Stand by Me Doraemon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Doraemon - Đôi bạn thân)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Stand by Me Doraemon
Áp phích phim tại Việt Nam
IMDb 3of5.svg 7,4/10 (3.854 phiếu bầu)
Thông tin phim
Tiếng Nhật STAND BY ME ドラえもん
Dịch nghĩa Doraemon luôn bên tôi
Đạo diễn Yamazaki Takashi
Yagi Ryūichi
Sản xuất Shunsuke Okura
Moriya Keiichiro
Shibuya Kiyoko
Okada Maiko
Kịch bản Yamazaki Takashi
Dựa trên Doraemon
của Fujiko F. Fujio
Diễn viên Mizuta Wasabi
Ohara Megumi
Kakazu Yumi
Kimura Subaru
Seki Tomokazu
Kamei Yoshiko
Yamazaki Vanilla
Hagino Shihoko
Takagi Wataru
Mitsuishi Kotono
Matsumoto Yasunori
Takeuchi Miyako
Tahara Aruno
Tsumabuki Satoshi
Âm nhạc Sato Naoki
Hãng sản xuất
Công chiếu 8 tháng 8, 2014
Độ dài 95 phút
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Kinh phí 35 triệu Đôla Mỹ
Doanh thu 8,38 tỉ Yên[1][2][3] (khoảng 79 triệu đôla Mỹ)
Website chính thức
Chủ đề Anime và manga

Stand by Me Doraemon (STAND BY ME ドラえもん?) hay còn được biết với tên Doraemon - Đôi bạn thân là phim hoạt hình máy tính 3D Nhật Bản 2014 của đạo diễn Yamazaki Takashi (đạo diễn phim San-Chōme no YūhiEien no Zero) và Yagi Ryūichi (đạo diễn phim Friends: Mononoke Shima no Naki).[4] Dựa trên nhiều mẩu truyện ngắn khác nhau trong manga Doraemon gốc, tác phẩm được biên tập lại thành phim hoàn chỉnh phát hành nhân dịp kỉ niệm 80 năm ngày sinh cố tác giả Fujiko F. Fujio.[5] Nội dung phim kể về Doraemon, một chú mèo máy không tai đến từ tương lai trở về những năm 70 để giúp một cậu bé "vô tích sự" tên là Nobita thay đổi tương lai đen tối sang một viễn cảnh tương lai tươi sáng vốn sẽ thay đổi số phận của con cháu Nobita về sau và khi Doraemon hoàn tất nhiệm vụ chia tay Nobita cùng với đó là cuộc hội ngộ bất ngờ của họ do chính Nobita tạo ra.

Stand by Me Doraemon chính thức khởi chiếu từ ngày 8 tháng 8 năm 2014 tại rạp Toho, Nhật Bản. Tại Việt Nam, được khởi chiếu từ ngày 12 tháng 12 năm 2014. Phim nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ khán giả cũng như đã thu về 8,38 tỉ Yên (khoảng 79 triệu đôla Mỹ) cho nhà sản xuất với chi phí sản xuất ban đầu là 35 triệu đôla Mỹ và nhận được Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 cho hạng mục Phim Hoạt hình xuất sắc.[1]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự không giỏi giang của tổ tiên khiến cuộc sống con cháu đời nhà sau của dòng họ Nobi trở nên khốn khó nên Sewashi từ thế kỉ 22 về quá khứ giúp đỡ cụ tổ nhà cậu. Mặc dù không muốn ở lại với Nobita nhưng mèo máy Doraemon bất lực vì bị Sewashi cài chương trình chỉ khi đem đến hạnh phúc cho Nobita mới được trở về nhà. Bằng những bảo bối thần kỳ đến từ thế giới tương lai, Doraemon đã đem đến một cuộc sống hoàn toàn khác so với trước đây: không còn đi học trễ hay bài kiểm tra điểm kém và nhất là có được tình cảm của Shizuka. Trải qua bao chuyện tình bạn giữa Nobita và Doraemon ngày được vun đắp sâu đậm và đây cũng là lúc Doraemon phải về lại tương lai vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Ngày Doraemon ra đi cậu rất buồn rồi hôm sau Jaian đã nói dối rằng Doraemon đã trở về khiến cậu vui mừng khôn siết nhưng ngay sau đó cậu đau lòng khi biết sự thật. Cậu đã uống "Thuốc nói dối" và vô tình đã đưa được Doraemon về lại bên cạnh cậu.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tạo hình nhân vật

Vào năm 2011, đội ngũ sản xuất khẳng định "Khác với những tập phim điện ảnh trước đây, tập phim này vừa cũ vừa mới".[6] Được chọn là biên kịch Yamazaki Takashi yêu cầu "Nội dung phim phải hướng đến những thứ tình cảm đầu đời".[7][8] Sau đó phim mất một năm rưỡi để thiết kế nhân vật và ba năm để theo sát các hoạt động cũng như biểu lộ cảm xúc của họ. Hoạt hoạ CGI được tiến hành sau khi các đoạn hội thoại được thu âm (Puresuko).[9] Phần cảnh quan của khu phố nơi Nobita sống được thực hiện với các mô hình thu nhỏ.[10] Các công nghệ 3D tối tân như chiếu sáng tổng thể hay tán xạ bề mặt phụ được sử dụng để tái hiện các kết cấu chân thực nhất. Các đoạn hội thoại trong phim đa số theo sát bản gốc hết mức có thể nhằm giữ được cái hay của bộ truyện gốc.[11] Vì là bộ phim 3D đầu tiên về Doraemon,Yamazaki và đạo diễn Yagi đã tuyển chọn những câu chuyện ngắn hay nhất như như Người bạn đến từ tương lai, Quả trứng động vật theo mẹ, Vĩnh biệt Shizuka, Sự lãng mạn trên đỉnh núi tuyết, Đêm trước ngày cưới Nobita, Tạm biệt DoraemonDoraemon trở lại để kết thành kịch bản phim thay vì những câu chuyện dài về những cuộc phiêu lưu của nhóm bạn Nobita. Thời gian của "hiện tại" trong phim được giữ ở giai đoạn giữa những năm 70, khi họ xem truyện lúc còn bé.[12]

Nhân vật Diễn viên lồng tiếng
Nhật Bản [voice 1] Việt Nam [voice 2]
Doraemon Mizuta Wasabi Thùy Tiên
Nobita Ōhara Megumi
Tsumabuki Satoshi (trưởng thành)
Anh Tuấn
Shizuka Kakazu Yumi Ngọc Châu
Suneo Seki Tomokazu Minh Vũ
Jaian Kimura Subaru Tiến Đạt
Sewashi Matsumoto Sachi Kim Anh
Jaiko Yamazaki Vanilla Thanh Hồng
Dekisugi Hagino Shihoko Kiêm Tiến
Thầy giáo Takagi Wataru Trần Vũ
Mẹ của Nobita Mitsuishi Kotono Ngọc Quyên
Ba của Nobita Matsumoto Yasunori Bá Nghị
Mẹ của Jaian Takeuchi Miyako Kim Anh
Ba của Shizuka Tahara Aruno Trí Luân

Để đáp ứng nhu cầu độc giả cũng như khán giả xem phim một vài tác phẩm liên quan cũng đã được ra mắt như: New translation "Doraemon" (新訳『ドラえもんん』) được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 25 tháng 7 năm 2014,[13] Visual Story được phát hành ngày 7 tháng 8 năm 2014,[14], đĩa Blu-ray & DVD phát hành vào ngày 18 tháng 2 năm 2015... Các ấn phẩm sau đó được phân phối lại tại một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, sách Visual Story được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành ngày 6 tháng 2 năm 2015.[15]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc chủ đề chính của phim là "Himawari no Yakusoku" do Hata Motohiro viết lời và trình bày. Đảm nhiệm viết nhạc soundtrack trong phim là Sato Naoki. Các đoạn nhạc của Sato sau đó được tập hợp lại đóng thành album mang tên Stand by Me Doraemon Original Soundtrack và được hãng đĩa Nippon Columbia phát hành vào ngày 17 tháng 9 năm 2014.[16][17][18] Bài hát "Himawari no Yakusoku" nhận được các phản hồi tích cực từ khán giả.

Toàn bộ phần nhạc soạn bởi Sato Naoki.

Bảng xếp hạng tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát "Himawari no Yakusoku"
Bảng xếp hạng Thứ hạng
cao nhất
Oricon Weekly Singles Chart [19] 10
Billboard Japan Hot 100[20] 2
Danh sách đĩa đơn bán chạy nhất năm tại Nhật của iTunes [21] 2
Bảng xếp hạng bài hát năm Rekochoku [22] 12
Bảng xếp hạng bài hát năm Billboard JAPAN Hot Animation [23] 2

Phát hành và phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi công chiếu tại Nhật Bản, phim được giới thiệu tại một số quốc gia khác trên thế giới.[24][25][26][27] Phim được công chiếu tại Ý vào ngày 6 tháng 11 năm 2014 và Việt Nam vào ngày 12 tháng 12 năm 2014, IndonesiaSingapore (18 tháng 12 năm 2014), Tây Ban NhaĐài Loan (19 tháng 12 năm 2014), Campuchia (25 tháng 12 năm 2014), Thái Lan (1 tháng 12 năm 2014), Brunei (22 tháng 1 năm 2015), Malaysia (29 tháng 1 năm 2015), Hàn Quốc (12 tháng 2 năm 2015), Hồng Kông (19 tháng 2 năm 2015), Trung Quốc (28 tháng 5 năm 2015), Philippines (17 tháng 6 năm 2015), Ả Rập (17 tháng 12 năm 2015) và tại Kuwait vào ngày 11 tháng 2 năm 2016.[28][29][30] Phim được trình chiếu tại Liên hoan phim Tokyo vào ngày 28 tháng 10 năm 2014 và Liên hoan phim hoạt hình Brussels tại Bỉ vào ngày 6 tháng 2 năm 2016. Còn tại Ấn Độ phim phát sóng truyền hình Hungama TV vào ngày 19 tháng 6, 2016. Tại Việt Nam phim được phát sóng lại trên K+ NS, K+ NS HD vào ngày 1 tháng 6 năm 2015 và trên kênh SeeTV vào ngày 1 tháng 7 năm 2016.[31]

Một cuộc khảo sát trực tuyến tại Nhật cho kết quả có 20.4% khán giả là trẻ em, 21.5% trong độ tuổi 20-29, 20.4% trong độ tuổi 30-39, 20.4% trong độ tuổi 40-49. 47% khán giả là nam, 53% là nữ. Có 88.4% khán giả đã khóc khi xem phim.[32]

Ở Nhật Bản phim được công chiếu ở 319 cụm rạp, trong hai ngày đầu (ngày 8 và 9 tháng 8 năm 2014) phim thu về 767 triệu Yên đứng vị trí số 1 bảng xếp hạng phòng vé đến ngày thứ 3 doanh thu nâng lên 988 triệu Yên (tương đương 9.67 triệu Đô la Mỹ).[33]Sau 40 ngày công chiếu phim đạt doanh thu 7 tỉ Yên cho đến ngày thứ 76 thì cán mốc 8 tỉ Yên.[34] Phim năm tuần liên tiếp đứng vị trí số một tại phòng vé Nhật Bản.[35] Vào tháng 12 năm 2014, phim đạt doanh thu 8.38 tỉ yên xếp thứ 2 bảng "doanh thu vàng" tại Nhật Bản,chỉ sau Eien no Zero và nằm trong top 5 phim Nhật năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản.[2][36] Doanh thu tổng cộng của phim đạt 86.1 triệu đôla Mỹ trên toàn thế giới và là một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 với doanh thu trong nước khoảng 70 triệu đôla Mỹ.[1]

Tại Hồng Kông, tính đến ngày 18 tháng 2 năm 2015, phim thu về 8.43 triệu nhân dân tệ, trong đó thì vào ngày 14 tháng 2 thu về 3.03 triệu nhân dân tệ, đứng đầu phòng vé ngay ngày đầu tiên.[37] Ngày 19 tháng 2 thu về thêm 11.76 triệu nhân dân tệ.[38] Khoảng một tuần sau khi phát hành, phim thu về 31.37 triệu nhân dân tệ, phá vỡ kỷ lục phim Ringu của năm 1999,[39] và phim nằm ở vị trí thứ 3 trong top phim hoạt hình có doanh thu cao nhất tại Hồng Kông chỉ sau Câu chuyện đồ chơi 3Lò đào tạo quái vật của Pixar.[1] Trong bốn ngày đầu của tuần đầu tại Trung Quốc đại lục phim đạt 237 triệu Nhân dân tệ (phá vỡ kỷ lục Bí kíp luyện rồng 2),[40] còn trong ngày đầu thu về 84 triệu, bước sang ngày thứ hai thu về 88 triệu phá vỡ kỷ lục phim Kung Fu Panda 2 phát hành ngày 28 tháng 5 năm 2011 trên bảng xếp hạng phòng vé.[41][42] Đến ngày thứ 5 phim kiếm được $53 triệu trở thành bộ phim hoạt hình không phải Hollywood có doanh thu cao nhất tại Trung Quốc (phá vỡ doanh thu của Boonie Bears: Mystical Winter),[43] và có doanh thu cao thứ ba chỉ sau Kung Fu Panda 2 ($92.2 triệu) và Biệt đội Big Hero 6 ($86.7 triệu).[44] Hiện tổng doanh thu là 86.9 triệu đô la Mỹ.

Phim có doanh thu tại Ý là 3.2 triệu đôla Mỹ, tại Indonesia là 3 triệu đôla Mỹ, tại Hàn Quốc là 3.2 triệu đôla Mỹ và tại Thái Lan là 1.2 triệu đôla Mỹ.[1] Theo một cuộc khảo sát của PIA trong ngày đầu công chiếu phim ở phạm vi công cộng với nhiều nhóm tuổi khác nhau về mức độ hài lòng của khán giả về bộ phim thì kết quả là phim đứng vị trí số 1 với 92.6 điểm.[39][45] Còn theo một cuộc khảo sát khác của NEWS Post Seven về cảnh trong phim mà mọi người ấn tượng nhất thì Nobita một mình chiến đấu với Jaian, Shizuka và ba của cô ấy vào đêm trước hôn lễ là câu đa số được mọi người trả lời nhiều nhất.[46]

Khi phim được phát hành tại Trung Quốc đại lục, giáo sư Noriyuki Kawamura cho rằng bộ phim có thể sẽ giúp người dân đại lục có cái nhìn tích cực về đất nước Nhật Bản.[47][48]

Giải thưởng
Năm Tên giải Hạng mục Đề cử Kết quả Chú thích
2014 Giải Lumiere Grand Prix Nhật Bản Giải Grand Prix Stand by Me Doraemon Đoạt giải [49]
2014 Giải Nikkan Sports lần thứ 27 Đạo diễn xuất sắc nhất Takashi Yamazaki Đoạt giải [50]
2015 Giải Phim 3D Giải Jury cho Hoạt hình nước ngoài Stand by Me Doraemon Đoạt giải [51]
2015 Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 Hoạt hình của năm Stand by Me Doraemon Đoạt giải [52]
2015 Liên hoan phim Tokyo Anime Hoạt hình của năm (Hạng mục phim) Stand by Me Doraemon Notable Entry [53][54]
2015 Liên hoan phim kỳ ảo quốc tế Yubari VFX JAPAN AWARD Ryūichi Yagi Đoạt giải [55]
2015 Giải AMD lần thứ 20 Giải truyền thông Kỹ thuật số Stand by Me Doraemon Đoạt giải [56]
2015 Giải Phê bình phim Nhật Bản lần thứ 24 Giải thành tựu trọn đời Michihiko Umezawa và Shuji Abe Đoạt giải [57]
2015 Giải Fujimoto lần thứ 34 Ito Yoshiaki, Michihiko Umezawa và Shuji Abe Đoạt giải [58]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c by Gavin J. Blair, Karen Chu (ngày 3 tháng 3 năm 2015). 'Doraemon' Anime Film Scores Big in Asia with Record Hong Kong Run [Phim Anime Doraemon phim lớn tại Châu Á với kỉ lục tại Hồng Kông]” (bằng tiếng Anh). The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ a ă “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円! [10 phim hoạt hình Nhật Bản hay nhất năm 2014, đạo diễn Yamazaki Takashi hai tác phẩm đạt 17.1 tỉ Yên]” (bằng tiếng Nhật). eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “2015年記者発表資料(2014年度統計)[Danh sách báo cáo dữ liệu năm 2015 (số liệu thống kê năm 2014)]” (PDF) (bằng tiếng Nhật). Motion Picture Producers Association of Japan. Ngày 27 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014. 
  4. ^ “Robot Cat Doraemon's 1st 3D CG Film Teased in Video [Video quảng bá đầu tiên của phim điện ảnh 3D Doraemon]”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ “3DCG『ドラえもん』、藤子・F・不二雄先生も知らなかった物語 [Doraemon 3D, câu chuyện họa sĩ Fujiko F. Fujio không biết đến]” (bằng tiếng Nhật). Oricon.co.jp. Ngày 16 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  6. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』の主題歌に秦基博が決定!新曲を書き下ろし [Hata Motohiro quyết định ca khúc chủ đề của phim Stand by Me Doraemon! Một ca khúc mới]” (bằng tiếng Nhật). Cinetri.jp. Ngày 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  7. ^ Takuya, Tanaka (ngày 8 tháng 8 năm 2014). “3DCG映画『STAND BY ME ドラえもん』制作秘話 - スタッフが追求した徹底的な「リアル」とは [Phim 3D Stand by Me Doraemon - Câu chuyện hậu trường - Theo chân nhân viên sản xuất]” (bằng tiếng Nhật). news.mynavi.jp. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  8. ^ Yáo, Liú (ngày 8 tháng 8 năm 2014). “【特集】【本日公開】映画『STAND BY ME ドラえもん』制作の舞台裏 〜『ドラえもん』がフル3D CGに [Chủ đề: Hôm nay phát hành phim Stand by Me Doraemon - Chuyện hậu trường sản xuất]” (bằng tiếng Nhật). impress.co.jp. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  9. ^ “「ドラえもん」が初の3DCG映画化 来夏公開へ [Doraemon 3D đầu tiên sẽ được phát hành vào mùa hè tới]” (bằng tiếng Nhật). oricon.co.jp. Ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  10. ^ “「STAND BY ME ドラえもん」3DCGで2014年夏公開 立体視アニメを山崎貴・八木竜一監督が [Phim 3D mùa hè năm 2014 Stand by Me Doraemon, đạo diễn Yamazaki Takashi và Yagi Ryuichi tạo nên một bộ phim hoạt hình ấn tượng]” (bằng tiếng Nhật). animeanime.jp. Ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  11. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』山崎貴&八木竜一&山本美月 単独インタビュー [Stand by Me Doraemon: Cuộc phỏng vấn giữa Yamazaki Takashi, Yagi Ryuichi và Yamamoto Mizuki]” (bằng tiếng Nhật). Cinematoday.jp. Ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  12. ^ “3DCG『ドラえもん』、『ALWAYS』『永遠の0』と同じ手法で活路 [Doraemon 3D cũng giống như AlwaysEien no Zero]” (bằng tiếng Nhật). oricon.co.jp. Ngày 14 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  13. ^ “新訳『ドラえもん』 [Sách New translation Doraemon]” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  14. ^ “映画「STAND BY ME ドラえもん」VISUAL STORY 未来の国からはるばると [Sách Visual Story Stand by Me Doraemon]” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  15. ^ Ngọc, Giáng (ngày 4 tháng 2 năm 2015). “Ra mắt ấn phẩm đồng hành cùng bộ phim Stand by Me Doraemon”. Vovworld.vn. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナル・サウンドトラック [Eiga Stand by Me Doraemon Original Soundtrack]” (bằng tiếng Nhật). Recochoku.jp. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナ ル・サウンドトラック [Stand by Me Doraemon Original Soundtrack]” (bằng tiếng Nhật). Columbia.jp. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  18. ^ “STAND BY ME ドラえもん ORIGINAL SOUNDTRACK [Stand by Me Doraemon Original Soundtrack]” (bằng tiếng Nhật). Billboard-japan.com. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  19. ^ “「ひまわりの約束」 秦 基博 ["Himawari no Yakusoku" - Hata Motohiro]” (bằng tiếng Nhật). Oricon.co.jp. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  20. ^ “Billboard Japan Hot 100”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Hanshin Contents Link. Ngày 18 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  21. ^ RYUSENKAI. “ITUNES JAPAN REVEALS THEIR “BEST OF 2014″ SELECTIONS + YEARLY BESTSELLERS [Itunes Nhật Bản tiết lộ sản phẩm chọn lọc và ăn khách nhất trong năm 2014 của họ]” (bằng tiếng Anh). Aramajapan.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ RONALD. “RECOCHOKU RELEASES ITS YEAR END CHARTS FOR 2014 [Recochoko công bố bảng xếp hạng năm 2014]” (bằng tiếng Anh). Aramajapan.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  23. ^ Komatsu, Mikikazu (ngày 12 tháng 12 năm 2014). “Takako Matsu's "Let It Go" Tops Billboard Japan's "Hot Animation" Ranking of 2014 ["Let It Go" của Matsu dẫn đầu bảng xếp hạng "Hot Animation" 2014 của Billboard Nhật Bản]” (bằng tiếng Anh). crunchyroll.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  24. ^ “3DCG『ドラえもん』、興収80億円突破 [Doraemon 3D cán mốc 8 tỷ Yên]” (bằng tiếng Nhật). Oricon.co.jp. Ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  25. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』21の国と地域へ進出! 海外バイヤーが大絶賛 [Stand by Me Doraemon được mang đến 21 quốc gia và vùng lãnh thổ! Lời khen từ người mua nước ngoài]” (bằng tiếng Nhật). crank-in.net. Ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  26. ^ “3DCG『ドラえもん』世界へ 21ヶ国・地域で公開決定 [Doraemon 3D được mang đến 21 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới]” (bằng tiếng Nhật). Oricon.co.jp. Ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  27. ^ “Stand By Me Doraemon 3D CG Film to Open in 57 Countries [Phim 3D Stand by Me Doraemon khởi chiếu tại 57 quốc gia]” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  28. ^ “Stand by Me Doraemon (2014) - Release Info [Stand by Me Doraemon (2014) - Thông tin phát hành]”. Internet Movie Database (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  29. ^ “3D Doraemon film coming to China [Phim Doraemon 3D sắp đến Trung Quốc]” (bằng tiếng Anh). Sina.com. Ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  30. ^ J. Blair, Gavin; Coonan, Clifford (ngày 28 tháng 5 năm 2015). 'Stand By Me Doraemon' Becomes First Japanese Movie in China in Three Years [Stand by Me Doraemon trở thành bộ phim Nhật Bản đầu tiên được trình chiếu tại các rạp Trung Quốc sau 3 năm]” (bằng tiếng Anh). Holywoodreporter.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  31. ^ “Doraemon trở lại tuổi thơ 18 giờ hôm nay trên kênh K+ NS”. Hctv.com.vn. Ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015. 
  32. ^ “3Dドラえもん、好スタート!88.4%が涙 [Doraemon 3D khởi đầu tốt! 88.4% nước mắt]” (bằng tiếng Nhật). tv-asahi.co.jp. Ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  33. ^ “3Dドラえもん 週末動員初登場1位!88・4%が「ドラ泣き」[Doraemon 3D dẫn đầu doanh thu phòng vé tuần! 88.4 % 'khóc cùng Doraemon']” (bằng tiếng Nhật). sponichi.co.jp. Ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  34. ^ “映画ドラえもん、興行収入80億円突破 [Phim Doraemon đạt doanh thu 8 tỷ Yên]” (bằng tiếng Nhật). Nikkansport.com. Ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014. 
  35. ^ “3DCGドラえもん強い!週末動員V5、興収60億円突破 [Doraemon 3D đại thắng! Tuần thứ 5, doanh thu 6 tỷ Yên]” (bằng tiếng Nhật). Sponichi.co.jp. Ngày 8 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  36. ^ “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円! [10 phim hoạt hình xuất sắc năm 2014, 2 tác phẩm 17.1 tỉ Yên của đạo diễn Yamazaki Takashi]” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập 17 tháng 12 năm 2014. 
  37. ^ “賀歲片情人節搶灘 叮噹日收300萬稱霸 [Ngày đầu Valentine Doraemon mang về 3 triệu]” (bằng tiếng Trung). Appledaily.com. Ngày 16 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ “單日收333萬發威 叮噹催淚贏盡賀歲檔 [Doraemon mang về 3.33 triệu trong một ngày]” (bằng tiếng Trung). Appledaily.com. Ngày 21 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ a ă “叮噹破3000萬創紀錄 [Doraemon lập kỉ lục 30 triệu]” (bằng tiếng Trung). Appledaily.com. Ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ Rob Cain (31 tháng 5, 2015). “Japan's Unlikely Ambassador: a Cartoon Robot Cat From the Future Wins China's Hearts and Minds [Đại sứ của Nhật Bản: một chú mèo robot hoạt hình đến từ tương lai chinh phục trái tim và trí tưởng tượng của Trung Quốc]”. Forbes (bằng tiếng Anh). (Forbes, Inc.). Truy cập 5 tháng 6, 2015. 
  41. ^ “动画电影《哆啦A梦》剧场版中文版国内票房破纪录 [Phim hoạt hình Doraemon phá vỡ kỉ lục phòng vé tại Trung Quốc]” (bằng tiếng Trung). anfone.net. Tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  42. ^ “《哆啦A梦》首周近2.4亿成内地最卖座日片 [Doraemon tại Trung Quốc đại lục thu về 240 triệu trong tuần đầu tiên công chiếu]” (bằng tiếng Trung). sina.com.cn. Ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015. 
  43. ^ Rob Cain (ngày 2 tháng 6 năm 2015). “Box Office Shocker: Japanese Film Wins at Chinese Box Office [Cú sốc doanh thu phòng vé: Phim Nhật Bản giành chiến thắng tại phòng vé Trung Quốc]”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ Rob Cain (ngày 10 tháng 6 năm 2015). “China Box Office: "San Andreas" Rolls to Strong PRC Opening [Phòng vé Trung Quốc: San Andreas mở đầu ấn tượng tại Trung Quốc đại lục]”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015. 
  45. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』を観た観客の反応は? [Phản ứng của khán giả sau khi xem Stand by Me Doraemon là gì?]” (bằng tiếng Nhật). pia.co.jp. Ngày 11 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  46. ^ “ドラえもん映画 ストーリーを知る大人も「泣けた」理由とは [Nội dung phim Doraemon khiến người lớn phải 'khóc']” (bằng tiếng Nhật). news-postseven.com. Ngày 15 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  47. ^ Jozuka, Emiko (ngày 5 tháng 6 năm 2015). “Is a Time-Traveling Robot Cat Inspiring China and Japan to Bury the Hatchet? [Chuyến du hành thời gian của chú mèo máy mang đến động lực giúp Trung Quốc và Nhật Bản để giảng hòa?]” (bằng tiếng Anh). Motherboard.vice.com. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  48. ^ McCurry, Justin (ngày 3 tháng 6 năm 2015). “Japanese robot cat Doraemon helps ease diplomatic tension [Chú mèo máy Nhật Bản Doraemon giúp giảm căng thẳng ngoại giao]” (bằng tiếng Anh). Theguardian.com. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  49. ^ “ルミエール・ジャパン・アワードグランプリは「ドラえもん」[Lumiere Japan Award đoạt giải Grand Prix là Doraemon]” (bằng tiếng Nhật). eiga.com. Ngày 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  50. ^ “山崎貴監督エンタメ貫き2冠/映画大賞 [Đạo diễn Yamazaki Takashi / Giải đạo diễn]”. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). Ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  51. ^ “International 3D & Advanced Imaging Society Bestows 23 Honors at 6th Annual Awards Ceremony at Warner Bros. Studios [Hiệp hội hình ảnh tiên tiến và quốc tế 3D trao tặng 23 danh hiệu tại Lễ trao giải thưởng thường niên lần thứ 6, tại Warner Bros. Studios]” (bằng tiếng Anh). Businesswire.com. Ngày 29 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  52. ^ “第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表! [Thông báo giải thưởng xuất sắc nhất của Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38]” (bằng tiếng Nhật). Japan-academy-prize.jp. Truy cập 27 tháng 5 năm 2015. 
  53. ^ “アニメ オブ ザ イヤー」TAAF2015 「アナ雪」や「妖怪ウォッチ」がグランプリにノミネート [TAAF 2015: Anime của năm Frozen - Nữ hoàng băng giáYokai Watch được đề cử cho giải Grand Prix]” (bằng tiếng Nhật). animeanime.jp. Ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  54. ^ “Frozen, Ping Pong tiger and bunny win at Tokyo Anime Award [Prozen, hổ Ping Pong và Bunny giành chiến thắng tại Tokyo Anime Award Festival]” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 22 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  55. ^ “「STAND BY ME ドラえもん」などVFX-JAPANアワード2015最優秀賞決定 [Stand by Me Doraemon tại Lễ trao giải VFX Japan Award 2015]” (bằng tiếng Nhật). animenanime.jp. Ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2018. 
  56. ^ “Aikatsu, Yo-Kai Watch, Stand By Me Doraemon Win Digital Media Awards [Yokai Watch, Aikatsu, Stand by Me Doraemon giành chiến thắng tại Digital Media Awards]” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập 3 tháng 6 năm 2018. 
  57. ^ “第24回日本映画批評家大賞アニメ部門 作品賞 に「楽園追放」、監督賞に米林宏昌 [Giải thưởng Nhà phê bình điện ảnh Nhật Bản lần thứ 24: tác phẩm Rakuen Rsuihō giành giải phim hoạt hình và đạo diễn Yonebayashi Hiromasa đoạt giải]” (bằng tiếng Nhật). animeanime.biz. Ngày 10 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  58. ^ “第34回藤本賞に「STAND BY ME ドラえもん」製作陣、続編製作に意欲 [Nhà sản xuất Stand by Me Doraemon tại Giải thưởng Fujimoto lần thứ 34, động lực sản xuất phần tiếp theo]” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 4 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
Tham khảo
  1. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc cuối phim
  2. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc các tập phim trên HTV3 và giọng nói nhân vật

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]