Campuchia Hậu Angkor
|
Vương quốc Campuchia
|
|||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Tên bản ngữ
| |||||||||
| 1431–1863 | |||||||||
Campuchia và các nước láng giềng, năm 1540 | |||||||||
| Thủ đô |
| ||||||||
| Ngôn ngữ thông dụng |
| ||||||||
| Tôn giáo | Phật giáo Theravada | ||||||||
| Tên dân cư | |||||||||
| Chính trị | |||||||||
| Chính phủ | Quân chủ chuyên chế | ||||||||
| Vua | |||||||||
• 1431–1463 (đầu tiên) | Ponhea Yat | ||||||||
• 1516–1566 | Ang Chan I | ||||||||
• 1566–1576 | Baraminreachea | ||||||||
• 1603–1618 | Srei Soriyopear | ||||||||
• 1618–1628 | Chey Chettha II | ||||||||
• 1848–1860 | Ang Duong | ||||||||
• 1860–1863 (cuối cùng) | Ang Voddey | ||||||||
| Lịch sử | |||||||||
| Thời kỳ | Thời kỳ cận đại | ||||||||
| 1431 | |||||||||
| 1591–1594 | |||||||||
| 1593–1597 | |||||||||
| 1594 | |||||||||
| thế kỷ 17 | |||||||||
• Thời kỳ Oudong | 1620 | ||||||||
| 1643–1644 | |||||||||
| 1795 | |||||||||
• Nhà Nguyễn cai trị | 1834–1847 | ||||||||
| 11 tháng 8 năm 1863 | |||||||||
| Dân số | |||||||||
• 1500 | 1,224,000 | ||||||||
• 1600 | 1,419,000 | ||||||||
• 1700 | 1,650,000 | ||||||||
• 1800 | 2,090,000 | ||||||||
| Kinh tế | |||||||||
| Đơn vị tiền tệ | Tical Campuchia | ||||||||
| |||||||||
| Hiện nay là một phần của | |||||||||
| Lịch sử Campuchia |
|---|
| Phù Nam (thế kỷ 1–550) |
| Chân Lạp (550–802) |
| Đế quốc Khmer (802–1432) |
| Thời kỳ hậu Angkor (1432–1863) |
| Campuchia thuộc Pháp (1863–1946) |
| Campuchia thuộc Nhật (1945) |
| Vương quốc Campuchia (1946–1953) |
| Vương quốc Campuchia (1953–1970) |
| Cộng hòa Khmer (1970–1975) |
| Campuchia Dân chủ (1975–1979) |
| Cộng hòa Nhân dân Campuchia (1979–1989) |
| Liên minh chính phủ Kampuchea Dân chủ (1982–1992) |
| Nhà nước Campuchia (1989–1992) |
| Cơ quan chuyển tiếp Liên Hợp Quốc tại Campuchia (1992–1993) |
| Vương quốc Campuchia (1993–nay) |
Thời kỳ hậu Angkor (tiếng Khmer: ប្រទេសកម្ពុជាក្រោយសម័យអង្គរ; thời kỳ Trung kỳ)[1] của Campuchia kéo dài từ đầu thế kỷ 15 đến năm 1863, trước khi Pháp thiết lập chế độ bảo hộ. Do nguồn sử liệu thế kỷ 15 và 16 rất khan hiếm, giới khoa học vẫn chưa có sự đồng thuận duy nhất về nguyên nhân cụ thể khiến Đế quốc Khmer suy tàn.[2][3] Tuy nhiên, các nhà sử học hiện đại đều thống nhất rằng sự sụp đổ này là hệ quả[4] từ chuỗi thay đổi dần dần về tôn giáo, triều đại, hành chính, quân sự, cùng sự dịch chuyển quyền lực ở Đông Dương.[5][6][7] Đặc biệt, các nghiên cứu gần đây nhấn mạnh vào tác động của biến đổi môi trường và thiên tai như lũ lụt, hạn hán đối với sự suy vong của thời kỳ này.[8][9][10][11]
Các văn khắc trên đá, vốn là nguồn tư liệu lịch sử Khmer chính đã giảm dần trong thế kỷ 13, chấm dứt vào thập niên 1330 và chỉ xuất hiện lại vào giữa thế kỷ 16. Biên niên sử Hoàng gia cũng bị gián đoạn sau triều đại vua Jayavarman IX Parameshwara (1327–1336), khiến tên tuổi của các vị vua suốt hơn 200 năm sau đó hoàn toàn không có ghi chép đương thời. Đồng thời, việc xây dựng và bảo trì các đền thờ đồ sộ cũng đình trệ từ sau thời Jayavarman VII. Theo nhà sử học Michael Vickery, sử liệu về Campuchia thế kỷ 15 chỉ còn phụ thuộc vào các nguồn từ bên ngoài như Minh Sử Lục của Trung Quốc và Biên niên sử Hoàng gia Ayutthaya thời kỳ đầu,[12] vốn là những tài liệu cần được diễn giải hết sức thận trọng.[13]
Sự kiện chắc chắn phản ánh thực tế và là điểm cốt lõi của thế kỷ 15 là việc Xiêm can thiệp vào kinh đô Yasodharapura (Angkor Thom) khoảng năm 1431. Giới sử học xác định biến cố này đã khiến trung tâm chính trị của Campuchia dịch chuyển về phía nam, hướng tới vùng cảng sông Phnom Penh và sau đó là Longvek.[14][15]
Thế kỷ 16 ghi nhận nguồn tư liệu phong phú hơn về Campuchia từ bên ngoài. Lúc này, kinh đô Longvek nằm bên sông Mekong phát triển thịnh vượng nhờ tham gia vào mạng lưới thương mại hàng hải châu Á, [16][17] đồng thời đón nhận những cuộc tiếp xúc đầu tiên với các nhà thám hiểm châu Âu.[18] Tuy nhiên, sự cạnh tranh với vương quốc Ayutthaya ở phía tây đã dẫn đến xung đột, đỉnh điểm là việc Xiêm đánh chiếm Longvek vào năm 1594. Đến thế kỷ 17, sự bành trướng về phía nam của Việt Nam tới vùng Prei Nokor (Sài Gòn) thuộc đồng bằng sông Mekong đã khởi đầu quá trình Campuchia mất dần đường ra biển và quyền thương mại độc lập.[19]
Trong hai thế kỷ 17 và 18, sự bành trướng quyền lực của Xiêm và Việt Nam đã đẩy vương triều Khmer vào thân phận chư hầu. Triều đình Campuchia liên tục suy yếu, buộc phải thay phiên thần phục và cống nạp cho cả hai cường quốc này.[20] Đến giữa thế kỷ 19, Campuchia rơi vào cảnh mất hoàn toàn chủ quyền khi đặt dưới sự bảo hộ chung của Xiêm và Việt Nam. Đặc vụ Anh John Crawfurd tuyên bố: "...Vua của Vương quốc cổ đại đó sẵn sàng đặt mình dưới sự bảo hộ của bất kỳ quốc gia châu Âu nào..."[cần dẫn nguồn] Nhằm cứu đất nước khỏi nguy cơ sáp nhập, Vua Ang Duong đã tìm kiếm sự can thiệp từ phương Tây. Để tự cứu mình, triều đình Campuchia chấp nhận đề nghị bảo hộ của thực dân Pháp, được cụ thể hóa bằng bản hiệp ước do Vua Norodom ký kết vào ngày 11 tháng 8 năm 1863.[21]
Bối cảnh lịch sử và nguyên nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Từ thế kỷ 8 và 9, Đế quốc Khmer từng bước xác lập quyền bá chủ tại lục địa Đông Nam Á. So với Triều Pagan ở phía tây, các cuộc xung đột giữa Khmer và Champa ở phía đông diễn ra căng thẳng và kéo dài hơn nhiều. Trong nhiều thế kỷ, hai vương quốc này liên tục kiềm chế lẫn nhau. Một trong những mục tiêu quân sự lớn của Khmer là "...trong triều đại của các vị vua Angkor Suryavarman II và Jayavarman VII." chinh phục các cảng Cham, "...quan trọng trong thương mại quốc tế thời bấy giờ".[22] Dù từng tổn thất nặng nề khi bị Champa chiếm đóng Angkor vào năm 1177, Khmer đã nhanh chóng phục hồi và phản công thành công, điển hình là cuộc xâm lược thành bang Vijaya của Cham vào năm 1181.[23][24]
Áp lực chính trị, văn hóa và cuộc xâm lược của Mông Cổ đã khiến người Thái di cư về phía nam, định cư tại lưu vực sông Chao Phraya vào thế kỷ 12.[25] Sự ra đời của vương quốc Sukhothai và Ayutthaya sau đó đã "...chinh phục người Khmer ở thượng và trung lưu thung lũng sông Menam [sông Chao Phraya] và mở rộng đáng kể lãnh thổ của họ..."[26]
Thất bại quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Dù một số nguồn như Biên niên sử Hoàng gia Campuchia và Ayutthaya[27] có ghi chép về các cuộc viễn chinh, đột kích quân sự kèm ngày tháng, tên các vua và lãnh chúa, các học giả ảnh hưởng như David Chandler và Michael Vickery vẫn nghi ngờ độ chính xác của chúng.[28][29][30] Ngược lại, nhiều tác giả khác lại chỉ trích "đánh giá tổng thể" cứng nhắc này.[31]
David Chandler nêu trong Bách khoa toàn thư toàn cầu về viết sử, Tập 2: "Michael Vickery đã lập luận rằng các biên niên sử Campuchia, bao gồm cả biên niên sử này, đề cập đến các sự kiện trước năm 1550 không thể được xác minh và thường được sao chép từ các biên niên sử Thái Lan về Thái Lan..."[28][32] Đồng thời, Jean-Michel Filippi kết luận: "Niên đại của lịch sử Campuchia tự nó là một hệ tư tưởng niên đại với vai trò then chốt được dành cho Angkor."[33] Điều này cũng đúng với các niên đại của Thái Lan, điển hình là tranh cãi về Ramkhamhaeng.[34][35]
Theo biên niên sử hoàng gia Xiêm của Paramanuchitchinorot, các cuộc đụng độ đã xảy ra vào năm 1350, khoảng năm 1380, 1418 và 1431.[36][37]
"Vào năm 1350/51; có lẽ là tháng 4 năm 1350, vua Ramadhipati đã cho con trai mình là Ramesvara tấn công kinh đô của vua Kambuja (Angkor) và phái Paramaraja (Pha-ngua) của Suphanburi tiến lên hỗ trợ. Kinh đô của Kambuja bị chiếm và nhiều gia đình bị di dời đến kinh đô Ayudhya."
Vào thời điểm đó, [khoảng năm 1380] người cai trị Kambuja đã đến tấn công Chonburi, để bắt các gia đình từ các tỉnh phía đông đến Chanthaburi, tổng cộng khoảng sáu hoặc bảy nghìn người đã trở về [cùng với quân đội Campuchia] đến Kambuja. Vì vậy, nhà vua đã tấn công Kambuja và, sau khi chiếm được nó, đã trở về kinh đô.
Sau đó [1418] ông ta đi tấn công Angkor, kinh đô của Kambuja, và chiếm được nó."
Tranh cãi về đất đai hay con người
[sửa | sửa mã nguồn]Sử liệu Xiêm ghi nhận việc bắt giữ hàng loạt cư dân từ thủ đô và các trung tâm văn minh của bại binh Chiang Mai và Angkor, điều này đã đẩy nhanh sự suy tàn văn hóa của các vùng đất này.[37][38]

Tác giả Michael Vickery tranh luận về mức độ quan trọng của chủ đề này trong ấn phẩm "Hai ghi chép lịch sử về Vương quốc Vientiane - Đất đai hay con người?": "Không hề chắc chắn rằng Angkor mong muốn nguồn nhân lực ở miền trung Thái Lan, mà chỉ đơn giản là kiểm soát các nguồn tài nguyên nông nghiệp phong phú." và "...liệu nền kinh tế chính trị của Đông Nam Á thời kỳ đầu có dẫn đến việc các nhà cai trị quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm soát đất đai hay kiểm soát con người..." và "...cả hai phía của cuộc thảo luận này đều đưa ra những tuyên bố tùy tiện, từng trường hợp cụ thể, sau đó được lặp đi lặp lại như một câu thần chú... Một cuộc thảo luận nghiêm túc về vấn đề này đã quá muộn rồi..."[cần dẫn nguồn]
Quan điểm trái chiều
[sửa | sửa mã nguồn]Tác giả Akin Rabibhadana, trích dẫn Ram Khamhaeng: "Một đặc điểm nổi bật của các quốc gia Đông Nam Á lục địa trong lịch sử là sự thiếu hụt nhân lực. Nhu cầu về nhân lực được minh họa rõ nét qua các sự kiện sau mỗi cuộc chiến giữa Thái Lan và các nước láng giềng. Bên thắng cuộc luôn mang theo một lượng lớn người dân từ vùng lãnh thổ bị chinh phục. Toàn bộ làng mạc thường bị di dời đến lãnh thổ của kẻ chinh phục, nơi họ bị đồng hóa và trở thành dân cư của kẻ chinh phục."[cần dẫn nguồn]
David K. Wyatt: "Trên hết, Tai müang là một công cụ để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong một khu vực có đất đai dồi dào so với nguồn lao động và công nghệ nông nghiệp."[cần dẫn nguồn]
Baker và Phongpaichit lập luận rằng, "Chiến tranh trong khu vực [Đông Nam Á] là... một nỗ lực nhằm giành lấy của cải, con người và các nguồn lực đô thị khan hiếm."[39]
Bronson tuyên bố, "Không có nông dân nào ở bất kỳ khu vực nào bên ngoài Nam và Đông Á có thể sản xuất nhiều lương thực với ít lao động như vậy từ cùng một diện tích đất."[40]
Và Aung-Thwin đã viết: "Phần lớn các cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á thời kỳ đầu chứng kiến bên thắng cuộc mang đi một nửa dân số của kẻ thù bại trận và sau đó tái định cư họ trên đất của mình. Pagan nằm ở vùng khô hạn của Miến Điện và chủ yếu dựa vào nông nghiệp tưới tiêu để làm nền tảng kinh tế. Đất đai dồi dào nhưng lao động cực kỳ khó kiếm."[41]
Các yếu tố triều đại và tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Quá trình chuyển đổi từ vương quốc Khmer sơ khai sang triều đại Mahidharapura (vua đầu tiên Jayavarman VI, 1080 đến 1107) bắt nguồn từ phía tây dãy núi Dângrêk tại Phimai, thung lũng sông Mun và kéo dài vài thập kỷ.[42] Một số nhà sử học nhận định các vua đầu triều đại này chưa kiểm soát tuyệt đối trung ương và hạn chế tiếp cận nguồn lực địa phương. Do đó, triều đại này đã ngừng "chính sách nghi lễ" và truyền thống gia phả. Bước phát triển tiếp theo diễn ra khi Phật giáo Đại thừa được dung thứ, đánh dấu sự xuất hiện của các vị vua Phật giáo như Suryavarman I, Rajendravarman II và Jayavarman VII.[43]
Các nhà vua giai đoạn này không còn được xem là thần thánh và chính họ cũng không tự nhận như vậy. Điều này làm thay đổi nhận thức về vương quyền, suy giảm quyền lực trung ương và hạ thấp uy tín triều đại đối với các nước láng giềng. Hệ quả là thần dân dần chuyển sự trung thành từ một nhà nước Hindu giáo mạnh về quân sự với người lãnh đạo được tôn thờ "Varman" (vị vua bảo hộ), sang một lựa chọn thế tục hơn với những giáo lý tương phản từ các chùa Phật giáo. Khi vua Indravarman III (khoảng 1295-1308) chọn Phật giáo Theravada làm quốc giáo,[44] xã hội bắt đầu hướng nội hơn, tập trung vào trách nhiệm cá nhân trong việc tích lũy công đức để đạt đến niết bàn.[45]
Miriam T. Stark lập luận rằng sự cạnh tranh và ganh đua trong việc kế vị hoàng gia, những kẻ tiếm quyền và những người cai trị "hạng hai" đã đặc trưng cho vương quốc kể từ thế kỷ thứ 9. Các giai đoạn "...củng cố xen kẽ với sự phân mảnh chính trị [vì] chỉ một số ít người cai trị có thể giành được quyền kiểm soát từ cấp tỉnh".[46]
Sự phát triển của các đế quốc Đông Nam Á khi mở rộng lãnh thổ hiện vẫn là chủ đề tranh luận. Các học giả đã đưa ra nhiều lý thuyết về mối quan hệ giữa vương quyền và thần dân, mức độ nhận diện cộng đồng, mô hình Mandala, cùng tác động từ việc thay đổi quốc giáo. Trong đó, nhà nghiên cứu Ben Kiernan nhấn mạnh rằng người dân thời kỳ này có xu hướng đồng nhất bản thân theo một tôn giáo chung hơn là khái niệm quốc gia hay dân tộc. Minh chứng cho điều này, Victor Lieberman trong Máu và Đất: Diệt chủng hiện đại 1500-2000: "[các tòa án địa phương]...không đưa ra yêu cầu chính thức nào rằng người cai trị phải cùng dân tộc với thần dân của họ"[47][48]
Các vấn đề môi trường và cơ sở hạ tầng xuống cấp
[sửa | sửa mã nguồn]Các nhà sử học cho rằng Angkor suy vong do mạng lưới thủy lợi tại Yasodharapura "...một hệ thống kỹ thuật thủy lực phức tạp, mang tính nghi lễ sâu sắc..."[49] bị mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng. Việc phá rừng diện rộng khiến hệ thống kênh đào bị quá tải và bồi lắng.[50] Trong khi đó, triều đình lại tập trung nguồn lực xây dựng, bảo trì đền tháp thay vì tu sửa đê điều. Điều này làm kiệt quệ ngân khố, tiêu tốn thuế dịch và rút đi hàng ngàn lao động, nô lệ khỏi các công trình công cộng.[51]
Tác giả Heng L. Thung đã đề cập đến lẽ thường trong "Địa thủy văn và sự suy tàn của Angkor" khi ông tóm tắt mọi việc như sau: "...mối bận tâm của người Khmer với nhu cầu tích trữ nước cho mùa khô kéo dài. Mỗi hộ gia đình cần một ao để cung cấp nước uống và nước sinh hoạt cho cả người và gia súc. Các baray [hồ chứa] của Angkor chỉ đơn giản là biểu hiện của nhu cầu của dân cư thành thị. Nước là nguồn sống của Angkor; sự gián đoạn trong nguồn cung cấp nước sẽ gây ra hậu quả chết người."[52]
Các cuộc quét địa lý LiDAR (phát hiện và đo khoảng cách bằng ánh sáng) gần đây của Angkor đã tạo ra dữ liệu mới, gây ra một số "khoảnh khắc Eureka" và "đã thay đổi sâu sắc hiểu biết của chúng ta về đô thị hóa trong khu vực Angkor".[53] Kết quả của các nghiên cứu niên đại học cây cho thấy các thời kỳ hạn hán kéo dài giữa thế kỷ 14 và 15.[54] Kết quả là, các diễn giải lại gần đây về thời kỳ này nhấn mạnh hơn vào tương tác giữa con người và môi trường cũng như hậu quả sinh thái.[8]
Sự phát triển thương mại hàng hải quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Một số nhà sử học nhận định, triều đình Angkor dịch chuyển về hạ lưu sông Mekong do sự bùng nổ của thương mại hàng hải quốc tế. Nằm sâu trong đất liền với nền kinh tế thuần nông, Angkor dần mất đi vị thế trên thị trường toàn cầu so với các thương cảng và kinh đô sau này như Longvek, Oudong và Phnom Penh.[55][56][57]
Thời kỳ Chaktomuk
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi rời bỏ kinh đô Yasodharapura[58] và vùng Angkor, giới quý tộc Khmer đã dời đô về hướng đông nam tại vị trí của Phnom Penh ngày nay. Nằm ngay giao điểm của sông Mekong và sông Tonle Sap, kinh đô mới này nắm giữ vị trí chiến lược để kiểm soát toàn bộ tuyến thương mại đường sông từ vùng trung tâm Campuchia, Thượng Xiêm và các vương quốc Lào, đồng thời mở đường ra biển Đông để kết nối với mạng lưới thương mại quốc tế giữa Trung Quốc và Ấn Độ Dương. Thay vì khép kín như thời kỳ Angkor, vương quốc mới này hướng ngoại và lấy thương mại hàng hải làm nền tảng kinh tế. Đặc biệt, việc giao thương với nhà Minh (1368–1644) đã đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho giới tinh hoa Campuchia thông qua quyền độc quyền thương mại hoàng gia.[59]
Các nhà sử học đều đồng ý rằng khi kinh đô không còn tồn tại, các đền thờ ở Angkor vẫn giữ vai trò trung tâm đối với quốc gia như trước đây. David P. Chandler: "Bản khắc năm 1747 là bản khắc mở rộng cuối cùng tại Angkor Wat và cho thấy tầm quan trọng của ngôi đền trong đời sống tôn giáo của Campuchia chỉ chưa đầy một thế kỷ trước khi nó được người Pháp "khám phá"."[60]
Thời kỳ Longvek
[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Ang Chan I (1516–1566) đã dời kinh đô từ Phnom Penh về phía bắc đến Longvek bên bờ sông Tonle Sap. Thương mại là một yếu tố thiết yếu và "...mặc dù dường như đóng vai trò thứ yếu trong lĩnh vực thương mại châu Á vào thế kỷ 16, các cảng Campuchia thực sự đã phát triển mạnh." Các sản phẩm được giao dịch tại đây bao gồm đá quý, kim loại, lụa, bông, hương trầm, ngà voi, sơn mài, gia súc (bao gồm cả voi) và sừng tê giác.
Lần tiếp xúc đầu tiên với phương Tây
[sửa | sửa mã nguồn]Các sứ giả của đô đốc người Bồ Đào Nha Alfonso de Albuquerque, người chinh phục Malacca, đã đến Đông Dương vào năm 1511, đây là lần tiếp xúc chính thức được ghi nhận sớm nhất với các thủy thủ châu Âu. Vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, Longvek duy trì các cộng đồng thịnh vượng của các thương nhân người Trung Quốc, Indonesia, Mã Lai, Nhật Bản, Ả Rập, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan và Bồ Đào Nha.[61][62]
Các hoạt động truyền giáo Kitô giáo bắt đầu vào năm 1555 với tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar da Cruz,[63] người đầu tiên đặt chân đến Vương quốc Campuchia, người "...không thể truyền bá lời Chúa và ông ấy bị ốm nặng." Những nỗ lực tiếp theo không mang lại bất kỳ kết quả nào có thể chứng minh sự tồn tại của một giáo đoàn.[64][65][66]
Sự trỗi dậy và sụp đổ của quân đội
[sửa | sửa mã nguồn]
Campuchia là một đối thủ đáng gờm của Vương quốc Ayutthaya vào thế kỷ 16.[67] Sau khi Miến Điện chinh phục Ayutthaya vào năm 1569, Campuchia đã tiến hành nhiều cuộc viễn chinh quân sự vào Xiêm suy yếu từ những năm 1560 đến những năm 1580.[68] Năm 1570, quân Campuchia bao vây Ayutthaya, nhưng bị đẩy lùi bởi sự kháng cự quyết liệt và lũ lụt mùa mưa.[69] Năm 1581, Campuchia cướp phá thành phố Phetchaburi của Xiêm và đuổi hết cư dân ra khỏi thành phố.[68]
Trong khi đó, vào năm 1572 và 1573-75, vua Lan Xang đã phái hai cuộc xâm lược nhằm chinh phục Longvek. Cả hai cuộc xâm lược đều kết thúc trong thất bại hoàn toàn và vua Lan Xang được cho là đã chết trong cuộc xung đột.[70]
Để trả thù cho nhiều cuộc tấn công của Longvek vào Ayutthaya, vào năm 1587, Campuchia đã bị Thái tử Naresuan của Xiêm tấn công, nhưng ông ta đã thất bại trong việc bao vây thành phố Longvek.[71] Năm 1594, Longvek đã bị quân Xiêm chiếm đóng và cướp phá thành công, các thành viên hoàng gia Campuchia bị bắt làm con tin và chuyển đến triều đình Ayutthaya.[72]
Hoàn cảnh ban đầu khá thuận lợi của một số thành viên hoàng tộc Longvek, khi họ tìm được nơi trú ẩn tại triều đình Lào ở Vientiane, đã kết thúc một cách bi thảm. Những người tị nạn không bao giờ quay lại để đòi quyền lợi của mình. Con trai của họ, sinh ra và lớn lên ở Lan Xang, bị xa lánh và mặc dù bị thao túng "vừa phải", đã tham gia vào chính trị triều đình địa phương với những người Campuchia lưu vong ở Ayutthaya và đã giết vị vua chư hầu Ram I, người có xuất thân thấp hơn, với sự giúp đỡ của các thủy thủ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.[73]
Ngay sau khi họ bị giết và đánh bại trong Chiến tranh Campuchia-Tây Ban Nha, với sự can thiệp của người nước ngoài - người Mã Lai và người Chăm. Mô hình sỉ nhục hoàng gia này đáng chú ý vì tính liên tục của nó trong suốt thế kỷ 17, 18 và 19, triều đình Việt Nam ở Huế cũng tham gia như một sân khấu khác của vở kịch hoàng gia.[73] Những cuộc tranh chấp của các ứng cử viên hoàng gia thường ngăn cản bất kỳ cơ hội nào để khôi phục một vị Vua có thẩm quyền cạnh tranh hiệu quả trong nhiều thập kỷ.[74][75]
Thời kỳ Srey Santhor
[sửa | sửa mã nguồn]Vua Preah Ram I và Preah Ram II đã di dời kinh đô nhiều lần và thiết lập kinh đô hoàng gia của họ tại Tuol Basan (Srey Santhor) cách Phnom Penh khoảng 40 km về phía đông bắc, sau đó là Pursat, Lavear Em và cuối cùng là Oudong.[76] Năm 1596, những người chinh phục Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từ Manila đã tấn công và san bằng Srei Santhor.[77]
Thời kỳ Lvea Aem
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1618, Vua Chey Chettha II ngừng gửi cống nạp cho Ayutthaya và tái khẳng định nền độc lập của Campuchia. Cuộc viễn chinh của Xiêm vào năm 1621-22 nhằm tái chiếm Campuchia đã thất bại thảm hại.[78]
Thời kỳ Oudong
[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ 17 và 18, Xiêm và Việt Nam ngày càng tranh giành quyền kiểm soát lưu vực sông Mekong màu mỡ, làm gia tăng áp lực lên Campuchia đang bất ổn.[79][80][81] Thế kỷ 17 cũng là khởi đầu của mối quan hệ trực tiếp giữa Campuchia hậu Angkor và Việt Nam, đó là cuộc chiến giữa các chúa Nguyễn cai trị miền Trung và Nam Bộ và các chúa Trịnh ở miền Bắc.[82]
Henri Mouhot: "Du hành đến vùng trung tâm Đông Dương" 1864
"Udong, kinh đô hiện tại của Campuchia, nằm ở phía đông bắc Komput, cách nhánh sông Mekong tạo thành hồ lớn khoảng bốn dặm rưỡi... Tôi liên tục bắt gặp các quan lại, hoặc được khiêng trên kiệu hoặc đi bộ, theo sau là một đám nô lệ mang theo nhiều vật dụng khác nhau; một số mang ô màu vàng hoặc đỏ tươi, lớn nhỏ tùy theo địa vị; số khác mang hộp trầu. Tôi cũng gặp những người cưỡi ngựa, trên những con vật nhỏ xinh xắn, nhanh nhẹn, được trang hoàng lộng lẫy và đeo đầy chuông, thong thả đi bộ, trong khi một toán tùy tùng, phủ đầy bụi và nóng nực, chạy theo sau. Những chiếc xe nhẹ, do một vài con bò nhỏ kéo, chạy nhanh và ồn ào, có thể được nhìn thấy đây đó. Thỉnh thoảng, một con voi lớn oai vệ đi ngang qua. Ở phía này có rất nhiều đám rước đến chùa, diễu hành theo tiếng nhạc; ở đó, lại có một nhóm giáo sĩ xếp hàng một, xin ăn, khoác áo choàng vàng và mang theo các vật dụng thánh trên lưng. lưng của họ....Toàn bộ dân số có khoảng 12.000 người."[83]
Tuy nhiên, Campuchia vẫn giữ vai trò kinh tế quan trọng trong giai đoạn đầu của thời kỳ Oudong. Vào thế kỷ 17, người Nhật coi Campuchia là một cường quốc hàng hải quan trọng hơn Xiêm.[84]
Mất Đồng bằng sông Mekong
[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thế kỷ 15, người Việt Nam-thuộc ngữ hệ Nam Á và là chủ nhân của nền văn minh bản địa sông Hồng-đã chinh phục một số lãnh thổ của các tiểu quốc Champa.[85] Một số người Chăm còn sống sót bắt đầu cuộc di cư của họ vào năm 1471, nhiều người tái định cư ở lãnh thổ Khmer.[86][87] Tuy nhiên, Biên niên sử Campuchia không đề cập đến sự xuất hiện của người Chăm ở Campuchia cho đến thế kỷ 17.[88] Tiểu quốc Champa còn lại cuối cùng, Panduranga, tồn tại cho đến năm 1832.[89]
Quan điểm truyền thống
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1620, trong quá trình mở rộng bờ cõi về phía Nam, chính quyền chúa Nguyễn (Đàng Trong) đã tiếp cận vùng Đồng bằng sông Mekong thuộc vương quốc Chân Lạp. Mối quan hệ hai nước được thắt chặt khi vua Chân Lạp Chey Chettha II kết hôn với Công nữ Ngọc Vạn (con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên). Đến năm 1623, vua Chân Lạp cho phép chúa Nguyễn lập trạm thu thuế tại Prey Nokor (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Bằng chính sách di dân lập ấp linh hoạt, đến cuối thế kỷ 17, chúa Nguyễn đã xác lập quyền kiểm soát hành chính hoàn toàn tại khu vực này, khiến đường tiếp cận thương mại biển quốc tế của Chân Lạp bị hạn chế và chịu sự quản lý, thuế khóa của Đàng Trong.[90]
Quan điểm trái ngược
[sửa | sửa mã nguồn]Câu chuyện về một vị vua Campuchia đem lòng yêu một công chúa Việt Nam, người đã yêu cầu và nhận được Kampuchea Krom, tức Đồng bằng sông Mekong cho Việt Nam, là một câu chuyện dân gian, bị các học giả bác bỏ và thậm chí không được đề cập trong Biên niên sử Hoàng gia.[91][92]
Trong quá trình diễn giải lại các ghi chép hoàng gia và nội dung khá đáng ngờ của chúng, Michael Vickery lại đưa ra giả thuyết rằng các ấn phẩm trong tương lai cần phải tính đến những sự thật mâu thuẫn này: "Trước hết, chính khái niệm về một cuộc "Đẩy về phía Nam" (nam tiến) ổn định của Việt Nam cần được xem xét lại. Nó không ổn định, và các giai đoạn của nó cho thấy không có chính sách bành trướng về phía nam liên tục. Mỗi bước đi đều mang tính ngẫu nhiên, nhằm đáp ứng những thách thức cụ thể..."[93]
Vickery còn lập luận rằng Campuchia chưa bao giờ bị "cắt đứt khỏi đường tiếp cận hàng hải với thế giới bên ngoài" vào thế kỷ 17, như David Chandler đã lập luận.[94]
Giữa thế kỷ 17 – thế kỷ 19
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1642, hoàng tử Campuchia Ponhea Chan lên ngôi vua sau khi lật đổ và ám sát vua Outey. Các thương nhân Hồi giáo người Mã Lai ở Campuchia đã giúp ông chiếm đoạt quyền lực, và sau đó ông cải đạo từ Phật giáo sang Hồi giáo, đổi tên thành Ibrahim, kết hôn với một phụ nữ Mã Lai và trị vì với hiệu Ramathipadi I. Triều đại của ông đánh dấu đỉnh cao lịch sử của sự cai trị của người Hồi giáo ở lục địa Đông Nam Á.

Ramathipadi đã đánh bại Công ty Đông Ấn Hà Lan trong các trận hải chiến của Chiến tranh Campuchia-Hà Lan trong năm 1643 và 1644.[95] Pierre de Rogemortes, đại sứ của Công ty, đã bị giết cùng với một phần ba trong số 432 người của ông và phải đến hai thế kỷ sau, người châu Âu mới đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng trong các vấn đề của Campuchia.[96] Vào những năm 1670, người Hà Lan đã rời bỏ tất cả các trạm giao dịch mà họ đã duy trì ở Campuchia sau vụ thảm sát năm 1643.[97] Cuộc can thiệp quân sự đầu tiên của Việt Nam diễn ra vào năm 1658-59, trong đó các hoàng tử Campuchia nổi dậy, anh em ruột của Ibrahim Ramathipadi, đã yêu cầu hỗ trợ quân sự để lật đổ người cai trị Hồi giáo và khôi phục Phật giáo.
Tháng 2 năm 1667, con trai của Trịnh Thành Công là Trịnh Kinh đã phái một tướng lĩnh người Hoa tên là Piauwja (tiếng Hà Lan gọi là Tiên Biao 先彪 hoặc Biaoye 彪爷) cùng hàng trăm binh lính đến Campuchia, phục vụ tại triều đình của vua Campuchia Paramaraja VIII. Piauwja được nhà vua phong làm Shahbandar (quan trấn thủ) của cộng đồng người Hoa ở Campuchia. Piauwja đã tàn sát 1.000 người Việt Nam, bao gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em, theo lệnh của nhà vua Campuchia, người muốn thoát khỏi ảnh hưởng của người Việt Nam. Piauwja cũng đòi người Hà Lan bồi thường cho việc tịch thu tàu thuyền của ông trong một cuộc phong tỏa hải quân. Pieter Ketting, đại diện của Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Campuchia, chỉ đề nghị trả 1.000 lượng bạc cho Piauwja, trong khi một cố vấn của nhà vua Campuchia nói rằng ông ta nên trả 2.000 lượng bạc. Đáp lại, Piauwja đòi Ketting trả 6.000 lượng bạc, để bồi thường cho khoản nợ mà một thương gia người Hoa khác làm việc cho người Hà Lan ở Batavia nợ ông ta. Ketting từ chối và cố gắng hối lộ các quan chức Campuchia để được giúp đỡ, nhưng Piauwja đã buộc Ketting phải trả 4.837 lượng bạc bằng cách bắt giữ các con tin người Hà Lan. Tàu Schelvis, một tàu khác của Hà Lan, đã đến bờ biển thủ đô Campuchia ở cửa sông, nhưng mực nước thấp ở bờ sông khiến tầm bắn của các khẩu pháo Hà Lan trên tàu trở nên vô dụng. Người Campuchia cấm giao tranh giữa lực lượng của Trịnh Thành Công và người Hà Lan trên vùng biển Campuchia, vì vậy Piaujwa thay vào đó đã tấn công tiền đồn của Công ty Đông Ấn Hà Lan trên đất liền vào ngày 9-10 tháng 7, làm trọng thương một bác sĩ phẫu thuật người Hà Lan và giết chết Ketting ngay lập tức cùng với 3 người hầu. Jacob van Wijckersloot chỉ sống sót bằng cách trốn vào rừng và lẩn trốn nhiều ngày trước khi đến được tàu Schelvis và ghi chép lại những gì đã xảy ra. Vào ngày 28 tháng 10 năm 1667, nhà vua Campuchia đã gửi thư cho người Hà Lan ở Batavia xin lỗi về vụ việc, và tuyên bố sai sự thật rằng ông đã xử tử Piauwja, và bắt giữ ba nhân viên của công ty Hà Lan mà ông nói là đã giúp Piauwja chống lại đồng bào của họ. Ông đã gửi ba người Hà Lan bị bắt trở lại Batavia, nhưng Piauwja thực tế vẫn còn sống và vẫn đang làm việc cho Trịnh Thành Công vào những năm 1670, cướp phá nhà Thanh ở Quảng Đông.[98][99][100][101][102][103][104][105][106][107][108][109][110][111][112][113][114] Piauwja cũng đã cướp hết lụa và bạc trên tàu Schelvisch của Hà Lan trước khi rời đi.[115][116][117][118][119][120][121] Tên của ông cũng được người Hà Lan viết là Pioja.[122] Một tài liệu khác cho biết Piauwja đến Oudong với 3.000 quân Trung Quốc.[123][124][125][126][127][128][129][130]
Vào thế kỷ 18, Xiêm không thể liên minh cùng Campuchia đối trọng với sự mở rộng ảnh hưởng của Việt Nam do phải sa lầy vào cuộc chiến với Miến Điện, đỉnh điểm là kinh đô Ayutthaya bị hủy diệt năm 1767. Sau khi phục hồi, Xiêm nhanh chóng tái lập quyền bảo hộ lên Campuchia; họ đưa vị vua trẻ Ang Eng lên ngôi tại Oudong, đồng thời sáp nhập hai tỉnh Battambang và Siem Reap, biến các thủ lĩnh địa phương tại đây thành chư hầu trực thuộc triều đình Xiêm.[131][132]
Một cuộc đấu tranh mới giữa Xiêm và Việt Nam để giành quyền kiểm soát Campuchia và lưu vực sông Mekong vào đầu thế kỷ 19 đã dẫn đến sự thống trị của Việt Nam đối với một vị vua chư hầu của Campuchia. Justin Corfield viết trong "Đông Dương thuộc Pháp": "[1807] người Việt Nam mở rộng lãnh thổ của họ bằng cách thiết lập chế độ bảo hộ đối với Campuchia. Tuy nhiên, vua […] Ang Duong rất muốn Campuchia độc lập khỏi […] Thái Lan […] và Việt Nam […] và đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ người Anh ở Singapore. Khi điều đó thất bại, ông đã nhờ đến sự giúp đỡ của người Pháp."[133]
Những nỗ lực ép buộc người Campuchia chấp nhận phong tục tập quán của Việt Nam đã gây ra nhiều cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Việt Nam. Cuộc nổi dậy đáng chú ý nhất diễn ra từ năm 1840 đến năm 1841, lan rộng khắp nhiều vùng của đất nước.
Xiêm và Việt Nam có thái độ khác biệt cơ bản về mối quan hệ của họ với Campuchia. Người Xiêm có chung tôn giáo, thần thoại, văn học và văn hóa với người Khmer, đã tiếp thu nhiều tập tục tôn giáo và văn hóa.[134] Các vị vua Chakri của Thái Lan theo hệ thống Chakravatin về một người cai trị toàn năng lý tưởng, cai trị một cách có đạo đức và nhân từ đối với tất cả thần dân của mình. Người Việt Nam thực hiện sứ mệnh khai hóa văn minh, vì họ coi người Khmer là kém cỏi về văn hóa và coi vùng đất Khmer là địa điểm hợp pháp để người định cư từ Việt Nam đến thuộc địa hóa.[135]
Lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long trở thành tranh chấp lãnh thổ giữa Campuchia và Việt Nam. Campuchia dần mất quyền kiểm soát đồng bằng sông Cửu Long. Đến những năm 1860, thực dân Pháp đã chiếm đóng đồng bằng sông Cửu Long và thành lập Xứ thuộc địa Nam Kỳ.
Nhà Nguyễn cai trị
[sửa | sửa mã nguồn]
Khi nhà Nguyễn củng cố quyền lực ở phía Đông dưới thời Gia Long và Minh Mạng, Campuchia đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Việt Nam vào năm 1811. Sự kiện bắt đầu khi vua Ang Chan II (trị vì 1806–1835) cầu viện vua Gia Long giúp trấn áp hai người em nổi loạn là Ang Snguon và Ang Em. Sau khi hai em trai tháo chạy sang Xiêm, Ang Chan II chính thức đưa Campuchia trở thành nước bảo hộ của Việt Nam.[136][137]
Năm 1820, vua Minh Mạng kế vị vua cha Gia Long. Là một nhà trị vì cứng rắn và có xu hướng đóng cửa đất nước, năm 1832, ông bãi bỏ chức Tổng trấn Gia Định thành, gián tiếp dẫn đến cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi vào năm 1833. Nhân cơ hội này, quân Xiêm tiến công nhằm tranh giành ảnh hưởng tại Campuchia, buộc vua Ang Chan phải lánh sang Gia Định. Đến năm 1834, sau khi dập tắt cuộc nổi dậy ở phía Nam, quân nhà Nguyễn đẩy lùi quân Xiêm và đưa Ang Chan trở lại Phnom Penh. Khi Ang Chan qua đời, con gái ông là Ang Mey được đưa lên kế vị.[138] Ngay sau đó, nhà Nguyễn thành lập trấn Tây Thành, thiết lập bộ máy cai trị trực tiếp và thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa đối với người Campuchia trong suốt sáu năm tiếp theo, một quá trình mà nhà sử học David P. Chandler gọi là Việt Nam hóa Campuchia.[139]
Đầu năm 1841, vua Minh Mạng qua đời làm gián đoạn chính sách sáp nhập Campuchia của nhà Nguyễn.[140] Lợi dụng tình hình khó khăn tại Việt Nam, 35.000 quân Xiêm tiến vào Trấn Tây Thành và đẩy lùi các cuộc phản công của quân triều đình đến cuối năm 1845. Để vãn hồi hòa bình, hoàng đế kế nhiệm là Thiệu Trị đã ký hiệp ước với Xiêm vào tháng 6 năm 1847. Sự kiện này giúp vương quốc Campuchia dưới thời vua Ang Duong khôi phục lại nền độc lập sau 36 năm chịu ảnh hưởng và can thiệp quân sự từ cả Việt Nam và Xiêm.[141]
Hậu quả và kết luận
[sửa | sửa mã nguồn]
Chủ nghĩa thực dân châu Âu và sự cạnh tranh giữa Anh và Pháp
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 31 tháng 7 năm 1861, Đô đốc Léonard Charner tuyên bố đặt nền bảo hộ lên các vùng đất vừa chiếm được ở Nam Kỳ,[142] mở đầu kỷ nguyên thuộc địa Pháp tại Đông Nam Á. Sự can thiệp này giúp giới thực dân thúc đẩy lộ trình thiết lập mạng lưới thương mại qua sông Mekong nhằm tiếp cận thị trường miền Nam Trung Quốc.[143][144]
Tác giả người Hà Lan H.Th. Bussemaker đã lập luận rằng những cuộc khai phá và chiếm đóng thuộc địa của Pháp trong khu vực chỉ là phản ứng hoặc biện pháp đối phó với chiến lược địa chính trị và bá quyền kinh tế của Anh. "Đối với người Anh, rõ ràng là người Pháp đang cố gắng làm suy yếu chủ nghĩa bành trướng của Anh ở Ấn Độ và Trung Quốc bằng cách can thiệp vào Đông Dương. Lý do cho chủ nghĩa bành trướng điên cuồng này là hy vọng rằng sông Mekong sẽ có thể đi lại được đến biên giới Trung Quốc, từ đó mở ra thị trường Trung Quốc rộng lớn cho hàng hóa công nghiệp của Pháp."[145] Để cứu vãn bản sắc và sự toàn vẹn quốc gia của vương quốc, Vua Ang Duong đã khởi xướng các cuộc đàm phán bí mật trong một bức thư gửi Napoleon III nhằm tìm kiếm một số thỏa thuận bảo hộ với Pháp.
Vào tháng 6 năm 1884, thống đốc Pháp của Nam Kỳ, Charles Thomson, đã đến Phnom Penh, thủ đô của Norodom, và yêu cầu phê chuẩn một hiệp ước với Paris hứa hẹn những thay đổi sâu rộng như bãi bỏ chế độ nô lệ, thiết lập quyền sở hữu đất tư nhân và thành lập các quan chức Pháp tại các thành phố tỉnh. Nhà vua miễn cưỡng ký kết thỏa thuận. Hiệp ước Philaster năm 1874 đã xác nhận chủ quyền của Pháp đối với toàn bộ Nam Kỳ và vào ngày 16 tháng 11 năm 1887, Liên bang Đông Dương được thành lập.[146]
Tiếp tục tranh luận về lịch sử thời hậu Angkor
[sửa | sửa mã nguồn]
Khảo cổ học Campuchia được coi là vẫn còn non trẻ. Việc giới thiệu các phương pháp xác định niên đại địa chất mới như quét LIDAR và xác định niên đại bằng phương pháp phát quang đã tiết lộ các bộ dữ liệu và loại dữ liệu mới, và các nghiên cứu về khí hậu - và sự mất cân bằng môi trường đã trở nên nhiều hơn trong những năm gần đây. Việc phản ánh các kết quả rõ ràng cần thời gian, như trong một bài báo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ năm 2010, tác giả phàn nàn: "Các nhà sử học và khảo cổ học, với một vài ngoại lệ đáng chú ý, hiếm khi xem xét vai trò của môi trường và khí hậu trong lịch sử Angkor".[147]
Việc tranh luận rộng rãi vẫn còn xoay quanh sử học, chủ nghĩa văn hóa và các khía cạnh khác của nguồn tư liệu lịch sử do những mâu thuẫn rộng lớn cho thấy.[148] Có lẽ thách thức lớn nhất là đồng bộ hóa tất cả các nghiên cứu với kết luận của các nước láng giềng. Tồn tại những vấn đề tế nhị bắt nguồn từ thời kỳ lịch sử này (tranh chấp biên giới, di sản văn hóa), có liên quan đến chính trị và còn lâu mới được giải quyết. Những kết luận dứt khoát với tất cả các yếu tố đóng góp trong bối cảnh hợp lý rõ ràng là những sự kiện trong tương lai.[149]
Miriam T. Stark trong: "Từ Phù Nam đến Angkor Sự sụp đổ và tái sinh ở Campuchia cổ đại"[150]
"...việc giải thích tại sao những sự liên tục và gián đoạn cụ thể lại đặc trưng cho Campuchia cổ đại vẫn là điều không thể nếu không có sự hiểu biết sâu sắc hơn về các bằng chứng khảo cổ... Các nghiên cứu trong tương lai, kết hợp giữa nghiên cứu khảo cổ học có hệ thống và phân tích tài liệu mang tính phê phán, có thể và nên làm sáng tỏ các khía cạnh về khả năng phục hồi và sự thay đổi..."
Tài liệu tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Murder and Mayhem in Seventeenth Century Cambodia - The so-called middle period of Cambodian history, stretching from... - Reviews in History". School of Advanced Study at the University of London. ngày 28 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "What the collapse of ancient capitals can teach us about the cities of today by Srinath Perur". The Guardian. ngày 14 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Cambodia and Its Neighbors in the 15th Century, Michael Vickery". Michael Vickery’s Publications. ngày 1 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Scientists dig and fly over Angkor in search of answers to golden city's fall by Miranda Leitsinger". The San Diego Union-Tribune. ngày 13 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "What Caused the End of the Khmer Empire By K. Kris Hirst". about.com. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "THE DECLINE OF ANGKOR". Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The emergence and ultimate decline of the Khmer Empire was paralleled with development and subsequent change in religious ideology, together with infrastructure that supported agriculture" (PDF). Studies Of Asia. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- 1 2 "Laser scans flesh out the saga of Cambodias 1200 year old lost city". Khmer Geo. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 6 2015. Truy cập 11 tháng 6 2015.
- ↑ "Possible new explanation found for sudden demise of Khmer Empire". Phys org. ngày 3 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The emergence and ultimate decline of the Khmer Empire - ...the Empire experienced two lengthy droughts, during c.1340-1370 and also c.1400-1425..." (PDF). Studies of Asia. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Buckley, Brendan M.; Anchukaitis, Kevin J.; Penny, Daniel; Fletcher, Roland; Cook, Edward R.; Sano, Masaki; Nam, Le Canh; Wichienkeeo, Aroonrut; Minh, Ton That; Hong, Truong Mai (ngày 13 tháng 4 năm 2010). "Climate as a contributing factor in the demise of Angkor, Cambodia". Proceedings of the National Academy of Sciences. 107 (15). National Academy of Sciences: 6748–6752. Bibcode:2010PNAS..107.6748B. doi:10.1073/pnas.0910827107. PMC 2872380. PMID 20351244.
- ↑ "Mak Phœun: Histoire du Cambodge de la fin du XVIe au début du XVIIIe siècle" (PDF). Michael Vickery. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The Ming Shi-lu as a Source for the Study of Southeast Asian History". Southeast Asia in the Ming Shi-lu. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 6 2015. Truy cập 12 tháng 6 2015.
- ↑ "Kingdom of Cambodia - 1431-1863". GlobalSecurity. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Marlay, Ross; Neher, Clark D. (1999). Patriots and Tyrants: Ten Asian Leaders By Ross Marlay, Clark D. Nehe. Rowman & Littlefield. ISBN 9780847684427. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Giovanni Filippo de Marini, Delle Missioni... Chapter VII - Mission of the Kingdom of Cambodia by Cesare Polenghi - It is considered one of the most renowned for trading opportunities: there is abundance..." (PDF). The Siam Society. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Reid, Anthony (tháng 8 năm 2000). Charting the Shape of Early Modern Southeast Asia By Anthony Reid. Silkworm Books. ISBN 9781630414818. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Maritime Trade in Southeast Asia during the Early Colonial Period" (PDF). University of Oxford. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Church, Peter (ngày 3 tháng 2 năm 2012). MA Short History of South-East Asia edited by Peter Church. John Wiley & Sons. ISBN 9781118350447. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Ooi, Keat Gin (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East... Volume 1. Bloomsbury Academic. ISBN 9781576077702. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "London Company's Envoys Plot Siam" (PDF). Siamese Heritage. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Two Historical Records of the Kingdom of Vientiane - That was probably also the reason for the Cambodian conquests in Champa in the reigns of the Angkor kings Suryavarman II and Jayavarman VII" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Angkor Wat: equated with the quintessence of Cambodian culture for more than a century - The Cham fleet sailed up the Mekong River...The reaction was very quick..." The Phnom Penh Post. ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Bayon: New Perspectives Reconsidered Michael Vickery" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "A Short History of South East Asia Chapter 3. The Repercussions of the Mongol Conquest of China ...The result was a mass movement of Thai peoples southwards..." (PDF). Stanford University. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Briggs, Lawrence Palmer (1948). "Siamese Attacks On Angkor Before 1430". The Far Eastern Quarterly. 8 (1). Association for Asian Studies: 3–33. doi:10.2307/2049480. JSTOR 2049480. S2CID 165680758.
- ↑ "Siam Society Books - The Royal Chronicles of Ayutthaya - A Synoptic Translation by Richard D. Cushman". Siam Society. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- 1 2 Woolf, D. R. (ngày 3 tháng 6 năm 2014). A Global Encyclopedia of Historical Writing, Volume 2 - Tiounn Chronicle. Routledge. ISBN 9781134819980. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Cambodia's cultural heritage considerations in Area Studies by Aratoi Hisao". googleusercontent.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
- ↑ "Essay on Cambodian History from the middle of the 14 th to the beginning of the 16 th Centuries According to the Cambodian Royal Chronicles by NHIM Sotheavin - So far, the reconstruction of history from the middle of the 14 th to the beginning of the 16 th centuries is locked in a sort of unsolved state, since local sources prove inadequate and references from foreign sources are of little use" (PDF). Sophia Asia Center. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Bourdonneau, Eric (tháng 9 năm 2004). "Culturalism and historiography of ancient Cambodia: about prioritizing sources of Khmer history - Ranking Historical Sources and the Culturalist Approach in the Historiography of Ancient Cambodia by Eric Bourdonneau - 29 Also this material is sparse..." Moussons. Recherche en Sciences Humaines Sur l'Asie du Sud-Est (7). Presses Universitaires de Provence: 39–70. doi:10.4000/moussons.2469. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "The historical Records of Ayudhya...Blamed on the invasion of Pagan in 1767, all Ayudhya's past records were assumed perished during its fall to the Burmese attack". Khmer heritage. ngày 31 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Angkor Wat: equated with the quintessence of Cambodian culture for more than a century - Behind the mythical towers: Cambodian history". Phnom Penh Post. ngày 14 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "A king and a stone - Nineteenth century or twelfth? When the Thai script was first inscribed has much to do with how history is used politically by Rahul Goswami". Khaleej Times. ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Recreations epigraphic (2 2). Epigraphic western: the case of Ramkhamhaeng by Jean-Michel Filippi". Kampotmuseum. ngày 28 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The Abridged Royal Chronicle of Ayudhya - In 712 of the Era, Year of the Tiger..." (PDF). The Siam Society. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- 1 2 "History of Ayutthaya - Dynasties - King Ramesuan". History of Ayutthaya. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The Abridged Royal Chronicle of Ayudhya - Then he went to attack Chiangmai. A great many Lao families were brought away to the capitol." (PDF). The Siam Society. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk (ngày 11 tháng 5 năm 2017). A History of Ayutthaya (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 259. ISBN 978-1-107-19076-4.
- ↑ Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk (ngày 11 tháng 5 năm 2017). A History of Ayutthaya (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 4. ISBN 978-1-107-19076-4.
- ↑ "Two Historical Records of the Kingdom of Vientiane (pp.2-5)" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Higham, Charles (ngày 14 tháng 5 năm 2014). Encyclopedia of Ancient Asian Civilizations By Charles Higham Mahidharapura dynasty. Infobase. ISBN 9781438109961. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Marr, David G.; Milner, Anthony Crothers (1986). Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries edited by David G. Marr, Anthony Crothers Milner. Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 9789971988395. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Comparative timeline of Khmer Empire and Europe Theravada Buddhism became the state religion" (PDF). Australian Government Department of Education. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The emergence and ultimate decline of the Khmer Empire - Many scholars attribute the halt of the development of Angkor to the rise of Theravada..." (PDF). Studies Of Asia. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "From Funan to Angkor Collapse and Regeneration in Ancient Cambodia by Miriam T. Stark p. 162" (PDF). University of Hawaii. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Kiernan, Ben (2008). Blood and Soil: Modern Genocide 1500-2000. Melbourne Univ. ISBN 9780522854770. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Strange Parallels: Volume 1, Integration on the Mainland: Southeast Asia in Global Context, c.800-1830 by Victor Lieberman" (PDF). University of Michigan. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The water management network of Angkor, Cambodia Roland Fletcher Dan Penny, Damián Evans, Christophe Pottier, Mike Barbetti, Matti Kummu, Terry Lustig & Authority for the Protection and Management of Angkor and the Region of Siem Reap (APSARA) Department of Monuments and Archaeology Team" (PDF). University of Washington. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The architects of Cambodia's famed Angkor – the world's most extensive medieval "hydraulic city" – unwittingly engineered its environmental collapse". ScienceDaily. ngày 12 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Damme, Thomas Van (tháng 1 năm 2011). "The Collapse of the Khmer Empire by Thomas Van Damme". academia.edu. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Thung, Heng L. "Geohydrology and the Decline of Angkor" (PDF). Khamkoo. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Evans, DH; Fletcher, RJ; Pottier, C; Chevance, JB; Soutif, D; Tan, BS; Im, S; Ea, D; Tin, T; Kim, S; Cromarty, C; De Greef, S; Hanus, K; Bâty, P; Kuszinger, R; Shimoda, I; Boornazian, G (ngày 11 tháng 7 năm 2013). "Uncovering archaeological landscapes at Angkor using lidar". Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 110 (31): 12595–600. Bibcode:2013PNAS..11012595E. doi:10.1073/pnas.1306539110. PMC 3732978. PMID 23847206.
- ↑ "The Collapse of Angkor – Evidence for a Long Term Drought – an extended drought between the 14th and 15th centuries at Angkor". About Education. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Vickery, Michael (2005). "A Misstep Toward a New History of Cambodia: A Review Article". Zeitschrift der Deutschen Morgenländischen Gesellschaft. 155 (1): 247. ISSN 0341-0137. JSTOR 43381446.
The capital moved from Angkor to the Phnom Penh region, probably...in connection with the growth of international maritime trade.
- ↑ Lieberman, Victor (ngày 26 tháng 5 năm 2003). Strange Parallels: Volume 1, Integration on the Mainland: Southeast Asia in Global Context, c.800–1830 (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 240. ISBN 978-1-139-43762-2.
...the subsequent effective transfer of the capital to the more commercially viable site of Phnom Penh marked the eclipse of pro-Angkor elements within the Khmer elite.
- ↑ Ebihara, May (1984). "Societal Organization in Sixteenth and Seventeenth Century Cambodia". Journal of Southeast Asian Studies. 15 (2): 282. doi:10.1017/S0022463400012522. ISSN 0022-4634. JSTOR 20070596.
The shift of the capital from Angkor...may reflect...Cambodia's transition to a "trading kingdom" with increasing involvement with the outside world.
- ↑ "Yasodharapura, revived in literature ...Yasodharapura, the first capital of the Khmer empire, was razed by the Siamese..." The Japan Times. ngày 23 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "A Brief History of Phnom Penh - Chaktomuk..." anby Publications. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "An Eighteenth Century Inscription From Angkor Wat by David P. Chandler" (PDF). The Siam Society. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Murder and Mayhem in Seventeenth Century Cambodia". nstitute of Historical Research (IHR). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Maritime Trade in Southeast Asia during the Early Colonial Period ...transferring the lucrative China trade to Cambodia..." (PDF). Oxford Centre for Maritime Archaeology University of Oxford. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Justin Corfield (ngày 13 tháng 10 năm 2009). The History of Cambodia. ABC-CLIO. tr. 12–. ISBN 978-0-313-35723-7.
- ↑ "The Jesuits in Cambodia: A Look Upon Cambodian Religiousness (2nd half of the 16th century to the 1st quarter of the 18th century)—he wasn't able to spread the word of God and he was seriously ill, he quickly left the region without doing much and not baptizing more than a heathen" (PDF). Universidad Autónoma del Estado de México. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Boxer, Charles Ralph; Pereira, Galeote; Cruz, Gaspar da; Rada, Martín de (1953), South China in the sixteenth century: being the narratives of Galeote Pereira, Fr. Gaspar da Cruz, O.P. [and] Fr. Martín de Rada, O.E.S.A. (1550-1575), Issue 106 of Works issued by the Hakluyt Society, Printed for the Hakluyt Society, tr. lix, 59–63
- ↑ "The Philippine islands, 1493-1803...the expedition of 1596 to Cambodia..." Archive Org. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Briggs, Lawrence Palmer (1946). "The Treaty of March 23, 1907 Between France and Siam and the Return of Battambang and Angkor to Cambodia". The Far Eastern Quarterly. 5 (4): 441. doi:10.2307/2049791. ISSN 0363-6917. JSTOR 2049791.
After the Khmer armies had been driven out of the Menam valley, they seem to have abandoned the upper and middle Mekong to the Laotians and to have withdrawn to the territory which was predominantly Khmer-with the Se Mun valley and Korat-Jolburi-Chantabun as a frontier. For two cen- turies, they fought Siam successfully for these frontiers. Once-in 1430-31 -the Siamese captured Angkor and seated a Siamese puppet on the throne. But the Cambodians reconquered their capital the next year; and, although they moved the capital to Phnom Penh, they did not abandon their old frontiers, but continued to fight for them during the sixteenth century, some- times in alliance with the Burmese, who twice sacked the Siamese capital.
- 1 2 Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk (ngày 11 tháng 5 năm 2017). A History of Ayutthaya (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 114. ISBN 978-1-107-19076-4.
- ↑ Smith, John (2019). "State, Community, and Ethnicity in Early Modern Thailand, 1351-1767" (PDF). University of Michigan Dissertation: 100.
- ↑ Sotheavin, Nhim. "Factors that Led to the Change of the Khmer Capitals from the 15th to 17th century" (PDF): 84–85.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần|journal=(trợ giúp) - ↑ Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk (ngày 11 tháng 5 năm 2017). A History of Ayutthaya (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 115. ISBN 978-1-107-19076-4.
- ↑ "Mak Phœun: Histoire du Cambodge de la fin du XVIe au début du XVIIIe siècle - At the time of the invasion one group of the royal family, the reigning king and two or more princes, escaped and eventually found refuge in Laos, while another group, the king's brother and his sons, were taken as hostages to Ayutthaya" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- 1 2 "Mak Phœun: Histoire du Cambodge de la fin du XVIe au début du XVIIIe siècle – It was in fact at the end of the reign of Suriyobarm that the first step was taken in the form of a marriage between the crown prince Jayajetthâ and a Vietnamese princess at a date between 1616 and 1618" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "1620 A Cautionary Tale - Cambodia had quickly recovered from an Ayutthayan invasion of Lovek in 1593-94" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Preah Khan Reach - The Genealogy of Khmer Kings – The Rise of King Ang Chan – The Defeat of Sdach Kân" (PDF). Cambosastra. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "History Period 1372-1432 60 Years Abandonment of Chaktomuk City". locomo.org. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Ben Kiernan Recovering History and Justice in Cambodia Within two years, Spanish and Portuguese conquistadores..." Yale University. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Baker, Chris; Phongpaichit, Pasuk (ngày 11 tháng 5 năm 2017). A History of Ayutthaya (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 116. ISBN 978-1-107-19076-4.
- ↑ Rungswasdisab, Puangthong (1995). War and Trade: Siamese Interventions in Cambodia, 1767-1851 (bằng tiếng Anh). University of Wollongong. tr. 42, 50.
- ↑ "The Buddha of Chinese deception Oudong Mountain by Bou Saroeun". Phnom Penh Post. ngày 22 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The History of the Phnom Bakheng Monument" (PDF). Khmer Studies. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Norman G. Owen (2005). The Emergence Of Modern Southeast Asia: A New History. University of Hawaii Press. tr. 117–. ISBN 978-0-8248-2890-5.
- ↑ "The Project Gutenberg EBook of Travels in the Central Parts of Indo-China (Siam), Cambodia, and Laos (Vol. 1 of 2), by Henri Mouhot". The Project Gutenberg. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Vickery, Michael. "'1620', A Cautionary Tale" (PDF). tr. 5.
- ↑ Kiernan, Ben (2008). Blood and Soil: Modern Genocide 1500–2000 By Ben Kiernan p. 102 The Vietnamese destruction of Champa 1390–1509. Melbourne Univ. ISBN 9780522854770. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "The Cham: Descendants of Ancient Rulers of South China Sea Watch Maritime Dispute From Sidelines Written by Adam Bray". IOC-Champa. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Mote, Frederick W. (1998). The Cambridge History of China: Volume 8, The Ming Part 2 Parts 1368-1644 By Denis C. Twitchett, Frederick W. Mote. Cambridge University Press. ISBN 9780521243339. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "A history of Champa - The Cambodia Daily". The Cambodia Daily (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Weber, N. (2012). The destruction and assimilation of Campā (1832-35) as seen from Cam sources. Journal of Southeast Asian Studies, 43(1), 158-180. Retrieved June 3, 2020, from www.jstor.org/stable/41490300
- ↑ "Reconceptualizing Southern Vietnamese History from the 15th to 18th Centuries Competition along the Coasts from Guangdong to Cambodia by Brian A. Zottoli". University of Michigan. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Mak Phœun: Histoire du Cambodge de la fin du XVIe au début du XVIIIe siècle - According to Cambodian oral tradition, the marriage was because a weak Cambodian king fell in love..." (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Michael Arthur Aung-Thwin; Kenneth R. Hall (ngày 13 tháng 5 năm 2011). New Perspectives on the History and Historiography of Southeast Asia: Continuing Explorations. Routledge. tr. 158–. ISBN 978-1-136-81964-3.
- ↑ "Mak Phœun: Histoire du Cambodge de la fin du XVIe au début du XVIIIe siècle In: Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 83, 1996. pp. 405-415" (PDF). Michael Vickery’s Publications. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Vickery, Michael. "'1620', A Cautionary Tale" (PDF). tr. 5.
- ↑
- p. 157.
- Kiernan 2002, p. 253.
- Cormack 2001, p. 447.
- Reid 1999, p. 36.
- Chakrabartty 1988, p. 497.
- ↑
- Fielding 2008, p. 27.
- Kiernan 2008,
- p. 158.
- Kiernan 2002, p. 254.
- ↑ Osborne 2008, p. 45.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2020). "2 Between the Company and Koxinga: Territorial Waters, Trade, and War over Deerskins". Trong Benton, Lauren; Nathan, Perl-Rosenthal (biên tập). A World at Sea: Maritime Practices and Global History . University of Pennsylvania Press. tr. 43–45. ISBN 0812297342.
- ↑ https://www.degruyterbrill.com/document/doi/10.9783/9780812297348-014/pdf?licenseType=restricted&srsltid=AfmBOor86mE1IqxL7pNoHQy258TOYfi42tUdntVbb5DxYZsrGRT-BaYN
- ↑ "A World at Sea: Maritime Practices and Global History 9780812297348". dokumen.pub (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2019). "The Deerskin War in Southeast Asia". Maritime Asia : War and Trade.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2019). "Piauwja (Xian Biao)". Maritime Asia : War and Trade.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2019). "King Paramaraja VIII". Maritime Asia : War and Trade.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2019). "Key Actors". Maritime Asia : War and Trade.
- ↑ Clulow, Adam; Hang, Xing (2019). "Timeline". Maritime Asia : War and Trade.
- ↑ https://zhuanlan.zhihu.com/p/411669600
- ↑ "Index Analytique du Tome XXXVII" (PDF). Bulletin de l’École Française d’Extrême-Orient. 37 (2): 715–59. 1937.
- ↑ "Index analytique du tome XXXVII [tables et index]". Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient. XXXVII. l'École française d'Extrême-Orient: 746. 1937.
- ↑ Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. 77. l'École française d'Extrême-Orient: 234–235. 1991 https://books.google.com/books?id=DX1hAAAAMAAJ&q=Piauwja&dq=Piauwja&hl=en&newbks=1&newbks_redir=1&printsec=frontcover&sa=X&ved=2ahUKEwiglfzN_PaTAxWh9bsIHRwkD_4Q6AF6BAgJEAM.
{{Chú thích tập san học thuật}}:|title=trống hay bị thiếu (trợ giúp) - ↑ Werken uitgegeven door de Linschoten-Vereeniging, Volume 13. Quyển 13. Hague, Netherlands: Martinus Nijhoff. 1909. tr. lxvii, 448, 460.
- ↑ Phoeun, Mak (1995). Histoire du Cambodge: de la fin du XVIe siècle au début du XVIIIe. Quyển 176. Presses de l'Ecole française d'Extrême-Orient. tr. 324, 327, 475. ISBN 2855397766. ISSN 1269-8326.
- ↑ Tōkyō Daigaku. Shiryō Hensanjo (1963). Historical Documents Relating to Japan in Foreign Countries: An Inventory of Microfilm Acquisitions in the Library of the Historiographical Institute (Shiryō Hensan-jo), the University of Tokyo, Volume 1. Quyển 1. Tōkyō: Tokyo Daigaku 東京大學. 史料編纂所. tr. 102.
- ↑ Nihon Gakushiin (1963). Historical Documents Relating to Japan in Foreign Countries: An Inventory of Microfilm Acquisitions in the Library of the Historiographical Institute (Shiryō Hesan-jo), University of Tokyo, Volume 1. Quyển 1. Tōkyō: Tōkyō Daigaku, Tōkyō Daigaku. Shiryō Hensanjo. tr. 102.
- ↑ Mikaelian, Grégory (2009). La royauté d'Oudong: réformes des institutions et crise du pouvoir dans le royaume khmer du XVIIe siècle. Paris: Presses de l'Université Paris-Sorbonne. ISBN 2840505975.
- ↑ Hang, Xing (2017). "7 The seventeenth-century Guangdong pirates and their transnational impact". Trong Swope, Kenneth M.; Andrade, Tonio (biên tập). Early Modern East Asia: War, Commerce, and Cultural Exchange . Routledge. tr. 158. ISBN 1315282798.
- ↑ "Early Modern East Asia: War, Commerce, And Cultural Exchange [PDF] [4d1u7ks5fkq0]". vdoc.pub (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Hang, Xing (2016). "5 The Zheng state on Taiwan". Conflict and Commerce in Maritime East Asia: The Zheng Family and the Shaping of the Modern World, c.1620–1720. Cambridge University Press. tr. 173–174. doi:10.1017/CBO9781316401224.007. ISBN 9781316453841.
- ↑ Hang, Xing, biên tập (2016), "The Zheng state on Taiwan", Conflict and Commerce in Maritime East Asia: The Zheng Family and the Shaping of the Modern World, c.1620–1720, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 146–175, ISBN 978-1-107-12184-3, truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026
- ↑ https://www.studocu.com/en-ca/document/kwantlen-polytechnic-university/the-chinese-overseas-a-global-history-of-chinese-migration/wk-2-the-seventeenth-century-guangdong-pirates-and-their-transnational-impact/67018301
- ↑ Hang, Xing, biên tập (2016), "A contingent destruction", Conflict and Commerce in Maritime East Asia: The Zheng Family and the Shaping of the Modern World, c.1620–1720, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 210–240, ISBN 978-1-107-12184-3, truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026
- ↑ Hang, Xing, biên tập (2016), "Index", Conflict and Commerce in Maritime East Asia: The Zheng Family and the Shaping of the Modern World, c.1620–1720, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 326–332, ISBN 978-1-107-12184-3, truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2026
- ↑ Hang, Xing (2024). "1 - The Port before "The Port"". The Port : Hà Tiên and the Mo Clan in Early Modern Asia (PDF). Cambridge University Press. tr. 26–65. doi:10.1017/9781009427005.003. ISBN 9781009426985.
- ↑ Zottoli, Brian (2011). Reconceptualizing Southern Vietnamese History From The 15th To The 18th Centuries (Luận văn). University of Michigan. tr. 282.
- ↑ https://www.academia.edu/81359977/Reconceptualizing_Southern_Vietnamese_History_from_the_15th_to_the_18th_Centuries_Competition_along_the_Coasts_from_Guangdong_to_Cambodia
- ↑ Muller, Hendrik Pieter Nicolaas (1917). De Oost-Indische Compagnie in Cambodja en Laos; verzameling van bescheiden van 1636 tot 1670. The Hague: Martinus Nijhoff, 's-Gravenhage. tr. 448.
- ↑ Muller, Hendrik Pieter Nicolaas, biên tập (1917). De Oost-Indische compagnie in Cambodja en Laos: verzameling van bescheiden van 1636 tot 1670. Quyển 13 of Werken, Linschoten–Vereeniging. The Hague: M. Nijhoff. tr. lxvii, 447, 448. ISSN 0168-7107.
- ↑ 遠藤, 正之 (tháng 11 năm 2017). カンボジアにおけるマレー人の活動―16 世紀~19 世紀を中心に― (PDF) (Luận văn). 文学研究科史学専攻. tr. 110.
- ↑ https://edepot.wur.nl/242428
- ↑ Chính, Thắng (ngày 3 tháng 5 năm 2023). "Hành tung của thủ lĩnh hải tặc Piauwja từ Vịnh Bắc Bộ đến Cambodia".
- ↑ https://www.facebook.com/brian.wu.121772/posts/d%E1%BB%8Bch-ch%C6%A1i-v%E1%BB%81-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-hoa-li%C3%AAn-quan-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%AD-mi%E1%BB%81n-namthe_17th_century_guangdo/2301355096782106/
- ↑ "War and trade: Siamese interventions in Cambodia 1767-1851 by Puangthong Rungswasdisab". University of Wollongong. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Nolan, Cathal J. (2002). The Greenwood Encyclopedia of International Relations: S-Z by Cathal J. Nolan. Greenwood Pub. ISBN 9780313323836. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
- ↑ "Volume IV - Age of Revolution and Empire 1750 to 1900 - French Indochina by Justin Corfield" (PDF). Grodno State Medical University. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "Full text of "Siamese State Ceremonies" Chapter XV – The Oath of Allegiance 197...as compared with the early Khmer Oath..." Internet Archive. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ "March to the South (Nam Tiến)". Khmers Kampuchea-Krom Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Chandler, David (2018) [1986]. A History of Cambodia. Taylor & Francis. tr. 140–144. ISBN 978-0-429-97514-1.
- ↑ Corfield, Justin J. (2009). The History of Cambodia. ABC-CLIO. tr. 18. ISBN 978-0-31335-723-7.
- ↑ Chandler, David (2018) [1986]. A History of Cambodia. Taylor & Francis. tr. 146–149. ISBN 978-0-429-97514-1.
- ↑ Chandler, David (2018) [1986]. A History of Cambodia. Taylor & Francis. tr. 150–156. ISBN 978-0-429-97514-1.
- ↑ Chandler, David (2018) [1986]. A History of Cambodia. Taylor & Francis. tr. 157–160. ISBN 978-0-429-97514-1.
- ↑ Corfield, Justin J. (2009). The History of Cambodia. ABC-CLIO. tr. 19. ISBN 978-0-31335-723-7.
- ↑ Chapuis, Oscar (ngày 1 tháng 1 năm 2000). The Last Emperors of Vietnam: From Tu Duc to Bao Dai. Greenwood Publishing Group. tr. 48. ISBN 9780313311703. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015.
- ↑ Dunmore, John (tháng 4 năm 1993). "The French Voyages and the Philosophical Background". Tuatara. 32. Victoria University of Wellington Library. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015.
- ↑ Keay, John (tháng 11 năm 2005). "The Mekong Exploration Commission, 1866 – 68: Anglo-French Rivalry in South East Asia" (PDF). Asian Affairs. XXXVI (III). Routledge. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015.
- ↑ Bussemaker, H.Th. (2001). "Paradise in Peril. Western colonial power and Japanese expansion in South-East Asia, 1905-1941". University of Amsterdam. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2015.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần|journal=(trợ giúp) - ↑ Sovannarith Keo (ngày 14 tháng 12 năm 2014). "The Raison d'être of French Protectorate of Cambodia". Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Buckley, Brendan M.; Anchukaitis, Kevin J.; Penny, Daniel; Fletcher, Roland; Cook, Edward R.; Sano, Masaki; Nam, Le Canh; Wichienkeeo, Aroonrut; Minh, Ton That; Hong, Truong Mai (ngày 13 tháng 4 năm 2010). "Climate as a contributing factor in the demise of Angkor, Cambodia – Historians and archaeologists have, with a few notable exceptions (1, 2), only..." Proceedings of the National Academy of Sciences. 107 (15). National Academy of Sciences: 6748–6752. doi:10.1073/pnas.0910827107. PMC 2872380. PMID 20351244.
- ↑ Bourdonneau, Eric (tháng 9 năm 2004). "Culturalism and historiography of ancient Cambodia: about prioritizing sources of Khmer history - Ranking Historical Sources and the Culturalist Approach in the Historiography of Ancient Cambodia by Eric Bourdonneau". Moussons. Recherche en Sciences Humaines Sur l'Asie du Sud-Est (7). Presses Universitaires de Provence: 39–70. doi:10.4000/moussons.2469. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "Archaeology in Cambodia: An appraisal for future research by William A. Southworth, Archaeological consultant for the Center for Khmer Studies - Rather than being finalized and complete, the study of the archaeology of Cambodia..." Center for Khmer Studies. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "From Funan to Angkor Collapse and Regeneration in Ancient Cambodia by Miriam T. Stark p. 166" (PDF). University of Hawaii. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Chakrabartty, H. R. (1988). Việt Nam, Campuchia, Lào, Gắn Kết Trong Tình Đồng Minh: Nghiên cứu Toàn cảnh về Đông Dương từ Cổ Đại đến Hiện Đại, Tập 2. Patriot Publishers. ISBN 8170500486. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Cormack, Don (2001). Cánh đồng chết, cánh đồng sống: Chân dung dang dở về Giáo hội Campuchia - Giáo hội không chịu chết. Contributor Peter Lewis . Kregel Publications. ISBN 0825460026. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Fielding, Leslie (2008). Trước Cánh đồng chết: Nhân chứng về Campuchia và Chiến tranh Việt Nam . I.B.Tauris. ISBN 978-1845114930. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Kiernan, Ben (2008). Máu và Đất: Lịch sử thế giới về diệt chủng và tiêu diệt từ Sparta đến Darfur. Melbourne Univ. Publishing. ISBN 978-0522854770. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Kiernan, Ben (2002). Chế độ Pol Pot: Chủng tộc, Quyền lực và Diệt chủng ở Campuchia dưới thời Khmer Đỏ, 1975-79 . Yale University Press. ISBN 0300096496. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Osborne, Milton (2008). Phnom Penh: Lịch sử văn hóa: Lịch sử văn hóa. Oxford University Press. ISBN 978-0199711734. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
- Reid, Anthony (1999). Phác thảo hình dạng của Đông Nam Á thời kỳ cận đại. Silkworm Books. ISBN 9747551063. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]| Từ điển từ Wiktionary | |
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tin tức từ Wikinews | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Văn kiện từ Wikisource | |
| Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks | |
| Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage | |
| Tài nguyên học tập từ Wikiversity | |
- The Ram Khamhaeng Inscription - The fake that did not come true
- What the collapse of ancient capitals can teach us about the cities of today
- Center for Southeast Asian Studies Japan
- Center for Khmer Studies
- Strange Parallels - Southeast Asia in a Global Context by Victor Lieberman
- Maritime boundary delimitation in the gulf of Thailand - information on multiple unsolved regional border disputes,dating back to the dark ages
