’: Apple sends out invites for Thursday, October 16th iPad & Mac event”. 9to5Mac. 
  6. ^ iPad Air 2 even more powerful than first thought. Retrieved 17 December 2014.
  7. ^ “Apple - iPhone 6 - Cameras”. Apple. 
  8. ^ Stevens, Tim (30 tháng 10 năm 2012). “iPad review (late 2012)”. Engadget. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]