Tsubasa Giấc mơ sân cỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Subasa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tsubasa Giấc mơ sân cỏ
Captain Tsubasa.jpg
キャプテン翼
(Kyaputen Tsubasa)
Thể loại Bóng đá
Manga
Tác giả Takahashi Yōichi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Weekly Shōnen Jump
Phát hành 19811988
Số tập 37
Anime truyền hình
Captain Tsubasa
Đạo diễn Isamu Imakake
Hãng phim Group TAC, Toei Animation
Kênh Nhật Bản Animax, TV Tokyo
Phim anime
Captain Tsubasa: Europe Daikessen (film 1)
Đạo diễn Imakake Isamu
Hãng phim Group TAC
Thời lượng 41 phút
Phim anime
Captain Tsubasa: Ayaushi! Zen Nippon Jr. (film 2)
Đạo diễn Imakake Isamu
Hãng phim Group TAC
Thời lượng 60 phút
Phim anime
Captain Tsubasa: Asu ni Mukatte Hashire! (film 3)
Đạo diễn Isamu Imakake
Hãng phim Group TAC
Thời lượng 15 tháng 3 1986
Phim anime
Captain Tsubasa: Sekai Daikessen!~ Jr. World Cup (film 4)
Đạo diễn Imakake Isamu
Hãng phim Group TAC
Thời lượng 57 phút
Manga
Hậu Subasa
Tác giả Takahashi Yōichi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Weekly Shōnen Jump
Phát hành 19941997
Số tập 18
Anime truyền hình
Captain Tsubasa J
Hãng phim Nippon Animation, Studio Gallop
Kênh Nhật Bản Animax, TV Tokyo
Singapore Ấn Độ Philippines Hồng Kông Animax
Brasil Rede Manchete
Bản mẫu:Country data Jerman RTL II
Ý Italia 1, Italia Teen Television
México TV Azteca
Bồ Đào Nha Canal Panda
Chile Chilevisión
OVA
Captain Tsubasa: Holland Youth
Đạo diễn Imakake Isamu
Hãng phim Group TAC
Manga
Subasa - Đường tới 2002
Tác giả Takahashi Yōichi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Seinen
Tạp chí Weekly Young Jump
Phát hành 20012004
Số tập 15
Anime truyền hình
Captain Tsubasa: Road to Dream (a.k.a Captain Tsubasa ~ Road to 2002)
Đạo diễn Sugii Gisaburō
Hãng phim Group TAC, Madhouse Studios
Kênh Nhật Bản Animax, TV Tokyo
Singapore Ấn Độ Philippines Hồng Kông Animax
Brasil Rede TV!
Đức RTL II
Colombia Caracol TV
Chile Chilevisión
Ý Italia 1, Italia Teen Television
México Televisa Canal 5
Bồ Đào Nha SIC, Canal Panda
Manga
Captain Tsubasa: Golden 23
Tác giả Takahashi Yōichi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Seinen
Tạp chí Weekly Young Jump
Phát hành 20052008
Số tập 12
Manga
Captain Tsubasa: Kaigai Gekito Hen in Calcio
Tác giả Takahashi Yōichi
Nhà xuất bản Shueisha
Đối tượng Seinen
Tạp chí Weekly Young Jump
Phát hành 2009 – nay
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Kyaputen Tsubasa (キャプテン翼 tiếng Anh: Captain Tsubasa?), được phát hành ở Việt Nam dưới tên Subasa là một bộ manga lấy đề tài bóng đá trong đó phiên bản gốc do Takahashi Yōichi sáng tác được hãng Shueisha phát hành lần đầu năm 1981. Nhân vật chính của bộ truyện là một cậu bé thần đồng của bóng đá Nhật có tên Ōzora Tsubasa[1] (大空 翼 Đại Không Dực?), trải qua thời gian, Tsubasa trở thành đội trưởng của đội tuyển trẻ và sau đó là Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản. Loạt manga Subasa đầu tiên được in trên tạp chí Weekly Shōnen Jump của hãng Shueisha từ năm 1981 tới 1988 và sau đó được in thành 37 tập tankōbon. Bộ truyện sau khi ra mắt công chúng đã được đón nhận nồng nhiệt và tạo nên một cơn sốt về các tác phẩm manga, anime lấy đề tài bóng đá.

Sau thành công của bộ truyện gốc, Captain Tsubasa - World Youth được phát hành trên Shōnen Jump từ năm 1994 đến năm 1997 (phát hành ở VN dưới cái tên Hậu Subasa), tiếp đó là Captain Tsubasa - Road to 2002 (2001-2004) (phát hành ở VN dưới cái tên Subasa - Đường tới 2002) và Captain Tsubasa - Golden Age (2005 đến nay).


Loạt truyện gốc Captain Tsubasa sau đó được chuyển thể thành phim hoạt hình, do Tsuchida Production sản xuất, Loạt phim đầu tiên phát sóng trên mạng lưới TV Tokyo từ 10 tháng 10, 1983 đến 27 tháng 3, 1986. Ở loạt phim này nội dung chuyển thể từ 25 tập truyện đầu. Bốn phim điện ảnh cũng ra mắt trong năm 1985 và 1986. Vào năm 1989, loạt phim hoạt hình mới mang tên Shin Captain Tsubasa, được Shueisha và CBS Sony Group, Inc. sản xuất cùng với 13 original video animation (OVA). Shin Captain Tsubasa tiếp nối loạt phim trước nội dung nằm từ tập truyện thứ 25 đến 36. Phần tiếp theo là Captain Tsubasa J, do Studio Comet sản xuất, được phát sóng từ 21 tháng 10, 1994 đến 22 tháng 12, 1995 trên hệ thống Fuji Television với 47 tập, bên cạnh đó một OVA cũng đã được phát hành vào năm 1994 dưới tựa Captain Tsubasa: Holland Youth. Sau ba loạt phim trước, loạt phim cuối cùng là Captain Tsubasa ~ Road to 2002, được Group TAC chuyển thể, phát sóng từ 7 tháng 10, 2001 đếm 6 tháng 10, 2002.

Hầu hết các phiên bản của phim hoạt hình Captain Tsubasa từng phát sóng trên hệ thống truyền hình vệ tinh Animax tại Nhật Bản, sau đó phim phổ biến rộng rãi bao gồm Đông Á, Hong Kong, Đông Nam Á, Nam Á, và nhiều khu vực khác.Phim cũng từng phát sóng nhiều nơi trên thế giới như Nam Mỹ, Châu ÂuTrung Đông. Do sự thành công của series Nintendo Super Famicom đã chuyển thể thành trò chơi điện tử. Vào năm 2005 TV Asahi tổ chức một cuộc bình chọn, phim hoạt hình Captain Tsubasa đứng vị trí 41 trong 100 phim hoạt hình đứng đầu.


Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Tsubasa[sửa | sửa mã nguồn]

Ozora Tsubasa là một cậu bé thần đồng bóng đá, người luôn ấp ủ ước mơ được thi đấu cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản và giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới. Khi chuyển tới Nankatsu, Tsubasa kết bạn với Ishizaki Ryou, một cậu bé bằng tuổi cũng yêu thích bóng đá, Wakabayashi Genzo, thủ môn tài năng của đội bóng trường Shutetsu và Nakazawa Sanae (hay Anego), cô bé trưởng nhóm cổ động viên của Nankatsu. Tsubasa và Wakabayashi có trận đấu đầu tiên tại giải đấu hằng năm của hai trường Nankatsu vô danh và đương kim vô địch Shutetsu, Cũng tại đây, tài năng của Tsubasa đã lọt vào mắt xanh của Robert Hongo, một cựu cầu thủ tài năng của đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil và là bạn của bố mẹ Tsubasa. Robert là người dạy cho Tsubasa những kĩ năng bóng đá đầu tiên và thuyết phục cậu bé tham gia đội bóng của trường Nankatsu. Đội bóng Nankatsu sau đó đón nhận một tài năng bóng đá trẻ khác, Misaki Taro, cậu bé nhanh chóng trở thành bạn thân thiết và đồng đội ăn ý của Tsubasa. Sau này tất cả họ được chọn vào Đội bóng Nankatsu và tiếp đó họ phải đối mặt với thử thách lớn, đó là giải vô địch các trường Nhật Bản, nơi họ phải đối đầu với nhiều tài năng bóng đá trẻ khác trên khắp nước Nhật như Misugi Jun, Matsuyama Hikaru, Wakashimazu Ken và nhất là Hyuga Kojiro, một cầu thủ trẻ có tinh thần thi đấu hết sức mạnh mẽ.[1] Những tài năng này sau đó đã được lựa chọn vào đội tuyển U-16 Nhật Bản tham dự giải vô địch U-16 thế giới tại Pháp, nơi họ bất ngờ đăng quang sau khi thắng Đức trong trận chung kết.

Hậu Subasa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng ở Pháp, Tsubasa tới Brazil để thi đấu cho Sāo Paulo.[2] Một số cầu thủ khác của Nhật cũng ra nước ngoài thi đấu như Wakabayashi sang thi đấu cho Hamburg SV, còn Aoi Shingo, một tài năng mới, thi đấu cho F.C. Internazionale Milano. Sau đó Tsubasa, Wakabayashi, Shingo trở về để hợp lực cùng các cầu thủ thi đấu trong nước giúp đội tuyển Nhật vượt qua vòng loại châu Á để tham gia Giải vô địch thanh niên bóng đá thế giới (U-20). Một lần nữa Nhật Bản lại gây bất ngờ khi đánh bại Brazil trong trận chung kết, bất chấp việc Brazil có một thiên tài bóng đá với những kĩ năng siêu hạng là Natureza.

Đường tới 2002[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thành công ở giải thanh niên thế giới, Tsubasa chuyển sang thi đấu cho FC Barcelona,[3] Hyuga Kojiro tới Juventus, Wakabayashi tiếp tục thi đấu cho Hamburg SV còn các cầu thủ khác đầu quân cho những đội bóng của J. League. Sau khởi đầu khó khăn ở đội hình B Barcelona, Tsubasa được chọn tham gia trận đối đầu kinh điển Súper Clásico với Real Madrid, đội bóng của Natureza.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ra mắt độc giả, Captain Tsubasa không chỉ tạo nên cơn sốt về manga, anime lấy đề tài bóng đá mà còn thực sự lôi cuốn nhiều cậu bé Nhật Bản tham gia đá bóng. Nhiều tuyển thủ bóng đá nổi tiếng của Nhật như Nakata Hidetoshi,[4] Narazaki Seigo và quốc tế như Zinedine Zidane, Francesco Totti, Fernando Torres, Christian Vieri, Giuseppe Sculli hay Alessandro Del Piero[5] đã nói rằng họ tìm được cảm hứng với nghề cầu thủ bóng đá từ chính bộ manga này. Đạo diễn và diễn viên chính của bộ phim bóng đá nổi tiếng Đội bóng Thiếu LâmChu Tinh Trì cũng cho biết ông lấy cảm hứng từ Đội trưởng Tsubasa để làm tác phẩm này.[6] Bộ truyện nổi tiếng tới mức các đoàn xe cứu trợ Nhật ở Iraq đã vẽ hình Tsubasa lên thành xe để tỏ ý thân thiện với người dân bản địa.[7]

Phiên bản chuyển thể anime của Captain Tsubasa gặt hái nhiều thành công như vào 2001, anime Captain Tsubasa đứng hạng 49 trong danh sách "Top 100" anime của Animage.[8] Năm 2005, mạng lưới hệ thống truyền hình TV Asahi tổ chức bình chọn "Top 100" trên trang web trực tuyến khảo sát trên cả nước phim đứng hạng 41 trên web và 30 theo khảo sát.[9][10] Năm 2006, TV Asahi tiếp tục tiến hành bầu chọn và tác phẩm đứng vị trí thứ 16.[11]

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa phiên bản đầu tiên trên tạp chí Weekly Shōnen Jump của Shueisha năm 1981
  • Captain Tsubasa (1981-1988 trên Weekly Shōnen Jump; 37 tập)
  • Captain Tsubasa Boku wa Misaki Taro (Mình là Misaki Taro) (1 quyển)
  • Captain Tsubasa: Saikyo no teki:Holland Youth (1 quyển)
  • Captain Tsubasa: "World Youth" Saga (1994-1997 trên Weekly Shōnen Jump; 18 tập)
  • Captain Tsubasa: Road to 2002 (2001-2004 trên Weekly Young Jump; 15 tập; 144 chương)
  • Captain Tsubasa Millennium Dream (1 quyển)
  • Captain Tsubasa Final Countdown (1 quyển)
  • Captain Tsubasa: Road to 2002 - Go for 2006 (5 chương trong tập 15 Captain Tsubasa Road to 2002)
  • Captain Tsubasa FCRB (1 quyển)
  • Captain Tsubasa Golden Dream (1 quyển)
  • Captain Tsubasa: All Star Game (1 quyển; 5 chương)
  • Captain Tsubasa: Golden-23 (2005-2008 trên Weekly Young Jump; 12 tập)
  • Captain Tsubasa Japan Dream (2006, one-shot)
  • Captain Tsubasa Kaigai Gekito Hen tháng 5, 2009 - tháng 2, 2012 trên Weekly Young Jump; 8 tập)
    • In Calcio (May 2009 - September 2009 trong Weekly Young Jump; 2 tạp)
    • En La Liga (tháng 2 2010 – tháng 2, 2012 trên Weekly Young Jump; 6 tập)
  • Captain Tsubasa Live Together (2010, 1 quyển)
  • Captain Tsubasa: Rising Sun (2014)

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản chuyển thể từ truyện gồm hoạt hình được sản xuất 3 lần, 5 phim điện ảnh và 1 OVA. Vào năm 1983 loạt phim hoạt hình đầu tiên lên sóng dưới tựa Captain Tsubasa nói về Tsubasa từ lúc còn là một cậu bé học sinh tiểu học cho đến khi lên trung học cơ sở.[12] Loạt phim thứ hai lên sóng từ năm 1994 tiếp nối loạt phim trước dưới tựa Captain Tsubasa Worth Youth.[13][14] Cuối cùng là loạt phim thứ ba sản xuất năm 2001 tiếp nối hai loạt phim trước dưới tựa Captain Tsubasa Road to 2002.[15] Sau khi loạt phim được phát sóng trên TV Tokyo đã tạo được tiếng vang lớn khi trở thành hit, 21.2% - tỉ lệ người xem được cho là cao nhất lúc bấy giờ[16][17] và tạo ra sự bùng nổ khi làn sóng chơi đá bóng tăng đột ngột.[18] Sau đó bộ phim cũng được chiếu trên 50 quốc gia trên thế giới và được khán giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt.[17]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Tsubasa Ozora (大空 翼 Ōzora Tsubasa): là nhân vật chính trong loạt truyện, là một thiên tài bóng đá, "cứ như là thằng bé sinh ra là để chơi bóng đá vậy!" - Mẹ Tsubasa đã nói như vậy.Cậu là đội trưởng đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản. Cậu mặc áo số 10 chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm, vị trí cậu yêu thích nhất. Tsubasa được mệnh danh là Chim ưng bất tử.

Wakabayashi Genzo (若林 源三): là thủ môn thiên tài người Nhật, nhân vật chính trong loạt truyện. Cậu chơi ở vị trí thủ môn, thường mặc áo số 1 và còn được mệnh danh là Thủ Môn Siêu Hạng, Thủ thành thép hay S.G.G.K (Super Great Goal Keeper).

Hyuga Kojiro: là một chân sút chủ lực, thường mang áo số 9 và giữ vai trò tiền đạo với các cú sút với lực sút khủng khiếp. Cậu luôn coi Tsubasa là đối thủ của mình và thường được gọi là Mãnh hổ Kojiro.

Misaki Taro: là một cầu thủ chơi bóng với kỹ thuật thực tế, trong khi Tsubasa chơi bóng bằng cả niềm đam mê. Cậu luôn là người bạn thân thiết của Tsubasa và luôn hỗ trợ Tsubasa. Cậu và Tsubasa luôn được coi là Cặp đôi vàng của Nhật Bản. Cậu thường mang áo số 11 ở vị trí tiền vệ.

Hikaru Matsuyama: là đội trưởng của trường Furano ở Hokkaido, được mệnh danh là Đại bàng phương Bắc.

Misugi Jun: là đội trưởng trường Musashi ở Tokyo. Cậu từng làm Tsubasa điêu đứng trước kỹ thuật hơn người và cách điều khiển trận đấu tài tình của mình ngay cả khi cậu bị bệnh tim. Cậu cũng được mệnh danh là Quý công tử của sân cỏ.

Wakashimazu Ken:cũng giống tương tự như Wakabayashi, một thủ môn giỏi với kỹ thuật Karate sở trường. Cậu luôn giàu lòng tự trọng của một người đàn ông.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được trình chiếu trên kênh HTV3 với tên gọi Tsubasa Giấc mơ sân cỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă "Captain Tsubasa: Revenge Match." Animax India. ngày 15 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2009.
  2. ^ Captain Tsubasa ~ World youth volume 2, Star Comics official website
  3. ^ Captain Tsubasa, Barca hero in Japan, FC Barcelona official website
  4. ^ ‘Tôi không hiểu tại sao người ta hâm mộ bóng đá. Tôi không muốn xem bất kì loại hình thể thao nào’ - bởi Jonathan Northcroft, The Sunday Times, 1 tháng 1, 2006.
  5. ^ Truyện tranh người anh hùng cảm hứng từ Nakata và Del Piero - bởi Agence France-Presse, 10 tháng 5, 2002
  6. ^ Q&A: Stephen Chow
  7. ^ Japanese and Iraqis in soccer uniforms stand in front of a Japanese Self Defence Force water truck emblazoned with the comic-book figure of Captain Tsubasa (Captain Majed in Arabic). Nguồn: Nhật Bản Now.
  8. ^ “Animage Top-100 Anime Listing”. Anime News Network. 15 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 
  9. ^ “TV Asahi Top 100 Anime”. Anime News Network. 23 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 
  10. ^ “TV Asahi Top 100 Anime, Part 2”. Anime News Network. 23 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 
  11. ^ “Japan's Favorite TV Anime”. Anime News Network. 13 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 
  12. ^ アニメージュ編集部 (1988). TVアニメ25年史. 徳間書店. tr. 140.  Đã bỏ qua văn bản “ 和書” (trợ giúp)
  13. ^ “キャプテン翼J (1994〜1995)”. allcinema. Truy cập 21 tháng 12, 2013. 
  14. ^ “アニメ「キャプテン翼」”. TOKYO MX. Truy cập 21 tháng 12, 2013. 
  15. ^ “キャプテン翼J 見どころ・あらすじ”. テレビ東京. Truy cập 21 tháng 12, 2013. 
  16. ^ “日本代表に加えたい「キャプテン翼」キャラ 1 位は日向小次郎 】” (PDF). ソニー・ピクチャーズエンターテインメント. 2010年5月10日. Truy cập 2013年12月21日.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  17. ^ a ă “#40「キャプテン翼の情熱」〜漫画家・高橋陽一”. BS日テレ - 百年旅行〜Jリーグのある風景. 2010年4月9日. Truy cập 2013年12月21日.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  18. ^ “てれとの歴史 1981-2000年”. テレビ東京. Bản gốc lưu trữ 2012年12月15日. Truy cập 2013年12月21日.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]