Kurt Cobain

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kurt Cobain
Nirvana around 1992.jpg
Cobain cùng Nirvana trong đêm diễn 1992 MTV Video Music Awards.
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Kurt Donald Cobain
Nghệ danh Kurdt Kobain
Sinh 20 tháng 2, 1967(1967-02-20)
Aberdeen, Washington, U.S.
Mất khoảng 5 tháng 4, 1994 (27 tuổi)
Seattle, Washington, Hoa Kỳ.
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, người viết bài hát
Thể loại Alternative rock, grunge
Nhạc cụ Vocals, guitar
Năm 1987–1994
Hãng đĩa Sub Pop, DGC/Geffen
Hợp tác Nirvana, Fecal Matter
Nhạc cụ nổi bật
Fender Jag-Stang
Fender Jaguar
Fender Mustang
Fender Stratocaster
Martin D-18E
Univox Hi-Flier[1]

Kurt Donald Cobain (20 tháng 2 năm 1967-5 tháng 4 năm 1994) là một ca sĩ người Mỹ, được biết tới như một thủ lĩnh, một ca sĩ, một tay guitar điệu nghệ và là người viết nhạc cho Nirvana.

Với ca khúc Smells Like Teen Spirit thuộc album thứ hai mang tên Nevermind (1991), Nirvana trở thành tiên phong cho dòng nhạc Grunge. Nhạc của Nirvana nhanh chóng tràn ngập radio và những kênh âm nhạc của Mỹ đầu những năm 90. Kurt Cobain, với vai trò thủ lĩnh, được tôn vinh như "Người phát ngôn của một thế hệ". Nhưng tính thương mại hóa của âm nhạc khiến Cobain cảm thấy mệt mỏi và chán chường. Không chỉ Kurt, các thành viên còn lại của Nirvana đều thích biểu diễn ở những câu lạc bộ nhỏ, nơi họ cảm thấy âm nhạc của mình gần gũi với cuộc sống hơn.

Vào những năm cuối cùng của cuộc đời, với sự dày vò của bệnh tật, những bất đồng với 2 thành viên còn lại và cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng yên ấm, Kurt Cobain trở nên u uất và nghiện ngập. Ngày 8 tháng 4 năm 1994, xác của anh được tìm thấy tại nhà riêng ở Seattle.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kurt Donald Cobain sinh ngày 20 tháng 2 năm 1967 tại Aberdeen, Washington. Trong sáu tháng đầu đời, Kurt sống tại Hoquiam, Washington sau đó cùng gia đình chuyển tới Aberdeen. Cha của Kurt Cobain, ông Donald Leland Cobain mang trong mình dòng máu Ai-len và Pháp, còn mẹ, bà Wendy Elizabeth Fradenburg có đến 3 dòng máu: Ai-len, Đức và Anh ở trong người. Cobain có một người em gái tên Kimberly, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1970. Cobain bắt đầu mộc lộ năng hiếu âm nhạc từ rất nhỏ. Theo như bà cô Mari, "Cậu ấy hát từ khi lên hai. Thường hát những bài của The Beatles như Hey Jude. Kurt bộc lộ sức hút của mình từ khi còn rất nhỏ."

Cha mẹ Cobain ly dị khi anh mới 8 tuổi, điều này đã tạo nên một vết thương không lành trong lòng Kurt Cobain. Mẹ của anh cũng nhận thấy con trai sống thu mình lại. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1993, Cobain đã thổ lộ, "Tôi vẫn nhớ cảm giác xấu hổ, vì một vài lý do. Tôi đã xấu hổ vì cha mẹ mình. Tôi không dám đối diện với các bạn cùng trường. Tôi thấy tuyệt vọng và muốn có một gia đình bình thường như bao người khác, có cả bố lẫn mẹ. Tôi muốn được che chở. Bởi vậy tôi đã rất oán giận cha mẹ." Sau một năm sống cùng mẹ, Cobain chuyển tới Montesano, Washington để sống với cha. Những năm tháng tuổi trẻ nổi loạn của anh thật sự đã trở thành gánh nặng cho cha mẹ và gây ra sự náo loạn cho mọi người xung quanh. Anh đã từng bỏ nhà đi, sống lang thang hay ở nhờ nhà bạn.

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi sống cùng với một gia đình Cơ đốc, Cobain đã cải sang đạo Cơ đốc giáo. Anh cũng thường xuyên đọc Kinh thánh và tới nhà thờ. Nhưng sau đó, Cobain đã chối bỏ giáo lý Cơ đốc bởi thấy những điều các tín đồ nói là cường điệu và trống rỗng. Anh đã từng đề cập vấn đề này trong ca khúc "Lithium". Tuy nhiên, tôn giáo vẫn giữ vị trí rất quan trọng trong đời tư và niềm tin của Cobain. Anh vẫn thường sử dụng hình tượng của Cơ đốc trong những bài hát. Anh vẫn duy trì niềm tin vào triết lý của đạo PhậtJainism. Cobain xem mình là tín đồ của cả đạo Phật và Jain trong suốt những năm tháng biến động của cuộc đời. Riêng cái tên Nirvana (Niết-bàn) đã nói lên tất cả.

Ở trường, Cobain ít khi tham gia vào các hoạt động thể thao. Anh chỉ tham gia vào câu lạc bộ đấu vật do người cha khăng khăng muốn vậy. Khi trở nên giỏi giang ở bộ môn này, anh trở nên coi thường những trải nghiệm vừa qua bởi đã chứng kiến nhiều thói hư tật xấu ở huấn luyện viên và những người cùng câu lạc bộ. Anh tự ý bỏ câu lạc bộ bất chấp sự tức giận của người cha. Sau đó, ông Donald ghi tên con mình vào giải bóng chày địa phương nhưng Cobain đã gạch tên để khỏi phải thi đấu. Thay vào đó, Cobain tập trung vào một khóa học nghệ thuật. Anh thường xuyên vẽ trong lớp và vẽ cả những chủ đề như giải phẫu người. Khi được giao vẽ một bức tranh biếm họa, Cobain đã vẽ Michael Jackson. Khi bị nói rằng bứa tranh này không phù hợp để trưng bày ở trường, Cobain đã vẽ một bức phác họa tổng thống Ronald Reagan.

Cobain có một người bạn đồng tính học cùng trường nên anh bị nghi ngờ là dân đồng tính. Trong cuộc phỏng vấn của The Advocate năm 1993, Cobain tự nhận mình là kẻ "đồng tính trong tâm hồn" và "dường như là một kẻ lưỡng tính". Anh cũng không giấu rằng mình thường sơn dòng chữ "Chúa là kẻ đồng tính" lên những chiếc xe tải ở Aberdeen. Tuy nhiên, ghi chép của cảnh sát ở Aberdeen chỉ ra rằng Cobain đáng bị bắt giam vì những dòng chữ đó. "Không hiểu tại sao cậu ta lại nói thế!" Trong lần phỏng vấn của một tạp chí, Cobain khẳng định, "Tôi không phải dân đồng tính, mặc dù tôi ước gì mình được như vậy, để được tránh xa những kẻ kỳ thị đồng tính."

Theo một vài người bạn cùng lớp và người thân, buổi biểu diễn đầu tiên của Cobain là với Sammy Hagar và Quarterflash ở Seattle. Còn Cobain thì nói là với Melvins. Như bao thanh niên sống ở Montesano, Cobain cuối cùng cũng xoay xở để tới những chương trình punk rock ở Seattle. Dần dần, Cobain thường xuyên lang thang quanh khu luyện tập của Melvins.

Vào giữa năm lớp 10, Cobain chuyển về sống với mẹ ở Aberdeen. Hai tuần trước khi tốt nghiệp, anh bỏ học sau khi nhận ra rằng mình không đủ tín chỉ để tốt nghiệp. Bà Wendy đã cho cho hai sự lựa chọn: kiếm một việc để làm hoặc rời khỏi nhà. Khoảng một tuần sau, Cobain thu dọn quần áo, đồ đạc rồi bỏ đi. Bị tống khỏi nhà, Cobain thường ở nhờ nhà bạn hoặc trốn trong tầng hầm nhà mẹ. Sau này, Cobain có giãi bày rằng khi không tìm được đâu để ở nữa, anh đã lang thang dưới cầu Wishkah. Quãng thời gian đó đã tạo cảm hứng cho anh viết ca khúc Something in the Way. Tuy vậy, Krist Novoselic thì nói, "Cậu ta đã lang thang ở đấy, nhưng bạn không thể sống ở một bờ sông bùn lầy, với thủy triều lên xuống mỗi ngày. Cậu ta là người theo chủ nghĩa xét lại."

Vào cuối năm 1986, Cobain, lần đầu tiên, tự tìm được chỗ ở và trả tiền phòng bằng cách làm việc cho một khu nghỉ mát ven biển cách Aberdeen 20 dặm. Cùng thời gian đó, anh đã thường xuyên qua lại Olympia, Washington để tới những chương trình Rock. Trong suốt những chuyến viếng thăm tới Olypia, Cobain đã gặp gỡ Tracy Marander - cô gái trong About a girl.

Sau khi chia tay Marander, Cobain qua lại với Tobi Vail, người có ảnh hưởng lớn tới nhóm nhạc nữ rất điên loạn thời đó là Bikini Kill. Có lẽ đây chính là cảm giác khi anh viết những ca từ “Love you so much it makes me sick” trong ca khúc Aneurysm. Vail thường được bạn bè ví von là “phụ kiện thời trang”. Cô là một điển hình cho sự cuồng nhiệt, phóng khoáng ở thể loại punk rock trong khi Cobain lại muốn họ có một mối quan hệ nghiêm túc. Họ đã dành phần lớn thời gian để sống với nhau như một cặp vợ chồng. Họ nói với nhau về chính trị và triết học. Cô là người truyền cảm hứng cho anh để viết nên phần lớn các ca khúc trong album Nevermind. Có một lần, khi nói chuyện về âm nhạc với Kathleen Hanna, cô đã vạch lên tường dòng chữ “Kurt Smells Like Teen Spirit” để trêu rằng Kurt có mùi như thuốc trừ sâu Teen Spirit. Nhưng anh lại không hề biết về loại thuốc đó. Anh nghĩ câu nói ám chỉ anh có sức trẻ tràn trề. Đây chính khởi nguồn của ca khúc Smells Like Teen Spirit.

Nirvana[sửa | sửa mã nguồn]

Vào sinh nhật lần thứ 14, chú của Cobain đã hỏi anh muốn được nhận quà là một chiếc guitar hay một chiếc xe đạp. Cobain đã chọn guitar. Anh bắt đầu học chơi một vài bản nhạc như Back in Black của AC/DCMy Best Friend's Girl của The Car rồi nhanh chóng chuyển sang những bản nhạc của chính mình.

Ở trường cấp hai, Cobain gần như không tìm được ai có thể cùng chơi nhạc với anh. Trong khi lang thang quanh khu luyện tập của Melvins, anh gặp Krist Novoselic, một tín đồ của punk rock. Mẹ của Novoselic có một tiệm làm tóc và Cobain cùng Novoselic có thời kỳ đã luyện tập ở tầng trên của tiệm. Một vài năm sau, Cobain cố gắng thuyết phục Novoselic thành lập ban nhạc. Anh đã đưa cho Novoselic bản thu âm của anh với ban nhạc Fecal Matter. Sau vài tháng lưỡng lự, Novoselic cuối cùng cũng đồng ý tham gia với Cobain, tạo ra nền móng của Nirvana.

Trong suốt vài năm chơi nhạc cùng nhau, Novoselic và Cobain cùng nhau đi tìm một tay chơi trống. Cuối cùng, ban nhạc ký kết với Chad Channing. Họ đã cùng nhau thu âm album Bleach, phát hành trên Sub pop Records năm 1989. Tuy nhiên, Cobain cảm thấy không vừa ý với phong cách của Channing. Bởi vậy, vị thủ lĩnh đã tìm người thay thế. Cuối cùng, người được chọn là Dave Grohl. Cùng với Grohl, ban nhạc đã giành được thành công rực rỡ vào năm 1991 bằng việc phát hành album Nevermind.

Cobain phải đấu tranh để trung hòa giữa sự thành công rực rỡ của Nirvana với con người thật của anh. Anh cảm thấy phiền khi giới truyền thông so sánh anh với Frances Farmer. Anh đã phải nén giận trước những người tự nhận là hâm mộ Nirvana nhưng lại chẳng hiểu gì hoặc có cái nhìn sai lệch về quan điểm chính trị của ban nhạc.

Giọng ca phản đối kịch liệt việc bất bình đẳng giới, nạn phân biệt chủng tộc và kỳ thị người đồng tính. Cobain còn tự hào tuyên bố rằng Nirvana đã từng biểu diễn cho quỹ hỗ trợ người đồng tính No-on-Nine vào năm 1992. Cobain đã cất tiếng ủng hộ tổ chức Pro-choice (về quyền lựa chọn có tiếp tục hay ngừng sinh sản của phụ nữ.) và đã từng tham gia vào chương trình Rock for Choice (Chương trình ủng hộ tổ chức Pro-choice) được khởi sướng bởi ban nhạc L7. Vì hành động này, Cobain đã bị những người của tổ chức Pro-life đe đọa giết chết khi anh bước lên sân khấu. Trong bìa của Incesticide còn viết "Nếu bất kỳ ai trong số các bạn, bằng cách này hay cách khác, kỳ thị những người đồng tính, những người da màu hoặc phụ nữ thì xin vui lòng tránh xa ra và hãy để cho chúng tôi được yên. Cũng đừng tới những chương trình biểu diễn hay mua đĩa của Nirvana nữa". Một xã hội chỉ có thể được giải phóng khi diệt trừ được tận gốc phân biệt giới.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên Courtney Love thấy Cobain biểu diễn là ở Portland, Oregon năm 1989. Cặp đôi đã nói chuyện qua loa với nhau sau buổi diễn. Love ngay lập tực si mê Cobain nhưng anh lại lảng tránh. Anh không chắc là anh muốn có một mối quan hệ. Theo như tờ Everett True, cặp đôi chính thức công khai quan hệ tại buổi biểu diễn của L7Butthole Surfers tại Los Angeles vào tháng 5 năm 1991. Sau một gian tìm hiểu nhau, họ nhận ra cả hai có rất nhiều điểm chung. Cobain nói rằng "Tôi đã từng xác định rằng sẽ sống độc thân thêm một thời gian nữa. Nhưng tôi biết tôi rất thích Courtney. Quả là khó khăn khi phải xa cô ấy vài tháng."

Trong khoảng thời gian Nirvana trình diễn Saturday Night live năm 1992, Love phát hiện ra mình có bầu với Cobain. Một vài ngày sau khi kết thúc tour diễn Nirvana's Pacific Rim, vào thứ hai, ngày 24 tháng 2 năm 1992, Cobain và Love đã tổ chức lễ cưới tại bãi biển Waikiki, Hawaii. Love đã mặc bộ váy bằng sa tanh và ren từng thuộc về Frances Farmer trong khi Cobain mặc nguyên một bộ đồ ngủ màu xanh lá cây vì "lười quá không muốn thay tuxedo". Cobain đã trả lời với tạp chí Sassy rằng "Tôi đã kết hôn và quan điểm của tôi đã thay đổi rất nhiều. Tôi không thể tin rằng tôi có thể hạnh phúc đến thế. Lúc đó, tôi thậm chí còn quên rằng mình đang chơi cho một ban nhạc. Tôi mờ mắt vì tình yêu! Tôi biết nghe có vẻ thật ngớ ngẩn, nhưng đó là sự thật. Tôi không thể từ bỏ ban nhạc bây giờ. Điều đó không quan trọng, nhưng tôi còn những bản hợp đồng." Vào ngày 18 tháng 8, Framces Bean Cobain, con gái của họ, ra đời.

Một bài báo của tạp chí Vanity Fair năm 1992 viết rằng Love thừa nhận cô đã sử dụng heroin, một cách vô thức, khi đang mang bầu. Love đã lên tiếng rằng tờ Vanity Fair đã trích dẫn sai ý cô. Nhưng sự kiện trên đã nổ ra những cuộc cãi vã giữa cặp đôi này. Dư luận còn cho rằng Frances có vấn đề vì cha mẹ hút thuốc phiện. Ủy ban bảo vệ trẻ em Los Angeles đã kiện Cobain ra tòa, tố cáo việc sử dụng thuốc phiện của hai vợ chồng là điều không thể chấp nhận được khi họ lên chức cha mẹ.

Theo quyết định của tòa, mới hai tuần tuổi, Frances Bean Cobain đã phải sang sống tại nhà người chị em của Courtney là Jamie vài tuần. Sau đó cặp đôi đã giành lại quyền nuôi con với điều kiện là phải tiến hành xét nghiệm nước tiểu và chịu sự quản thúc của nhân viên xã hội. Sau vài tháng rắc rối, cuối cùng, hai vợ chồng đã hoàn toàn được trả lại quyền nuôi con gái.

Thói quen xấu[sửa | sửa mã nguồn]

Gần như trong suốt cuộc đời, Cobain phải hứng chịu những cơn đau dữ dội do bệnh viêm cuống phổi và đau dạ dày. Cơn đau dạ dày đã làm cho Cobain suy nhược cả về thể chất lẫn tinh thần. Anh đã cố gắng tìm hiểu lý do cơn đau trong nhiều năm nhưng không một bác sỹ nào có thể chuẩn đoán chính xác nguyên nhân. Có khả năng đó là kết quả của chứng vẹo xương sống hoặc tình trạng trầm cảm trong suốt tuổi thơ của Cobain.

Cobain hút Marijuana (một loại thuốc lá bị cấm ở Mỹ) từ năm 1980 khi mới 13 tuổi và thường xuyên hút trong suốt thời thanh niên. Theo Tracy Marander, Cobain cũng có thời gian dùng một lượng lớn LSD. Còn theo Krist Novoselic, Cobain "thật sự hủy hoại bản thân bằng ma túy, cồn, bất kỳ chất kích thích nào". Cobain trở thành con nghiện rượu và trở nên bê tha.

Lần đầu Cobain nếm mùi heroin là khoảng năm 1986. Kẻ đưa thuốc cho anh hoạt động tại khu nghiện ở Tacoma, Washington. Trước kia, chính hắn đã là người cung cấp Percodan cho anh[2]. Trong vòng vài năm, thỉnh thoảng Cobain mới sử dụng heroin. Nhưng đến cuối năm 1990, anh trở nên nghiện ngập. Với anh "hút trở thành thói quen" để dập tắt cơn đau dạ dày. Cobai giãi bày, "Ban đầu, sau khi hút, tôi không bị cơn đau dạ dày hoành hành trong ba ngày sau đó. Cảm giác thật nhẹ nhõm."

Trong thời gian quảng bá album Nevermind, việc sử dụng heroin bắt đầu gây ra những tác hại của nó. Trong số đó phải kể tới quãng thời gian ban nhạc trình diễn Saturday Night Live năm 1992. Khi đó họ đã tiến hành chụp hình với nhiếp ảnh Micheal Levine. Dù đã được chuẩn bị trước, Cobain vẫn ngủ gật gù trong suốt quá trình chụp. Cobain kể lại với người viết sử Micheal Azerra rằng, "Ý tôi là, họ muốn gì đây? Họ chẳng có ý định khuyên tôi dừng lại. Bởi vậy tôi không quan tâm. Rõ ràng, với họ, nó giống như một thứ gì ma quái vậy. Họ chẳng biết gì cả. Bởi vậy, họ đều nghĩ là tôi sắp chết rồi."

Tình trạng nghiện ngập của Cobain ngày một trầm trọng. Anh đã cố từ bỏ vào năm 1992, không lâu sau khi Love phát hiện ra họ sắp lên chức cha mẹ. Ngay sau khi anh hồi phục, Nirvana lập tức tới Úc biểu diễn. Nhưng Cobain có vẻ xanh xao và hốc hác. Những cơn đau đớn vật vã đã khiến tour diễn phải tạm dừng. Không lâu sau khi trở về nhà, Cobain sa vào nghiện ngập.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tour diễn kết thúc ở Munich, Đức, vào ngày 1 tháng 3 năm 1994, Cobain bị chuẩn đoán mắc bệnh viêm cuống họng và viêm thanh quản trầm trọng. Anh bay tới Roma vài ngày sau đó để điều trị. Ngày 3 tháng 3, Love cũng bay tới với chồng. Sáng hôm sau, cô thức dậy và phát hiện Cobain đã trộn Champagne với Rohypnol và sử dụng quá liều (Rohypnol là một loại thuốc kích thích mà Love đã mang theo khi bay tới Rome). Ngay lập tức, Cobain được đưa tới bệnh viện. Anh rơi vào tình trạng mê man bất tỉnh. Sau năm ngày ở bệnh viện, Cobain xuất viện và trở lại Seattle. Theo Love, việc xảy ra lần đó là do Cobain đang cố gắng tự tử.

Vào ngày 18 tháng 3, Love gọi điện cho cảnh sát để báo rằng Cobain định tự tử. Anh đã khóa phòng lại và ở trong đó với một khẩu súng. Cảnh sát tới và khám thấy vài khẩu súng cùng thuốc từ chỗ Cobain. Anh khăng khăng rằng anh không có ý định tự tử và chỉ khóa cửa phòng lại để trốn Love. Khi bị cảnh sát thẩm vấn, Love nói rằng Cobain chưa bao giờ có ý định tự tử và cô cũng chưa bao giờ thấy anh cầm súng.

Ngày 25 tháng 3, Love tìm cách giải quyết vấn đề nghiện ngập của Cobain bằng các thảo luận với mười người khác gồm bạn bè trong giới âm nhạc, quản lý hãng thu âm, và người bạn thân nhất của Cobain, Dylan Carlson. Nhưng dù sao, vào cuối ngày, Cobain cũng đồng ý tham gia một khóa cai nghiện. Cobain tới trung tâm hồi phục Exodus, Los Angeles, California vào ngày 30 tháng 3. Tối hôm đó, Cobain vừa đi vừa hút thuốc rồi quyết định trèo qua hàng rào cao sáu foot (khoảng 1,83m) để trốn khỏi trung tâm. Anh đi taxi tới sân bay Los Angeles và bay về Seattle.

Ngày mùng 2 và 3 tháng 4, Cobain lang thang quan Seattle, nhưng bạn bè và gia đình không xác định được cụ thể là ở đâu. Vào ngày 3-4, Love thuê thám tử tư, Tom Grant, để tìm kiếm Cobain. Vào 7-4, Nirvana rút khỏi liên hoan âm nhạc Lollapalooza khiến nhiều người nghi ngờ ban nhạc sẽ tan rã.

Ngày 8 tháng 4 năm 1994, một người thợ điện tới để lắp hệ thống bảo vệ đã phát hiện ra xác của Cobain tại ngôi nhà bên hồ của anh ở Washington.

Có một ít máu chảy ra từ tai của Cobain. Người thợ điện khai rằng không thấy dấu hiệu nào của chấn thương. Ông ta cứ nghĩ Cobain đang ngủ cho tới khi nhìn thấy khẩu sung ngắn tì vào cằm. Người ta tìm thấy trong bức thư tuyệt mệnh viết rằng, ”Tôi không còn thấy thích thú khi nghe, sáng tạo âm nhạc và viết nhạc một cách thực sự từ nhiều năm gần đây.”

Tập trung nhiều heroin và một lượng nhỏ Valium (một loại dược phẩm giúp lấy lại cân bằng và giảm stress) được tìm thấy ở Cobain. Anh đã nằm đây được vài ngày. Theo khám nghiệm tử thi, Cobain chết vào khoảng ngày 5-4, năm 1994. Khẩu súng gây ra cái chết của anh là của người bạn thân, Dylan Carlson. Chính người bạn thân này cũng không thể tin rằng anh ta đã tiếp tay cho cái chết của Cobain. Carlson không tin Cobain tự tử vào thời điểm này. Cobain nói anh cần khẩu súng để đề phòng bất trắc khi ở nhà.

Ngày 10 tháng 4, bảy nghìn người đã mặc đồ tang để cầu nguyện cho Cobain tại công viên ở Seattle. Bài phát biểu tưởng nhớ Kurt Cobain của Krist NovoselicCourtney Love được phát tại đây. Love đã đọc một phần di thư của Cobain cho đám đông nghe. Love đã gục ngã, khóc than và nguyền rủa Cobain. Gần cuối buổi cầu nguyện, Love tới công viên và trao một số quần áo của Cobain cho những người vẫn còn ở đó.

Tro cốt của Kurt Cobain được rải xung quanh một nhà chùa Phật ở Ithaca, New York, một phần rải trên sông Wishkah, nơi anh lớn và một phần được Love giữ lại. Vào giữa năm 2008, lọ tro cốt bị đánh cắp tại nhà riêng của Love.[3]

Tuyệt vọng với bệnh tật và cuộc sống, Kurt Cobain đã ra đi nhưng âm nhạc của anh sống mãi trong trái tim người yêu Rock.

Âm nhạc của Kurt Cobain[sửa | sửa mã nguồn]

Cobain đam mê dòng nhạc alternative rock. Khởi nguồn là từ khi Buzz Osborn của Melvin cho anh mượn băng nhạc của những ban nhạc punk rock như Black Flag, Flipper và Millions of Dead Cops. Anh thường nói về những nhóm nhạc mình yêu thích trong các cuộc phỏng vấn. Anh luôn nhấn mạnh, đề cao những ban nhạc đó hơn là âm nhạc của chính mình. Anh sẽ nói không ngừng về những The Vaselines, the Melvins, Daniel Johnston, the Meat Puppets, Young Marble Giants, The Wipers, Flipper, Butthole Surfers, Captain Beefheart, Teenage Fanclub, The Pastels, The Shaggs, Frightwig (anh đã viết tên họ trên chiếc áo mặc trong suốt đêm diễn MTV Unplugged), Tales of Terror, The Marine Girls, Swans, The Frogs and Billy Childish.

Khi biểu diễn tại Anh, Cobain tới cửa hàng đĩa Rough Trade ở đường Portobello, London để tìm kiếm album The Raincoats của ban nhạc cùng tên. Jude Crighton đã dẫn anh tới gặp Ana da Silva, một thành viên của ban nhạc, tại cửa hàng đồ cổ của dì cô ở cách đó không xa. Cobain đã viết một cách si mê về buổi gặp đó trong Incesticide. Vào cuối năm 1993, Rough Trade và hãng đía DGC bắt tay cho ra album của ban nhạc cùng những ghi chép của Cobain và Kim Gordon. Cobain cũng chịu ảnh hưởng của ban nhạc Killing Jokes. Chính ban nhạc này cũng đã kiện Nirvana vì cho là đã ăn cắp đoạn riff trong bài “Eighties” của họ sang bài “Come as you are” trong album Nevermind. Vụ kiện chỉ kết thúc sau cái chết của Cobain. Dave Grohl vẫn chơi đoạn riff đó trong album phát hành năm 2003 của Nirvana.

Cobain cũng tỏ ra rất thích thú với dòng nhạc New wave, đặc biệt là bản “Turnaround” của Devo. Bài hát này cũng xuất hiện trong album Incesticide. Trong Incesticide, họ cũng tăng tốc độ của bài “Polly” để trở thành “(New wave) Polly”. Khẩu vị âm nhạc của Cobain không dừng lại ở những phong cách phương Tây. Anh còn yêu thích một vài ban nhạc rock của Nhật Bản như Shonen Knife. Cobain còn liệt album Raw Power của The Stoogers vào danh mục những album anh yêu thích nhất. Cobain cũng luôn nói anh bị ảnh hưởng bởi Pixies, và bình luận rằng Smells Like Teen Spirit có nét tương đồng với nhạc của Pixies. Năm 1992, Cobain nói với Melody Maker rằng lần đầu tiên nghe Surfer Rose đã, anh đã bị lôi cuốn hơn cả khi nghe Black Flag. Kiểu bài hát trong Nevermind cũng bị ảnh hưởng bởi Iggy Pop và Aerosmith.

Cobain cũng thấy Neil Young ảnh hưởng tới nhạc của mình. Những sáng tạo của Young khiến Cobain và những tín đồ Grunge khác gọi ông là “Bố già của Grunge”. Trong di thư của mình, Cobain đã trích lời bài hát của Young “Hey Hey, My My”, “It’s better to burn out than to fade away”. Young cũng rất xúc động. Ông đã dành tặng anh album năm 1994 “Sleeps with Angels to Cobain”.

Nhưng chính The Beatles mới là gốc rẽ và trụ cột trong âm nhạc của Cobain. Anh đặc biệt yêu quý John Lennon và gọi ông là “thần tượng”. Có lần, Cobain kể lại rằng anh viết “About a Girl” sau khi nghe album Meet The Beatles! suốt ba tiếng đồng hồ. Anh bị ảnh hưởng mạnh bởi dòng punk rock và hardcore punk, thường xuyên thừa nhận sự hiện diện những ban nhạc như Black Flag, Big BlackThe Sex Pistols trong phong cách của mình. Cobain nói rằng Sandinista! của The Clash là album đầu anh có ấn tượng về dòng Punk. Khi chết, trên người Cobain đang mặc áo phông in hình ban nhạc rock Half Japanese.

Cùng với sự ảnh hưởng của những ban nhóm nhỏ, phong cách của Nirvana còn chịu tác động bởi những nhóm nhạc đình đám trong những năm 70 như Led Zeppelin, Black Sabbath, QueenK.I.S.S. Trong những ngày đầu thành lập, Nirvana thường chơi lại những bài hát của các ban nhạc đó, như “Immigrant Song”, “Dazed and Confused”, “Heart Breaker” của Led Zeppelin, “Hand of Doom” của Black Sabbath, “Do you love me” của K.I.S.S.. Cobain cũng thường nhắc tới ảnh hưởng của những ban nhạc như The Knack, Bostom và The Bay City Rollers.

Hòa nhạc Nirvana’s MTV Unplugged đã kết thúc bằng bài “Where did you sleep last night”, một sáng tác của nhạc sĩ Lead Belly. Thậm chí Cobain còn gọi đó là một trong những màn trình diễn yêu thích nhất của anh. Greil Marcus còn cho rằng bài “Polly” là hậu duệ của bài “Pretty Polly” của Dock Boggs năm 1927.

Cobain được đánh giá cao về những nỗ lực trong việc trình diễn. Năm 1991, tại Reading Festival, Eugene Kelly của Vaselines đã mời Nirvana lên sân khấu để cùng hát bài “Molly’s Lips”. Cobain đã tuyên bố đây chính là một trong những khoảnh khắc thăng hoa nhất của đời mình. Vào năm 1993, khi anh quyết định muốn có một cây guitar nữa trợ giúp mình trên sân khấu, anh đã mời Pat Smear của The Germs, huyền thoại một thời của punk tại L.A. Khi kể về thất bại trong trình diễn ba bài hát của Meat Puppets trong chương trình MTV Unplugged năm 1993, Cobain đã gọi cho hai thành viên chủ chốt của nhóm, Curt và Cris Kirkwood để mời họ diễn chung.Cobain còn mời tay guitar, bạn thân của anh, Dylan Carlson của Earth, cùng biểu diễn bài “Divine and Bright”. Ca khúc này năm 1995 đã xuất hiện trên album Sunn Amps and Smashed Guitars của Earth.

Mùa thu năm 1992, Cobain đã chơi nền guitar trong bản ghi âm “”The priest” they called him” của William S.Burroughs. Trước khi tự sát một thời gian ngắn, Cobain có ý định cộng tác viết nhạc và ghi âm với thủ lĩnh R.E.M, Michael Stipe. Stipe nói rằng Cobain đã huỷ bỏ kế hoạch này vào những phút chót, khi mà tài xế, vé máy bay, studio, các thiết bị thu âm đang sẵn sang đợi anh. Stipe tin tưởng rằng “đó sẽ là thứ âm nhạc với rất nhiều nhạc cụ dây. Nó sẽ trở thành một bản thu âm gây chấn động.” Sự thay đổi đột ngột của Cobain khiến Stipe tức giận “Tôi tức đến mức muốn bóp chết anh ta”. Về sau, Stipe được chọn là cha đỡ đầu của Frances Bean Cobain.

Sonic Youth đã giúp Nirvana đạt được những thành công rực rỡ. Bên cạnh đó, Nirvana cũng giúp đỡ những ban nhóm khác thành công. Họ đã gửi bài “Oh, the Guilt” để cùng hát với ban nhạc The Jesus Lizard, góp phần tạo nên sự thành công cho đêm mở màn của The Jesus Lizard.

Nội dung ca khúc của Kurt Cobain[sửa | sửa mã nguồn]

Dave Grohl nói rằng, với Cobain thì “Âm nhạc tới trước, ca từ theo sau”. Do đó hầu như anh chỉ tập trung tới giai điệu của bài hát và cảm thấy rất khó chịu khi cánh báo chí và người hâm mộ cứ cố gắng giải mã, moi móc ý nghĩa trong những ca từ của anh. Anh miêu tả lời các bài hát của mình “như một đống hỗn loạn”

Ban đầu, Cobain muốn chia album Nevermind thành hai phần. Một phần là A “Boy”, là những ca khúc viết về tuổi thơ của mình. Phần còn lại là A “Girl”, gồm những ca khúc viết về mối quan hệ đặc biệt giữa anh và Tobi Vail. Charles R. Cross viết “Trong suốt 4 tháng sau khi chia tay, Kurt đã viết nửa tá các ca khúc đầy hoài niệm về Tobi Vail”. Kể cả “Lithium” là ca khúc được viết trước khi Cobain biết Vail, nhưng ca từ của bài hát cũng đã bị thay đổi vì cô. Cobain đã nói trong buổi phỏng vấn với Misician rằng: “Một vài kinh nghiệm của đời tôi, như chia tay bạn gái, những mối quan hệ tồi tệ, cảm giác về cái chết, sự trống rỗng đã khiến nhân vật trong các bài hát trở nên ốm yếu, cô độc.

Còn trong album In Utero, anh muốn nói về tuổi thơ, về cuộc chia tay của cha mẹ anh, về cái tên mới của anh, về những hình ảnh của anh trên mặt báo và nhìn nhận của bản than anh và Courtney Love về “Serve the Servants” (phục vụ người phục vụ), về mối tình say đắm anh dành cho Love, về những cảm giác hạnh phúc của người mang bầu, về những phẫu thuật của phái nữ.

Khi Cobain viết ca khúc “Rape me” thì nội dung mà anh hướng tới không hẳn là sự cưỡng hiếp trần trụi mà còn thể hiện thái độ phản kháng của anh với giới truyền thong. Ngoài những chủ đề về nghiện ngập và thai sản, anh còn viết về quyền được sống đúng nghĩa của phụ nữ. Đặc biệt anh dành một ca khúc cho riêng ngôi sao cùng quê Frances Farmer trong ca khúc “Frances Farmer will have her revenge on Seattle”.

Về ca khúc “Polly” trong album Nevermind, Cobain đã viết sau khi đọc một bài báo năm 1987, viết về một cô gái trẻ bị bắt cóc sau khi đi nghe một đêm punk rock, bị cưỡng hiếp và tra tấn. Cuối cùng cô trốn thoát được nhờ tán tỉnh và lợi dụng sơ suất của bọn bắt cóc. Sau khi nghe “Polly”, Bob Dylan đã đánh giá đây là ca khúc bất hủ của Nirvana. Ông cũng nhận xét về Cobain là “đứa trẻ có trái tim”.

Cuốn tiểu thuyết Perfume: The story of a Murderer của tác giả Patrick Suskind cũng được lấy cảm hứng từ ca khúc “Scentless Apprentice” trong album In Utero. Cuốn truyện kể về một người có khả năng ngửi tất cả mùi và vị ở trên đời, nhưng lại không có thể ngửi thấy mùi của bản thân mình. Bằng đam mê đến vĩ cuồng để gắng tạo ra một loại nước hoa độc nhất vô nhị có khả năng mê muội người ngửi, nhân vật chính đã giết bảy cô gái đồng trinh và lấy mùi hương của họ để tạo nên loại nước hoa đó.

Cobain cũng dành cả đời mình cho những đam mê nghệ thuật khác, nhiều như đam mê sang tác của anh. Anh vẽ, sơn và cả điêu khắc trên nhiều chất liệu. Những tác phẩm đầy ngẫu hứng, điên loạn và phần nào xuất hiện trong các album của Nirvana.

Kỷ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghế băng tại Viretta Park
Welcome to Aberdeen cropped.jpg

Những người hâm mộ đã làm lễ tưởng niệm Cobain tại Viretta Park. Họ ghi những dòng chữ kỷ niệm lên những chiếc ghế băng tại công viên để nhớ tới anh.

Năm 2005, một bảng biển được đặt tại Aberdeen, Washington ghi “Welcome to Aberdeen – Come as You Are” để ghi nhớ tới Cobain. Tấm bảng do một tổ chức phi lợi nhuận mang tên Kurt Cobain Memorial làm vào tháng năm, 2004 để tưởng nhớ tới anh.Tổ chức này còn lên kế hoạch lập công viên tưởng nhớ Kurt Cobain và trung tâm thanh thiếu niên tại Aberdeen.

Sau cái chết của Cobain một năm, anh đã được tôn vinh như là một biểu tưởng trong lịch sử nhạc alternative.

Cobain không có phần mộ của mình. Anh được hoả thiêu. Tro được rải xuống dòng song Wishkah tại Washington. Rất nhiều những người hâm mộ Nirvana đã tìm tới Viretta Park, gần ngôi nhà bên hồ của Cobain để tưởng nhớ tới anh. Trong lễ tưởng niệm ngày mất của anh, người hâm mộ đã tụ tập ở công viên đó để tôn vinh cuộc đời và nhớ lại những kỷ niệm về anh.

Sách và phim về Kurt Cobain[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Cobain qua đời, tác giả Michael Azerrad đã cho xuất bản: Come as You Are: The Story of Nirvana. Cuốn sách đã ghi chép tỉ mỉ về Nirvana từ khi thành lập, tiểu sử của từng thành viên tham gia bạn nhạc. Cuốn sách phơi bày tình trạng nghiện ngập của Cobain cũng như những xung đột giữa các thành viên. Sau cái chết của Cobain, Azerrad đã tái bản cuốn sách và bổ sung them một chương cuối viết về những năm tháng cuối đời của Cobain.

Cuốn sách ghi lại dấu ấn của từng thành viên trong ban nhạc. Họ đã có những cuộc phỏng vấn riêng với Azerrad để phục vụ cho sự ra đời của cuốn sách. Vào năm 2006, cuốn băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa Azerrad với Cobain đã được chuyển thể thành phim tư liệu về Cobain, mang tên Kurt Cobain About a Son. Nhạc trong cuốn phim không phải là nhạc của Nirvana mà là từ những sang tác lấy cảm hứng từ Cobain.

Năm 1998, nhà làm phim Nick Broomfield cùng với nhân viên điều tra Tom Grant đã tuyên bố rằng Cobain thật ra đã bị giết. Họ đang mang một đoàn khảo sát tới gặp một vài người có quan hệ với Cobain và Love, gồm bố, dì và bà ngoại của Love. Broomfield cũng đã gặp thủ lĩnh của The Mentors, Eldon “El duce” Hoke, người đã nói rằng Love đã chi trả cho hắn ta 50,000$ để giết Cobain. Mặc dù Hoke khẳng định rằng hắn ta biết ai đã giết Cobain nhưng lại không đề cập tới bất kỳ cái tên nào cũng như đưa ra bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh điều đó. Sau cuộc thẩm vấn cuối cùng với Broomfield, Hoke bị xe lửa nghiên nát trong tình trạng say xỉn. Cuối cùng, Broomfield cảm thấy ông không có đủ bằng chứng để kết luận rằng đây là một vụ ám sát. Trong cuộc phỏng vấn năm 1998, Broomfiel đã nói rằng “Tôi nghĩ rằng câu ấy đã tự tử. Tôi không cho rằng những thông tin đó chứng minh được rằng Cobain đã bị ám sát. Tôi nghĩ đây chỉ là những giả thuyết mà mọi người đưa ra để giải thích nhiều khúc mắc quanh cái chết của cậu ấy. Cậu ta không phải là nạn nhân của một vụ ám sát. Cậu ta là nạn nhân của sự cô đơn, thiếu chăm sóc. Tôi cho rằng việc Courtney ra đi đã khiến cậu ấy bị suy sụp.”

Nhà báo Ian Halperin và Max Wallace cũng tiến hành điều tra về cái chết của Cobain. Việc đầu tiên của họ là cho ra đời cuốn sách “Who Killed Kurt Cobain?” vào năm 1999. Họ bày tỏ rằng, trong khi chưa có đủ bằng chứng để chứng minh rằng đó là một vụ ám sát thì cần phải tiếp tục điều tra. Một trong những điểm đáng chú ý trong cuốn sách là các cuộc nói chuyện của họ với Grant, người đã ghi âm gần như mọi cuộc nói chuyện khi ông làm thuê cho Love. Vài năm sau, Halperin và Wallace phối hợp cùng Grant để viết cuốn sách thứ hai mang tên 2004’s Love and Death: The Murder of Kurt Cobain.

Năm 2001, nhà văn Charles R. Cross đã xuất bản một cuốn tiểu sử về Cobain mang tựa đề Heavier Than Heaven. Để viết cuốn sách đó, Cross đã thực hiện hơn 400 cuộc phỏng vấn và đã được Courtney trao cho những bản ghi âm về Cobain, lời bài hát anh viết và cả những cuốn nhật ký. Năm 2002, một phần những ghi chép của Cobain đã được xuất bản dưới dạng một tạp chí. Cuốn sách dày 280 trang, bìa đen trần, các trang được sắp xếp theo thứ tự thời gian (mặc dù Cobain thường không ghi ngày tháng vào những trang viết)

Cuốn tạp chí sau đó được tái bản, in màu, kèm them một phần giải thích và dịch lại một vài trang khó đọc. Những ghi chép bắt đầu từ cuối những năm 1980 và được viết cho đến trước cái chết của Cobain. Một phiên bản bìa mềm của cuốn sách, phát hành năm 2003 có them một số bản viết tay không được in trong ấn bản cũ. Trong bản ghi âm, Cobain nói về những thăng trầm trên đường đời, liệt kê những dòng nhạc anh yêu thích. Anh thường xuyên vạch vội những dòng ý tưởng bất chợt để làm lời bài hát trong tương lai.

Sau khi ấn bản này được phát hành, người đọc và những người hâm mộ đã có những mâu thuẫn. Nhiều người cho rằng ấn bản đã giúp họ hiểu hơn về Cobain, về những đấu tranh nội tâm trong những dòng viết tay của anh. Trong khi số còn lại lên án rằng ấn bản đã vi phạm đến sự cá nhân riêng tư của người đã khuất.

Vào năm 2003, nhà xuất bản Omnibus Press đã cho xuất xưởng cuốn sách: Kurt Cobain Graphic. Cuốn sách được viết bởi Jim McCarthy và Barnaby Legg, hình minh hoạ bởi Flameboy. Nó miêu tả về cuộc đời của Cobain, nhưng không phải theo kiểu một cuốn tiểu sử, mà bằng những hình ảnh nghệ thuật từ góc nhìn của Cobain.

Năm 2009, nhà phát hành báo chí ECW đã xuất bản cuốn sách mang tựa đề Grung is Dead: The Oral History of Seattle Rock Music. Cuốn sách được viết bởi Greg Prato, mô tả dòng nhạc của Nirvana cùng cuộc sống và cái chết của Kurt Cobain (bao gồm cả những cuộc phỏng vấn mới với những người bạn). Nó miêu tả lịch sử của Grunge như một sự chói sang của nghệ thuật. Bìa của cuốn sách là bức hình Cobain chụp từ thời làm album Bleach còn tựa đề là dòng chữ trên chiếc áo mà Cobain đã từng mặc.

Ngoài những cuốn sách, cuộc đời của Kurt Cobain còn được tái hiện trên phim.

Năm 2005, bộ phim Last Days của đạo diễn Gus Van Sant đã được công chiếu. Bộ phim hư cấu về những giờ phút cuối cùng trong cuộc đời của Cobain, do Michael Pitt thủ vai. Bộ phim bộ lộ nỗi cô độc của những người sống trong danh vọng, những bi kịch, chán chường của một tâm hồn bị dồn nén. Bộ phim được đề cử giải Cành cọ vàng.

Tháng 1 năm 2007, Countney Love hợp tác cùng hang Universal để làm một bộ phim dựa trên cuốn tiểu sử Heavier Than Heaven.

Những cuốn sách, những bộ phim đã phần nào làm sống lại cuộc đời của Kurt Cobain. Nhưng có một nơi mà anh sẽ mãi bất tử. Đó là trái tim của những con người luôn run rẩy khi nghe anh hát.

Tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Azerrad, Michael. Come as You Are: The Story of Nirvana. Doubleday, 1994. ISBN 0-385-47199-8.
  • Burlingame, Jeff. Kurt Cobain: Oh Well, Whatever, Nevermind. Enslow, 2006. ISBN 0-7660-2426-1
  • Cross, Charles. Heavier Than Heaven: A Biography of Kurt Cobain. Hyperion, 2001. ISBN 0-7868-8402-9.
  • Summers, Kim. "Kurt Cobain". Allmusic. Truy cập on 9 tháng 5, 2005.
  • Kitts, Jeff, et al. Guitar World Presents Nirvana and the Grunge Revolution. Hal Leonard, 1998. ISBN 0-7935-9006-X.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "The Kurt Cobain Equipment F.A.Q.". kurtsequipment.com.
  2. ^ Một loại thuốc giảm đau dùng cho những cơn đau cấp tính
  3. ^ Mai Trần (8 tháng 6 năm 2003). “Tro cốt của Kurt Cobain bị mất cắp”. vnexpress.net. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2006. 

Links[sửa | sửa mã nguồn]