Nakasone Yasuhiro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Yasuhiro Nakasone)
Nakasone Yasuhiro
中曽根 康弘
Yasuhiro Nakasone 19821127.jpg
Thủ tướng thứ 71, 72 và 73 của Nhật Bản
Nhiệm kỳ
27 tháng 11 năm 1982 – 6 tháng 11 năm 1987
4 năm, 344 ngày
Thiên hoàngChiêu Hoà
Tiền nhiệmSuzuki Zenkō
Kế nhiệmTakeshita Noboru
Thư ký Hành chính Nhật Bản thứ 45
Nhiệm kỳ
17 tháng 7 năm 1980 – 27 tháng 11 năm 1982
Thủ tướngSuzuki Zenkō
Tiền nhiệmUno Sōsuke
Kế nhiệmSaitō Kunikichi
Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại và Công nghệp Nhật Bản thứ 34 và 35
Nhiệm kỳ
7 tháng 7 năm 1972 – 9 tháng 12 năm 1974
Thủ tướngTanaka Kakuei
Tiền nhiệmTanaka Kakuei
Kế nhiệmKōmoto Toshio
Giám đốc Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản thứ 7 và 25
Nhiệm kỳ
7 tháng 7 năm 1972 – 12 tháng 12 năm 1972
Thủ tướngTanaka Kakuei
Tiền nhiệmKiuchi Shirō
Kế nhiệmMaeda Sumio
Nhiệm kỳ
18 tháng 6 năm 1959 – 19 tháng 7 năm 1960
Thủ tướngKishi Nobusuke
Tiền nhiệmTakasaki Tatsunosuke
Kế nhiệmAraki Masuo
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản thứ 25
Nhiệm kỳ
14 tháng 1 năm 1970 – 5 tháng 7 năm 1971
Thủ tướngSatō Eisaku
Tiền nhiệmArita Kiichi
Kế nhiệmMasuhara Eikichi
Bộ trưởng Giao thông Nhật Bản
Nhiệm kỳ
25 tháng 11 năm 1967 – 30 tháng 11 năm 1968
Thủ tướngSatō Eisaku
Tiền nhiệmOhashi Takeo
Kế nhiệmHarada Ken
Thành viên Chúng Nghị viện
Nhiệm kỳ
26 tháng 4 năm 1947 – 10 tháng 10 năm 2003
56 năm, 167 ngày
Khu bầu cửKhu vực 3 - Gunma (1947–1996)
Bắc Kanto (1996–2003)
Thông tin cá nhân
Sinh(1918-05-27)27 tháng 5 năm 1918
Takasaki, Đế quốc Nhật Bản
Mất29 tháng 11 năm 2019(2019-11-29) (101 tuổi)
Tokyo, Nhật Bản
Đảng chính trịĐảng Dân chủ Tự do
Phối ngẫu
Nakasone Tsutako
(cưới 1945⁠–⁠2012)
Con cáiNakasone Matsugorō
Nakasone Hirofumi
Alma materĐại học Tokyo
Tôn giáoThần đạo [1]
Chữ ký
Phục vụ trong quân đội
Thuộc Đế quốc Nhật Bản
Phục vụ Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ1941–1945
Cấp bậcThiếu tá
Tham chiếnThế chiến thứ hai

Nakasone Yasuhiro (中曽根 康弘 (Trung Tằng Căn Khang Hoằng)/ なかそね やすひろ? 27 tháng 5 năm 1918 – 29 tháng 11 năm 2019) là một chính trị gia Nhật Bản, người từng là Thủ tướng Nhật Bản nhiệm kỳ từ ngày 27 tháng 11 năm 1982 đến ngày 6 tháng 11 năm 1987. Ông là người duy nhất trong số các thủ tướng tại vị tròn 5 năm từ tháng 11 năm 1982 đến tháng 11 năm 1987, và là một trong những chính khách có ảnh hưởng lớn nhất trên chính đàn Nhật Bản. Ngoài ra ông còn là một trong hai thủ tướng Nhật Bản sống thọ hơn 100 tuổi tính tới nay.[2][3][4].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nakasone (giữa) năm 1919

Nakasone Yasuhiro sinh ngày 27 tháng 5 năm 1918 trong một nhà bán buôn gỗ "Kokuya", là một trong những nhà bán buôn hàng đầu ở vùng Kanto, tại thành phố Takasaki, tỉnh Gunma. Nakasone được nuôi dạy như con trai thứ hai trong một gia đình sáu người, bao gồm cha ông Matsugoro, mẹ ông Yuku, con trai cả Yoshitaro, con trai thứ ba Ryosuke và con trai thứ tư Shokichi. Gia đình Nakasone thuộc giai cấp samurai trong thời kỳ Edo, và có nguồn gốc trực tiếp từ gia tộc Minamoto thông qua Minamoto no Yoshimitsu nổi tiếng và qua con trai ông Minamoto no Yoshikiyo (m. 1149). Theo ghi chép của gia đình, Tsunayoshi (k. 1417), một chư hầu của gia tộc Takeda và là hậu duệ đời thứ mười của Yoshikiyo, lấy tên là Nakasone Juro và bị giết trong trận Sagamigawa.[5] Vào khoảng năm 1590, samurai Nakasone Sōemon Mitsunaga định cư tại thị trấn Satomimura (ja)tỉnh Kōzuke. Con cháu của ông trở thành những người buôn bán tơ lụa và hiệu cầm đồ. Cha của Nakasone, tên khai sinh là Nakasone Kanichi, định cư ở Takasaki vào năm 1912 và thành lập một doanh nghiệp gỗ và xưởng sản xuất gỗ thành công do sự bùng nổ xây dựng sau Thế chiến thứ nhất.[5]

Nakasone mô tả thời thơ ấu và tuổi trẻ của mình là một khoảng thời gian hạnh phúc, và bản thân là một "đứa trẻ trầm tính, dễ gần" với biệt danh "Yat-chan". Anh học tại một trường tiểu học địa phương ở Takasaki và là một học sinh nghèo cho đến năm lớp 4, sau đó anh đã xuất sắc và đứng đầu lớp. Ông vào trường trung học Shizuoka năm 1935, nơi ông học tốt môn lịch sử và văn học, đồng thời học nói thông thạo tiếng Pháp.[6] Ông đã tốt nghiệp trường trung học cơ sở Takasaki hệ cũ (hiện là trường trung học phổ thông Takasaki tỉnh Gunma). Vào mùa thu năm 1938, Nakasone nhập học Đại học Hoàng gia Tokyo. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ông là một hạ sĩ quan và quân hàm trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản.[2]

Thủ tướng Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982, Nakasone trở thành Thủ tướng. Cùng với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Abe Shintarō, Nakasone đã cải thiện quan hệ của Nhật Bản với Liên XôCộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nakasone được biết đến nhiều nhất với mối quan hệ thân thiết với Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, thường được gọi là tình bạn "Ron-Yasu". Nakasone tìm kiếm một mối quan hệ bình đẳng hơn với Hoa Kỳ, và nói: "Tổng thống Reagan là người ném bóng và tôi là người bắt bóng. Khi người ném bóng đưa ra các dấu hiệu, tôi sẽ hợp tác một cách không mệt mỏi, nhưng nếu đôi khi anh ta không làm theo. những dấu hiệu của người bắt, trò chơi không thể phân thắng bại”.[7] Nakasone cho biết Nhật Bản sẽ là "hàng không mẫu hạm không thể chìm của Mỹ" ở Thái Bình Dương và Nhật Bản sẽ "kiểm soát hoàn toàn 4 eo biển đi qua các đảo của Nhật Bản, để ngăn chặn sự đi qua của tàu ngầm Liên Xô".[7] Ông bị các đối thủ chính trị coi là phản động và là "quân phiệt nguy hiểm". Nakasone đáp lại bằng cách nói: "Một quốc gia phải loại bỏ bất kỳ cảm giác xấu xa nào và tiến lên phía trước để tìm kiếm vinh quang". Tuy nhiên, nỗ lực của ông để sửa đổi Điều 9 đã thất bại.[7]

Năm 1984, Nakasone đến thăm Trung Quốc nhân kỷ niệm 12 năm ngày Nhật Bản công nhận nước Cộng hòa Nhân dân về mặt ngoại giao, chính phủ Trung Quốc đã sắp xếp các chuyến tham quan Trung Quốc cho 3.000 thanh niên Nhật Bản. Trong chuyến đi, con trai của Nakasone được đi cùng với con gái của Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ. Sau sự kiện này, Hồ đã bị các thành viên khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ trích vì sự xa hoa và nồng nhiệt của sự kiện này.[8] Nakasone cũng đã đến thăm Tổng thống Corazon Aquino trong một loạt các cuộc hội đàm giữa Philippines và Nhật Bản trong chuyến thăm cấp nhà nước đặc biệt từ năm 1986 đến năm 1987, nhằm tạo ra các mối quan hệ kinh tế và thương mại tốt đẹp.[9][10]

Nghỉ hưu[sửa | sửa mã nguồn]

Nakasone được kế nhiệm bởi Takeshita Noboru vào năm 1987, và cùng với các nhà lập pháp LDP khác, bị liên lụy trong vụ bê bối tuyển dụng xảy ra vào năm sau.[11][12]

Ông vẫn muốn tham chính mặc dù đã ngoại bát tuần. Nếu không vì quy định mới do Thủ tướng Koizumi Junichirō đưa ra (cấm tranh cử đối với người từ 73 tuổi trở lên) thì mặc dù đã 81 tuổi, nhưng Nakasone vẫn quyết định ra tranh cử vào Thượng viện hồi tháng 11 năm 2003. Ngoài ra, ông Nakasone còn thường xuyên xuất hiện trên truyền hình, tuyên truyền chủ trương chính sách của cá nhân. Ông đã được trao tặng danh hiệu Công dân danh dự của tỉnh Gunma.

Qua đời và quốc tang[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ Quốc tang của Nakasone năm 2020

Nakasone qua đời tại Tokyo vào ngày 29 tháng 11 năm 2019, ở tuổi 101 năm 186 ngày. Ông là Thủ tướng có tuổi thọ cao thứ hai trong lịch sử chỉ sau Hoàng thân Higashikuni Naruhiko, người sống đến 102 tuổi 48 ngày.[13] Cùng ngày, ông được Chính phủ Nhật Bản truy tặng vòng cổ Huân chương Hoa cúc, Huân chương cao quý nhất của Nhật Bản. Ông là Thủ tướng thứ 3 được trao tặng Huân chương Hoa cúc theo Hiến pháp thời hậu chiến, sau các cựu Thủ tướng Yoshida Shigeru, Satō Eisaku. Lễ quốc tang của ông dự kiến được tổ chức vào ngày 15 tháng 3 năm 2020 với Thủ tướng Abe Shinzō làm trưởng ban do ảnh hưởng của Đại dịch COVID-19 được dời lại sang ngày 17 tháng 10 năm 2020 với Thủ tướng Suga Yoshihide làm trưởng ban.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1945, Nakasone kết hôn với Nakasone Tsutako (30 tháng 10 năm 1921 – 7 tháng 11 năm 2012).[14][15][16][17]. Con trai của Nakasone, Nakasone Hirofumi, cũng là một thành viên của Quốc hội Nhật Bản; ông đã từng là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. [18]

Nhìn bức ảnh của Nakasone khi còn trẻ, sống mũi rất cao, khuôn mặt được cho là đẹp trai ngay cả thời hiện đại và cao tới 178 cm. Ông khá cao trong số các thủ tướng dày dặn kinh nghiệm, và chỉ đứng sau Ōkuma Shigenobu với chiều cao là 180 cm. Ông là một anh chàng đẹp trai không chỉ về ngoại hình mà còn cả về dung mạo.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 上之郷, 利昭 (1994). 教祖誕生. 講談社文庫.
  2. ^ a b "Japan’s Elder Statesman Is Silent No Longer" by Martin Fackler, The New York Times, ngày 29 tháng 1 năm 2010 (ngày 30 tháng 1 năm 2010 p. A11).
  3. ^ Nakasone's World-Class Blunder Lưu trữ 2007-03-10 tại Wayback Machine by Ezra Bowen, Time magazine, ngày 24 tháng 6 năm 2001.
  4. ^ Lee, Khoon Choy. Pioneers of Modern China: Understanding the Inscrutable Chinese. Singapore: World Scientific Publishing. 2005. p. 311. ISBN 981-256-464-0.
  5. ^ a b The Making of the New Japan. Curzon Press. 2015. tr. 1–2. ISBN 978-0-7007-1246-5.
  6. ^ The Making of the New Japan. Curzon Press. 6 tháng 3 năm 2015. tr. 6–13. ISBN 978-0-7007-1246-5.
  7. ^ a b c Harvey, p. 365.
  8. ^ Lee, Khoon Choy (2005). Pioneers of Modern China: Understanding the Inscrutable Chinese. Singapore: World Scientific Publishing. tr. 311. ISBN 981-256-464-0.
  9. ^ Burgess, John (11 tháng 11 năm 1986). “Japan Promises Aquino Aid”. The Washington Post. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019.
  10. ^ Burgess, John (14 tháng 11 năm 1986). “Aquino Ends Visit to Japan”. The Washington Post. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019.
  11. ^ “Ex-Executive Is Sentenced in Japan's Recruit Scandal”. Los Angeles Times. 10 tháng 10 năm 1990.
  12. ^ Sanger, David E. (10 tháng 10 năm 1990). “Big Conviction in Recruit Scandal”. The New York Times.
  13. ^ “中曽根康弘元首相|葬儀費約1億円の国葬と群馬出身政治家の功績”. we-love.gunma.jp. 14 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2022.
  14. ^ IPS Chiyoda-ku; Leslie Connors; Yasuhiro Nakasone (6 tháng 12 năm 2012). The Making of the New Japan: Reclaiming the Political Mainstream. ISBN 9781136116506. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  15. ^ 中曽根弘文 公式ブログ/中曽根蔦子との別れ - GREE. Gree.jp. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  16. ^ 誕生日データベース. Tisen.jp. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  17. ^ 朝日新聞デジタル:中曽根蔦子さん死去 康弘元首相の妻 - おくやみ・訃報. Asahi.com. 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  18. ^ “Nakasone Hirofumi” 中曽根 弘文. jimin.jp. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019.