Suga (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Min.
Suga
Suga for Dispatch White Day Special, 27 February 2019 04.jpg
Suga trên bìa tạp chí Dispatch số ngày 7 tháng 2 năm 2019.
SinhMin Yoon-gi
9 tháng 3, 1993 (27 tuổi)
Daegu, Hàn Quốc
Nơi cư trúHannam-dong, Seoul, Hàn Quốc
Quốc tịchFlag of South Korea.svg Hàn Quốc
Nghề nghiệp
Chiều cao175 cm (5 ft 9 in)
Năm hoạt động2010–nay
Giải thưởngROK Order of Cultural Merit Hwa-gwan (5th Class) ribbon.PNG Huân chương Văn hóa Hwagwan (2018)
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danhAgust D
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Hãng đĩaBig Hit Entertainment
Hợp tác vớiBTS
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữMin Yun-gi
McCune–ReischauerMin Yunki
Hán-ViệtMẫn Doãn Kì
Tên nghệ danh
Hangul
Romaja quốc ngữSyu-ga
McCune–ReischauerSyuka
Chữ ký
Suga's signature.svg

Min Yoon-gi (Hangul: 슈가, 민윤기; sinh ngày 9 tháng 3 năm 1993), thường được biết đến với nghệ danh SugaAgust D, là một nam rapper, nhạc sĩnhà sản xuất thu âm người Hàn Quốc. Anh là thành viên của nhóm nhạc nam Hàn Quốc BTS do công ty giải trí Big Hit Entertainment thành lập và quản lý. Năm 2016, anh đã phát hành bản mixtape đầu tiên của mình, Agust D. Suga có hơn 100 ca khúc được Hiệp hội Bản quyền Âm nhạc Hàn Quốc chứng nhận, trong đó có "Wine" của Suran, đã giành giải thưởng Bài hát Soul/R&B của năm tại MelOn Music Awards 2017.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1993–2010: Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Min Yoon-gi sinh vào ngày 9 tháng 3 năm 1993, tại Daegu, Hàn Quốc. Là người con út trong gia đình có hai người con trai, anh học ở Trường Tiểu học Taejeon, Trường Cấp Hai Gwaneum, và Trường Trung học Apgujeong. Anh bắt đầu thích rap sau khi nghe "Reggae Muffin" của Stony Skunk, nói rằng nó khác với bất cứ điều gì anh từng nghe trước đây. Sau khi nghe Epik High, anh quyết định trở thành một rapper.[1]

Đến năm 13 tuổi, anh bắt đầu viết lời nhạc và học về MIDI. Anh đã làm việc bán thời gian tại một phòng thu ở tuổi 17. Từ đó, anh ấy bắt đầu sáng tác và chỉnh sửa âm nhạc, đọc rap và biểu diễn. Trước khi được ký hợp đồng, anh đã hoạt động dưới cái tên Gloss với tư cách là một rapper underground.[2] Là một phần của nhóm hiphop D-Town vào năm 2010, anh đã sản xuất "518-062", một bài hát kỷ niệm phong trào dân chủ Gwangju.[3]

2013–nay: BTS

Ban đầu gia nhập công ty với tư cách là nhà sản xuất thu âm,[4] Suga được đào tạo dưới Big Hit Entertainment trong ba năm cùng với các thành viên J-HopeRM. Anh đã xuất hiện lần đầu với tư cách là thành viên của BTS trên M Countdown của Mnet với ca khúc chủ đề "No More Dream" từ album đầu tay, 2 Cool 4 Skool.[5] Anh đã sản xuất và viết lời cho nhiều ca khúc trong tất cả các album của BTS.

Năm 2018, anh được Tổng thống Hàn Quốc trao tặng Huân chương Văn hóa Hwagwan hạng năm cùng với các thành viên khác trong nhóm.[6]

2016–nay: Hoạt động solo[sửa | sửa mã nguồn]

Anh đã phát hành một bản mixtape miễn phí mang tên "Agust D" thông qua SoundCloud vào ngày 15 tháng 8 năm 2016.[7] Anh quyết định không phát hành dự án dưới dạng album phòng thu thương mại, mô tả nó là "cảm giác bị mắc kẹt trong một khuôn khổ nào đó."[8] Trong bản thu âm này, anh đã đề cập về các vấn đề như sự đấu tranh với bệnh trầm cảm và chứng ám ảnh xã hội[9]. Fuse TV đánh giá nó là một trong 20 bản mixtape hàng đầu năm 2016.[10]

Vào năm 2017, Suga đã sáng tác bài hát "Wine" cho ca sĩ Suran, người mà trước đây anh từng hợp tác cho một đĩa đơn trong mixtape của anh.[11] Tại phòng thu của Suga, Suran đã nghe một bản nháp của "Wine" và hỏi Suga về bài hát.[12] Bản thu âm này leo lên đứng ở vị trí số 2 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon và giành chiến thắng giải thưởng Bài hát Soul/R&B của năm tại Melon Music Awards vào ngày 2 tháng 12 năm 2017.[13] Suga cũng nhận được giải thưởng xu hướng cho công sức của anh với bài hát.[14]

Suga đã tái phát hành bản mixtape của anh dưới dạng mua và phát trực tuyến vào tháng 2 năm 2018.[15] Bản tái phát hành đạt vị trí số 3 trên bảng xếp hạng album thế giới của Billboard, vị trí số 5 trên bảng xếp hạng album Top Heatseekers, và vị trí số 74 trên bảng xếp hạng doanh số album hàng đầu. Nó cũng đồng thời giúp nghệ danh solo của Suga là Agust D, chạm tới vị trí số 46 trên bảng xếp hạng Nghệ sĩ mới nổi trong tuần 3 tháng 3.[16]

Suga đã rap cho bài hát "Song Request" của ca sĩ Hàn Quốc Lee So-ra, phát hành vào ngày 22 tháng 1 năm 2019. Ca khúc được viết bởi Suga và Tablo của Epik High, người cũng sản xuất ca khúc này.[17] Bài hát ra mắt ở vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon của Hàn Quốc và ở vị trí số 2 trên bảng xếp hạng bài hát kỹ thuật số thế giới của Billboard, với 3.000 lượt tải xuống được thực hiện tại Hoa Kỳ.[18][19]

Vào ngày 27 tháng 2 năm 2019, nó đã được thông báo rằng Suga đã sản xuất một ca khúc cho mini album, Sleepless in của Epik High, có tựa đề "Eternal Sunshine".[20][21] Suga sau đó được tiết lộ đã sản xuất đĩa đơn kỹ thuật số "We Don't Talk Together" cho ca sĩ Heize, được phát hành vào ngày 7 tháng 7. Bài hát được sản xuất bởi Suga với Heize tham gia với tư cách là đồng viết lời và El Captixn và Heize như đồng sáng tác.[22]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên nghệ danh Suga (슈가) bắt nguồn từ những âm tiết đầu của thuật ngữ shooting guard (슈팅 가), nghĩa là hậu vệ, vị trí mà anh chơi trong bóng rổ khi còn là một học sinh. Anh cũng từng nói rằng nó bắt nguồn từ làn da trắng nhợt nhạt và nụ cười ngọt ngào giống như đường. Anh ấy từng chia sẻ rằng: "Tên mình là Suga bởi vì da mình nhợt nhạt, trông mình rất đẹp khi cười và mình là người rất ngọt ngào ("đường" trong tiếng Anh là "sugar").

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Suga chịu trách nhiệm viết, sáng tác và điều chỉnh, cũng như pha trộn và cân đối âm thanh. Anh có hơn tám mươi bài hát đã đăng ký và được công nhận với nghệ danh của mình theo Hiệp hội Âm nhạc Hàn Quốc, là một nghệ sĩ piano, và sản xuất nhạc hip hopR&B. Nền tảng những lời bài hát của anh liên quan tới chủ đề "đầy những ước mơ và hy vọng", được hình thành với mục đích âm nhạc của anh sẽ trở thành "sức mạnh của nhiều người". Anh đã trích dẫn Stony Skunk và Epik High là nguồn cảm hứng để theo đuổi âm nhạc hip hop. Đặc biệt, anh cho rằng album hỗn hợp reggae-hip-hop Ragga Muffin (2005) trước đây và ca khúc chủ đề của nó đã đốt cháy lên niềm yêu thích của anh với thể loại này, gọi nó là "hoàn toàn khác" so với dòng nhạc chính thống.

Jeff Benjamin của Fuse đã đánh giá bản mixtape của chàng sao K-pop, rằng nó "bộc lộ đôi tai thính của ngôi sao này cho những sản phẩm nóng bỏng, phong cách rap mạnh mẽ, và cách anh chàng biến những nhược điểm của mình thành sức mạnh."

Tác động và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một cuộc khảo sát do Gallup Korea thực hiện, Suga được xếp hạng là thần tượng được yêu thích thứ 13 trong năm 2017.[23] Trong cuộc khảo sát năm 2018, anh được xếp hạng là thần tượng được yêu thích thứ 7 trong năm.[24] Zuho của nhóm nhạc nam SF9 đã tuyên bố rằng Suga là hình mẫu của anh ấy.[25]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2019, anh sống ở Hannam-dong, Seoul, Hàn Quốc.[26] Năm 2018, anh đã mua một căn hộ cao cấp trị giá 3 triệu USD ở Hàn Quốc nhưng vẫn tiếp tục sống ở Hannam-dong.[27]

Vào năm 2014, anh đã hứa sẽ mua thịt cho người hâm mộ nếu anh thành công với tư cách là một nghệ sĩ âm nhạc. Bốn năm sau, vào sinh nhật lần thứ 25 của mình, anh đã quyên góp thịt bò cho 39 trại trẻ mồ côi dưới tên "ARMY", tên của người hâm mộ của BTS.[28] Sinh nhật lần thứ 26 của mình, anh đã quyên góp 100 triệu KRW (khoảng 88,160 USD) cho Quỹ Ung thư Nhi Hàn Quốc cùng với 329 con búp bê BT21 Shooky.[29]

Suga đã nói chuyện cởi mở về sức khỏe tinh thần và sự bình đẳng cho cộng đồng LGBTQ+.[30]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả Nguồn
2017 Melon Music Awards Hot Trend Suran (ca sĩ) và Suga (nhà sản xuất) cho "Wine" Đoạt giải [31]
2019 Mnet Asian Music Awards Best Collaboration Lee So-ra và Suga cho "Song Request" Đoạt giải [32][33]
Heize, Giriboy và Suga cho "We Don't Talk Together" Đề cử

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mixtape[sửa | sửa mã nguồn]

Tên bài hát Chi tiết album Thứ hạng cao nhất
JPN
[34]
US World
[16]
US Heat
[16]
Agust D[35]
  • Phát hành: 15 tháng 8 năm 2016
  • Hãng đĩa: Big Hit
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, nghe trực tuyến
Danh sách bài hát
  1. "Intro: Dt sugA" featuring DJ Fritz
  2. "Agust D"
  3. "Give It to Me" (각성 / 覺醒)
  4. "Skit"
  5. "724148" (치리사일사팔)
  6. "140503 at Dawn" (140503 새벽에)
  7. "The Last" (마지막)
  8. "Tony Montana" featuring Yankie
  9. "Interlude; Dream, Reality"
  10. "So Far Away" featuring Suran
77 3 5

Bài hát được xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí cao nhất Doanh số Album
Hàn Quốc HUN
[36]
NZ
Hot

[37]
SCO
[38]
UK Down.
[39]
Hoa Kỳ
Gaon
[40]
Hot 100
[41]
Bub.
[42]
World
[43]
"Intro: The Most Beautiful Moment in Life" 2015 110
  • Hàn Quốc: 22,056+[44]
The Most Beautiful Moment in Life, Part 1
"Give It To Me" 2016 4 Agust D
"The Last" (마지막; Majimak) 24
"So Far Away"
Agust D với Suran
19
"Tony Montana"
Agust D (với Yankie)
22
"First Love" 32 17
  • Hàn Quốc: 103,240+[45]
Wings
"Trivia: Seesaw" 2018 39 6 9 15 59 58 22 5
  • Hoa Kỳ: 11,000+[46]
Love Yourself: Answer
Góp giọng
"Song Request" (신청곡; Sincheonggok)
Lee So-ra (với Suga)
2019 3 9 37 2 Đĩa đơn không nằm trong album
"—" biểu thị cho các bản phát hành không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành trong khu vực đó.

Những bài hát khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Định dạng Ghi chú Nguồn
2012 "All I Do Is Win" Tải kỹ thuật số, nghe trực tuyến Không có [47]
2013 "Dream Money" [48]
"Adult Child" cùng với RMJin [49]
"It Doesn't Matter" (싸이하누월; Ssaihanuwol) Không có [50]
2018 "Ddaeng" (땡) cùng với RMJ-Hope [51]
2019 "Suga's Interlude" Halsey với Suga [52]

Như nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Nghệ sĩ Album Nguồn
2010 "518-062" D-Town non-album release [53]
2017 "Wine"
(오늘 취하면; Oneul chwihamyeon [lit. "If I Get Drunk Today"])
Suran
(với Changmo)
Walkin' [11]
2019 "Eternal Sunshine"
(새벽에; Saebyeoge [lit. "At Dawn"])
Epik High Sleepless in [21]
"We Don't Talk Together" Heize
(với Giriboy)
Đĩa đơn không nằm trong album [22]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thời lượng Đạo diễn Ghi chú Nguồn
2016 "Agust D" 3:06 Sung-wook Kim (OUI) Dưới nghệ danh Agust D [54]
"Give It to Me" 2:34 [55]

Giới thiệu và phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thời lượng Đạo diễn Ghi chú Nguồn
2015 "Intro: The Most Beautiful Moment in Life" 2:12 GDW Hoạt hình [56]
2016 "First Love #4" 2:57 Yong-seok Choi (Lumpens) Không có [57][58]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 박, 수정 (ngày 15 tháng 10 năm 2013). “방탄소년단, 네 꿈은 뭐니? (인터뷰)”. Tenasia (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2018. 
  2. ^ Park, Su-jeong (ngày 19 tháng 8 năm 2014). 기다렸다, 방탄소년단① 정규 1집이 되기까지 일곱 소년의 성장기 –데뷔 전. 10asia (bằng tiếng Hàn). Korea Entertainment Media. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ Han, Mi-rae (ngày 12 tháng 11 năm 2015). 방탄소년단 슈가가 고2때 만든 5ㆍ18노래 화제. Seoul Economy Daily (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  4. ^ 방탄소년단(BTS) "팬들이 함께 노래부르는 모습, 최고의 행복" (풀영상) / SBS (video) (News) (bằng tiếng Hàn). YouTube: SBS News. 3 tháng 6 năm 2018. Sự kiện xảy ra vào lúc 7:30. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  5. ^ Bennett, Colette (ngày 12 tháng 5 năm 2016). “How BTS is changing K-pop for the better”. dailydot. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ '대중문화예술상' BTS, 문화훈장 화관 최연소 수훈...유재석부터 故 김주혁까지 '영광의 얼굴들' (종합)” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018. 
  7. ^ Kim, Ji-ho (ngày 17 tháng 8 năm 2016). “[Starcast] "My name is, AgustD"... 'Suga' to rap about the real Min Yoon-ki”. Naver Starcast (Naver). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  8. ^ Park, Han-bit (7 tháng 10 năm 2016). 방탄소년단의 슈가, 민윤기, 혹은 Agust D. Grazia Korea (bằng tiếng Hàn). Seoul Media Group. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  9. ^ “BTS' Suga Addresses Depression & Cost of Fame on 'Agust D' Mixtape”. Billboard. Nielsen Holdings. Ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  10. ^ Benjamin, Jeff (ngày 16 tháng 12 năm 2016). “The 20 Best Mixtapes of 2016”. Fuse. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  11. ^ a ă “수란 "데뷔 첫 음원 1위 감격..슈가·창모에 무한 감사" (bằng tiếng Hàn). Naver. Ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  12. ^ “수란 "방탄소년단 슈가, 심적으로 힘들때 손 내밀어줘..1위 감사". Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 31 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2019. 
  13. ^
  14. ^ Mathew, Ilian (ngày 5 tháng 12 năm 2017). “Melon Music Awards 2017: Best Artist Of The Year goes to EXO; Complete winners list”. International Business Times. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  15. ^ Jones, Alan (ngày 26 tháng 2 năm 2018). “International Charts Analysis: Black Panther OST comes charging out of the blocks”. Music Week. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2018. 
  16. ^ a ă â Agust D Billboard charts:
  17. ^ Kim, Won-kyum (ngày 18 tháng 1 năm 2018). “[단독]"환상의 컬래버"…이소라-방탄소년단, '신청곡'으로 입맞춤”. SpoTV News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2018. 
  18. ^ “2019년 04주차 Digital Chart” [Week 4 2019 Digital Chart]. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019. 
  19. ^ a ă Benjamin, Jeff (ngày 31 tháng 1 năm 2019). “Lee Sora & Suga Debut on World Digital Song Sales With 'Song Request'. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019. 
  20. ^ Seon, Mi-kyung. “방탄소년단 슈가, 에픽하이 앨범에 피처링 아닌 프로듀서 참여.."시너지 발휘". Osen. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019. 
  21. ^ a ă Zhang, Jin-li (ngày 5 tháng 3 năm 2019). “에픽하이, 새 앨범 타이틀곡은 '술이 달다'...방탄소년단 슈가 수록곡 참여 [공식입장]”. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2019. 
  22. ^ a ă Hwang, Ji-young (ngày 27 tháng 6 năm 2019). “방탄소년단 슈가, 헤이즈 신곡 프로듀싱 "공동 작사 작곡". Daily Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2019.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lang= (trợ giúp)
  23. ^ “2017년 올해를 빛낸 가수와 가요 - 최근 11년간 추이, 아이돌 선호도 포함”. Gallop Korea (bằng tiếng Korean). Ngày 19 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2018. 
  24. ^ “한국갤럽 데일리 오피니언, 매주 새로운 여론조사 결과를 전합니다.”. Gallop Korea (bằng tiếng Korean). Ngày 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2018. 
  25. ^ “쭤🦁”. V Live. SF9. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019. 
  26. ^ Han, Jin (ngày 3 tháng 7 năm 2018). [라이프트렌드] 유명인이 반한 한남동, 최고급 주거지로 뜬 이유. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  27. ^ Hwang, Bi (ngày 20 tháng 1 năm 2019). 34억짜리 고급 빌라 대출 없이 '현금'으로 매입한 '영앤리치' 방탄 슈가 ["Young & Rich" BTS Suga purchased a 3.4 billion won luxury villa in cash without loan]. Insight (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  28. ^ Hwang, Hye-jin (ngày 9 tháng 3 năm 2018). [스타와치]생일맞은 방탄소년단 슈가, 보육원 39곳에 한우 기부한 사연 [[Star Watch] BTS' Suga Donates Korean Beef to 39 Orphanages for his Birthday]. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  29. ^ Kim, Nam-hong (ngày 9 tháng 3 năm 2019). 방탄소년단 슈가, 한국소아암재단에 성금 1억원 기부 [BTS' Suga donates 100 million won to Korea Cancer Foundation]. Financial Today Newspaper (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019. 
  30. ^ Jung, Alex E. (ngày 15 tháng 2 năm 2018). “BTS Speaks Out In Seoul: The K-Pop Megastars Get Candid About Representing a New Generation”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2018. 
  31. ^ “방탄소년단 슈가·수란, 핫 트렌드 상 수상” (bằng tiếng Hàn). Sports Seoul. Ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  32. ^ “2019 MAMA' Unveils Official Nominees, Check the List and Voting Here” (bằng tiếng Hàn). Business Time. Ngày 26 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019. 
  33. ^ Jeong, An-ji (ngày 4 tháng 12 năm 2019), [2019 MAMA] 방탄소년단으로 시작해 방탄소년단으로 끝났다..대상 4개 포함 '9관왕' [종합] [[2019 MAMA] Started with BTS and ended with BTS. '9 Awards' with 4 Grand Prizes], Sports Chosun (bằng tiếng Hàn), Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2019, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2019 
  34. ^ “Billboard Japan Hot Album Chart-ngày 5 tháng 3 năm 2018”. Billboard Japan. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  35. ^ “Agust D”. Soundcloud. soundcloud. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2018. 
  36. ^ Compiled sources:
  37. ^ “NZ Hot Singles Chart”. Recorded Music NZ. Ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  38. ^ “Official Scottish Singles Sales Chart Top 100”. officialcharts.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2018. 
  39. ^ “Official Singles Downloads Chart Top 100: ngày 8 tháng 9 năm 2018”. OCC. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018. 
  40. ^ Compiled Gaon sources:
  41. ^ Compiled K-Pop Hot 100 sources:
  42. ^ “BTS Chart History: Bubbling Under Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018. 
  43. ^ Compiled Billboard World Digital Songs Sales:
  44. ^ Intro: The Most Beautiful Moment In Life Sales:
  45. ^ Cumulative sales of "First Love":
  46. ^ Benjamin, Jeff. “BTS Breaks Their Own Record for Most Simultaneous Hits on World Digital Song Sales Chart”. billboard.com. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018. 
  47. ^ “SUGA - All I Do Is Win”. soundcloud. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2019. 
  48. ^ “SUGA - Dream Money”. soundcloud. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018. 
  49. ^ “어른아이 by Rap Monster, Suga, & Jin”. soundcloud.com. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018. 
  50. ^ “SUGA 싸이하누월 MIX Final”. soundcloud.com. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2019. 
  51. ^ “땡 - RM, SUGA, J-HOPE”. SoundCloud. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018. 
  52. ^ Zemler, Emily; Zemler, Emily (ngày 6 tháng 12 năm 2019). “Hear Halsey Collaborate With BTS' SUGA on 'SUGA's Interlude'. Rolling Stone (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2019. 
  53. ^ References:
  54. ^ Khater, Ashraf (ngày 15 tháng 8 năm 2016). “BTS Suga Mixtape [LISTEN]: 10 Best Lyrics From Suga's 'Agust D'. ibitimes. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  55. ^ Tucci, Sherry (ngày 18 tháng 8 năm 2016). “BTS rapper Suga goes into blast mode on ‘Give It to Me’”. Daily Dot. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  56. ^ “BTS' 50 Best Songs: Critics' Picks (See #38)”. Billboard. Ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  57. ^ “BTS (방탄소년단) WINGS Short Film #4 FIRST LOVE”. Youtube. Big Hit Entertainment. Ngày 8 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  58. ^ WowKeren, Tim (ngày 9 tháng 9 năm 2016). “Simak Adegan Suga Tertabrak Yang Hampir Membuat Jantungan Ini.”. wowkeren (bằng tiếng Indonesian). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Suga tại Wikimedia Commons