Lịch sử hành chính Khánh Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lịch sử hành chính Khánh Hòa có thể xem mốc khởi đầu từ năm 1831 với cải cách hành chính của Minh Mạng, thành lập tỉnh Khánh Hòa. Vào thời điểm hiện tại (2017), về mặt hành chính, Khánh Hòa được chia làm 9 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã, 6 huyện – và 140 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 99 xã, 35 phường và 6 thị trấn.

Lịch sử tổ chức hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp Po Nagar, trung tâm tôn giáo của Kauthara

Vùng đất Khánh Hòa xưa vốn là thuộc vương quốc Chăm cổ. Sau chiến bại năm 1653 trước chúa Nguyễn Phúc Tần, vua Chăm sai con mang thư hàng và xin dâng đất cho Chúa từ sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Chúa chấp thuận và đặt dinh Thái Khang gồm hai phủ là phủ Thái Khang gồm các huyện Tân Định, Quảng Phước ở phía bắc (nay là các huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh) và phủ Diên Ninh gồm các huyện Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương ở phía nam (nay là các huyện Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Sơn, thị xã Cam Ranh, thành phố Nha Trang và một phần phía Bắc của tỉnh Ninh Thuận), giao cho Hùng Lộc làm thái thú.[1][2] Từ đó, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và công cuộc khai khẩn lập làng của người Việt được đẩy mạnh. Dân cư sống tập trung tại các hạ lưu sông Dinhsông Cái. Đến năm 1690, phủ Thái Khang được đổi tên thành phủ Bình Khang. Năm 1742, phủ Diên Ninh đổi thành phủ Diên Khánh.[1]

Bản đồ tỉnh Khánh Hòa nhà Nguyễn
Nhà Yersin thời Pháp thuộc (nay là nhà khách Bộ Công An)

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Năm 1803, Dinh Bình Khang được đổi tên thành Dinh Bình Hòa, phủ Bình Khang cũng được đổi tên thành phủ Bình Hòa nhưng sở lỵ đã được chuyển từ đây sang phủ Diên Khánh. Năm 1808, Dinh được đổi thành Trấn.

Tỉnh Khánh Hòa - Những thay đổi hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 1831 (năm Minh Mạng thứ 12), trấn Bình Hòa được đổi tên thành tỉnh Khánh Hòa, còn phủ Bình Hòa trở thành phủ Ninh Hòa.[3] Vào thời điểm đó, tỉnh Khánh Hòa gồm 2 phủ, 4 huyện là: Phủ Diên Khánh gồm 2 huyện: Phước Ðiền, Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Ðịnh, tỉnh lỵ là Phủ Diên Khánh.[4]

Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký kết hiệp ước Patenotre với Pháp, tạo cơ sở cho việc thiết lập chính quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam và sự suy yếu của nhà Nguyễn. Là một tỉnh ở xứ Trung Kỳ, Khánh Hòa vẫn là bộ phận của Nam triều, đồng thời tồn tại Chính quyền bảo hộ Pháp. Quan lại của Nam triều gồm có chức tuần vũ, án sát coi việc hành chính, lãnh binh coi việc canh gác và giữ gìn an ninh trong tỉnh, đóng tại Diên Khánh. Cơ quan bảo hộ Pháp gồm có chánh sứ, phó sứ và giám binh, đóng tại Nha Trang. Nha Trang dần phát triển thành thị trấn.[1]

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, giao tỉnh Khánh Hòa cho các quan Nam triều quản lý, cơ quan hành chính của tỉnh dời xuống Nha Trang. Từ đó, Nha Trang chính thức trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa.[1]

Dân số tỉnh Khánh Hòa 1967[5]
Quận Dân số
Cam Lâm 11.185
Diên Khánh 47.446
Khánh Dương 5767
Ninh Hòa 74.299
Vạn Ninh 27.536
Vĩnh Xương 163.828
Tổng số 330.061
Tranh vẽ căn cứ hải quân Liên Xô tại Vịnh Cam Ranh năm 1985

Năm 1955, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Khánh Hòa cũng được tổ chức lại trên mọi phương diện. Các phủ huyện đổi thành quận. Các làng đổi thành xã. Tháng 5 năm 1959, hai tổng Krang Ying và Krang Hinh thuộc tỉnh Đắk Lắk được sát nhập vào tỉnh Khánh Hòa và lập thành quận Khánh Dương. Tháng 4 năm 1960, 12 thôn Thượng thuộc quận Cam Lâm được trích ra khỏi Khánh Hòa để nhập vào quận Du Long tỉnh Ninh Thuận.[1] Tháng 10 năm 1965, một phần đất quận Cam Lâm ở phía Nam bị cắt để thiết lập thị xã Cam Ranh trực thuộc trung ương (khu đặc biệt Cam Ranh).[1]

Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ mới hợp nhất hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và thị xã Cam Ranh vào ngày 29 tháng 10 năm 1975 thành tỉnh Phú Khánh.[6]

Năm 1977, thành lập thành phố Nha Trang, hợp nhất huyện Cam Ranh và huyện Khánh Sơn thành một huyện lấy tên là huyện Cam Ranh; hợp nhất huyện Khánh Xương và huyện Khánh Vĩnh thành một huyện lấy tên là huyện Diên Khánh.[7]

Năm 1978, thành lập một số xã, thị trấn thuộc thành phố Nha Trang và các huyện Diên Khánh[8], Cam Ranh, Khánh Ninh[9].

Năm 1979, thành lập xã Ninh Trung thuộc huyện Khánh Ninh[10]. Cùng năm, chia huyện Khánh Ninh thành hai huyện lấy tên là huyện Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh[11].

Năm 1981, chia tách một số xã thuộc các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Cam Ranh.[12]

Năm 1982, chuyển huyện Trường Sa của tỉnh Đồng Nai về tỉnh Phú Khánh quản lý.[13]

Năm 1985, tái lập các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh từ các huyện Cam Ranh, Diên Khánh[14]. Cùng năm, chia tách một số xã thuộc các huyện Cam Ranh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Vạn Ninh[15].

Năm 1986, chia tách một số xã thuộc huyện Vạn Ninh.[16]

Năm 1988, chia tách một số xã thuộc huyện Cam Ranh.[17]

Năm 1989, thành lập và điều chỉnh một số xã, thị trấn thuộc các huyện Ninh Hòa, Khánh Vĩnh[18]. Cùng năm, Quốc hội ra Nghị quyết chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa[19]. Khi tách ra, tỉnh Khánh Hòa có 8 đơn vị hành chính gồm thành phố Nha Trang và 7 huyện: Cam Ranh, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Trường Sa, Vạn Ninh.

Năm 1998, thành lập một số phường, xã thuộc thành phố Nha Trang và các huyện Ninh Hòa[20], Khánh Vĩnh[21].

Năm 2000, thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã Cam Ranh.[22]

Năm 2002, thành lập phường Vĩnh Hòa thuộc thành phố Nha Trang.[23]

Năm 2007, thành lập huyện Cam Lâm và một số xã, thị trấn thuộc các huyện Cam Lâm, Trường Sa.[24]

Năm 2010, thành lập thị xã Ninh Hòa và các phường thuộc thị xã Ninh Hòa[25]. Cùng năm, thành lập thành phố Cam Ranh[26].

Các đơn vị hành chính trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Quách Tấn (1992), tr. 15-26.
  2. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn (2006). Đại Nam Nhất Thống Chí 3. Phạm Trọng Điềm - Đào Duy Anh. Thuận Hóa. tr. 102. 
  3. ^ “Lịch sử địa lý hành chính huyện Ninh Hòa”. Website Ninh Hòa, Khánh Hòa. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2009. 
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên lichsu
  5. ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
  6. ^ Quyết định của Quốc hội
  7. ^ Quyết định số 49-CP năm 1977 của Hội đồng Chính phủ.
  8. ^ Quyết định số 54-BT năm 1978 của Bộ trưởng Phủ thủ tướng.
  9. ^ Quyết định số 268-CP năm 1978 của Hội đồng Chính phủ.
  10. ^ Quyết định số 74-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
  11. ^ Quyết định số 85-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
  12. ^ Quyết định số 100-HĐBT năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng.
  13. ^ Nghị quyết của Quốc hội
  14. ^ Quyết định số 189-HĐBT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
  15. ^ Quyết định số 230-HBĐT năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng.
  16. ^ Quyết định số 43-HĐBT năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng.
  17. ^ Quyết định số 64-HĐBT năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng.
  18. ^ Quyết định số 34-HĐBT năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
  19. ^ Nghị quyết về việc phân vạch địa giới hành chính của các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên do Quốc hội ban hành
  20. ^ Nghị định số 98/1998/NĐ-CP của Chính phủ.
  21. ^ Nghị định số 12/1998/NĐ-CP của Chính phủ.
  22. ^ Nghị định số 21/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
  23. ^ Nghị định số 22/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
  24. ^ Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ.
  25. ^ Nghị quyết số 41/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ.
  26. ^ Nghị quyết số 65/NQ-CP năm 2010 của Chính phủ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]