Hashimoto Ryūtarō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hashimoto Ryūtarō
橋本 龍太郎
Ryutaro Hashimoto 19960111.jpg
Thủ tướng thứ 82 và 83 của Nhật Bản
Nhiệm kỳ
11 tháng 1 năm 1996 – 30 tháng 7 năm 1998
2 năm, 200 ngày
Thiên hoàngAkihito
Phó Thủ tướngKubo Wataru
Tiền nhiệmMurayama Tomiichi
Kế nhiệmObuchi Keizō
Phó Thủ tướng Nhật Bản
Nhiệm kỳ
2 tháng 10 năm 1995 – 11 tháng 1 năm 1996
101 ngày
Thủ tướngMurayama Tomiichi
Tiền nhiệmKōno Yōhei
Kế nhiệmKubo Wataru
Bộ trưởng Tài chính
Quyền
Nhiệm kỳ
28 tháng 1 năm 1998 – 30 tháng 1 năm 1998
2 ngày
Thủ tướngHashimoto Ryūtarō
Tiền nhiệmHiroshi Mitsuzuka
Kế nhiệmHikaru Matsunaga
Nhiệm kỳ
10 tháng 8 năm 1989 – 14 tháng 10 năm 1991
2 năm, 65 ngày
Thủ tướngToshiki Kaifu
Tiền nhiệmTatsuo Murayama
Kế nhiệmToshiki Kaifu (Quyền)
Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp
Nhiệm kỳ
30 tháng 6 năm 1994 – 11 tháng 1 năm 1996
1 năm, 195 ngày
Thủ tướngTomiichi Murayama
Tiền nhiệmEijiro Hata
Kế nhiệmShunpei Tsukahara
Bộ trưởng Đất đai, Cơ sở hạ tằng và Vận tải
Nhiệm kỳ
22 tháng 7 năm 1986 – 6 tháng 11 năm 1987
1 năm, 107 ngày
Thủ tướngNakasone Yasuhiro
Tiền nhiệmHiroshi Mitsuzuka
Kế nhiệmShintaro Ishihara
Bộ trưởng Y tế, Lao động và Phúc lợi
Nhiệm kỳ
7 tháng 12 năm 1978 – 9 tháng 11 năm 1979
337 ngày
Thủ tướngŌhira Masayoshi
Tiền nhiệmTatsuo Ozawa
Kế nhiệmKyoichi Noro
Thành viên Chúng Nghị viện
Nhiệm kỳ
21 tháng 11 năm 1963 – 11 tháng 9 năm 2005
Thông tin cá nhân
Sinh29 tháng 7 năm 1937
Shibuya, Tokyo, Đế quốc Nhật Bản
Mất1 tháng 7 năm 2006 (68 tuổi)
Shinjuku, Tokyo, Nhật Bản
Đảng chính trịĐảng Dân chủ Tự do
Con cáiHashimoto Gaku
Alma materĐại học Keio

Hashimoto Ryūtarō (橋本 龍太郎 (Kiều Bản Long Thái Lang)?) (29 tháng 7 năm 1937 - 1 tháng 7 năm 2006[1]) là một chính trị gia Nhật Bản, người từng giữ chức Thủ tướng Nhật Bản thứ 82 và 83 từ 11 tháng 1 năm 1996 tới 30 tháng 7 năm 1998. Ông là người lãnh đạo của một trong những phe cánh lớn nhất điều hành đảng LDP trong phần lớn thập niên 1990 và sau đó vẫn là một nhân vật quyền lực của chính trường nước Nhật cho tới khi một vụ bê bối đã buộc ông phải rời bỏ vị trí lãnh đạo năm 2004. Hashimoto không tham gia ứng cử trong cuộc bầu cử thủ tướng năm 2005, và từ bỏ sự nghiệp chính trị từ đó. Ông qua đời ngày 1 tháng 7 năm 2006 tại một bệnh viện ở Tōkyō.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Hashimoto (bên phải) và gia đình năm 1956

Hashimoto sinh ngày 29 tháng 7 năm 1937,[2]Sōja thuộc tỉnh Okayama. Cha của ông, Hashimoto Ryōgo, là thành viên nội các dưới thời Thủ tướng Kishi Nobusuke. Sau sự dẫn dắt của cha mình, Ryutaro nhận bằng khoa học chính trị tại Đại học Keio vào năm 1960 và được bầu vào Hạ viện Nhật Bản năm 1963. Trước đây, Ryōgo cũng từng là[3]

Trước khi vào trường tiểu học Denenchofu, ông có mẹ kế là Tadashi khi mới 7 tuổi.

Khi tham gia kỳ thi vào trường trung học cơ sở Azabu, số bài thi của Hashimoto là "1073", nhưng "1074" khác biệt nhất là của nhà văn George Abe. Nó trở thành một người bạn tốt, và cả hai học cùng lớp trong suốt năm thứ ba trung học cơ sở. Biệt danh của ông khi còn học ở trường trung học cơ sở Azabu là "con khỉ"

Từ khi vào cấp 3, ông không theo kịp việc học ở trường và luôn đứng cuối bảng nên ai cũng hiểu ông là cửa hậu vì ông là con của một chính trị gia.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hashimoto cùng với Murayama Tomiichi và các bộ trưởng trong nội các Murayama (tại Tổng lý đại thần quan để vào ngày 30 tháng 6 năm 1994)

Ông chuyển qua hàng ngũ của Đảng Dân chủ Tự do trong hai mươi năm tiếp theo, đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi dưới thời thủ tướng Ōhira Masayoshi vào năm 1978 và vào năm 1980 trở thành giám đốc tài chính và hành chính công của LDP. Ông lại trở thành bộ trưởng nội các vào năm 1986 dưới thời Nakasone Yasuhiro, và năm 1989 trở thành tổng thư ký của LDP, chức vụ cao thứ hai chỉ sau chủ tịch đảng (nếu LDP giành được chính phủ, thông thường Chủ tịch đảng cũng là thủ tướng.)

Hashimoto trở thành một nhân vật chủ chốt trong phe LDP mạnh mẽ do Tanaka Kakuei thành lập vào những năm 1970, sau đó rơi vào tay của Takeshita Noboru, người sau đó đã bị vấy bẩn bởi vụ bê bối Tuyển dụng năm 1988 Năm 1991, báo chí đã phát hiện ra rằng một trong những thư ký của Hashimoto đã tham gia vào một giao dịch tài chính bất hợp pháp. Hashimoto thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính từ Nội các Khai phủ thứ hai. Sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng, LDP đã mất quyền lực ngay lập tức vào năm 1993/94 trong HosokawaHata các nội các chống LDP do người đào tẩu LDP đàm phán Ozawa Ichirō. Hashimoto được đưa trở lại nội các khi LDP dưới quyền Kōno Yōhei trở lại nắm quyền vào năm 1994 bằng cách tham gia một liên minh cầm quyền với truyền thống Đảng Xã hội Nhật Bản (JSP), trao quyền thủ tướng cho đối tác cấp dưới, và trẻ vị thành niên Tân Đảng Sakigake (NPS). Hashimoto trở thành Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp trong Nội các Murayama của Murayama Tomiichi.[4] Với tư cách là giám đốc MITI, Hashimoto được biết đến tại các cuộc họp của APEC và tại các hội nghị cấp cao.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cựu Thủ tướng Hashimoto qua đời”. Dân trí.
  2. ^ Reed, Christopher (2 tháng 7 năm 2006). “Obituary: Ryutaro Hashimoto”. The Guardian. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017.
  3. ^ John C Fredriksen, ed. Biographical Dictionary of Modern World Leaders (2003) pp 196-198.
  4. ^ Kantei/Cabinet of Japan: Historical cabinets, Murayama Cabinet (81st) (tiếng Nhật)