Lịch sử hành chính Hưng Yên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hưng Yên là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía nam giáp tỉnh Thái Bình, phía đông giáp tỉnh Hải Dương và phía tây giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam.

Trước khi thành lập tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên xưa, vùng đất Hưng Yên thuộc đất Sơn Nam. Sách Đại Nam Nhất thống chí chép vùng đất Sơn Nam có lẽ là thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ đời Hán. Đến thời Ngô Quyền, đất Sơn Nam được đặt thuộc châu Đằng, đời Tiền Lê đổi thành phủ Thái Bình. Thời Lý Cao Tông đổi thành Châu Đằng châu Khoái. Đời Trần đổi thành lộ Long Hưng và lộ Khoái.

Thời nhà Minh đô hộ, vùng đất Sơn Nam thuộc phủ Trần Man và Kiến Xương. Sau khi nhà Lê giành lại quyền tự chủ, đất Sơn Nam thuộc về Nam đạo; năm Quang Thuận thứ 10 đời Lê (1469), đổi thành đạo Thiên Trường. Đời Hồng Đức (Lê Thánh Tông, đổi thuộc Thừa tuyên Sơn Nam. Đến năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), chia đất Sơn Nam thành 2 lộ: Khoái Châu thuộc Thượng lộ, Tiên Hưng thuộc Hạ lộ, đặt chức Trấn thủ. Cuối đời Lê, đổi thành 2 trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ.

Vùng đất Hưng Yên nổi danh từ thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh trước đó với Phố Hiến, vốn là thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài. Thuyền bè ngược sông Hồng lên Thăng Long "Kẻ Chợ" đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép nên Phố Hiến trở thành tụ điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều đến đấy buôn bán. Do vậy dân gian đã có câu: "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến".

Đời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Sơn Nam Thượng được đổi thành trấn Sơn Nam còn Sơn Nam Hạ thì gọi là trấn Nam Định.

Hưng Yên thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập, gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ của phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam; và các huyện Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của phủ Tiên Hưng, trấn Nam Định. Nhà Nguyễn cũng cắt đặt một chức Tuần phủ, đặt dưới quyền Tổng đốc Định Yên (Nam Định - Hưng Yên).

Năm Tự Đức thứ 4 (1851), đổi huyện Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu sang phủ Tiên Hưng.

Năm Tự Đức thứ 15 (1862) tránh chữ "Thiên" thuộc diện các chữ tôn kính, đổi huyện Thiên Thi thành huyện Ân Thi.

Ngày 25 tháng 2 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy, gồm 4 huyện:

  • Yên Mỹ: thành lập từ một số tổng thuộc huyện Đông Yên, Ân Thi của tỉnh Hưng Yên; một số tổng của huyện Mỹ Hào của tỉnh Hải Dương, một số tổng của huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.
  • Mỹ Hào: gồm 4 tổng còn lại sau khi cắt sang huyện Yên Mỹ.
  • Cẩm Lương: gồm một số tổng của ba huyện Văn Giang, Gia Lâm và Siêu Loại tỉnh Bắc Ninh.
  • Văn Lâm: gồm các tổng của huyện Văn Lâm.

Ngày 21 tháng 3 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình, gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (tách từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê (tách từ tỉnh Hưng Yên và sáp nhập vào phủ Thái Bình - sau đổi tên là phủ Thái Ninh). Huyện Tiên Lữ thuộc phủ Tiên Hưng cũng được chuyển trở về phủ Khoái Châu.

Năm 1891, bãi bỏ đạo Bãi Sậy, đưa các huyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào vào Hưng Yên. Huyện Cẩm Lương, phần thuộc Cẩm Giàng trả về nơi cũ, phần thuộc Lương Tài – Siêu Loại đưa vào Văn Lâm, Mỹ Hào.

Ngày 28 tháng 11 năm 1894, chính quyền thực dân cắt hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà của Hưng Yên về tỉnh Thái Bình.[1]

Từ Hưng Yên đến Hải Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, cải cách hành chính trên toàn quốc đã bãi bỏ cấp hành chính phủ, gọi chung là huyện. Tổ chức hành chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên gồm 8 huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Lâm, Yên Mỹ. Ngày 15 tháng 8 năm 1946, thị xã Hưng Yên được thành lập gồm có hai khu phố (Đầu Lĩnh và Đằng Giang).

Năm 1947, huyện Văn Giang của tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập về tỉnh Hưng Yên.

Năm 1961, xã Văn Đức thuộc huyện Văn Giang được sáp nhập về huyện Gia Lâm của thành phố Hà Nội.[2]

Năm 1968, hợp nhất tỉnh Hải Dương và tỉnh Hưng Yên thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Hải Hưng.[3]

Thời kỳ Hải Hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1977, hợp nhất huyện Phù Cừ và huyện Tiên Lữ thành một huyện lấy tên là huyện Phù Tiên; hợp nhất huyện Văn Giang và huyện Yên Mỹ thành một huyện lấy tên là huyện Văn Yên; hợp nhất huyện Văn Lâm và huyện Mỹ Hào thành một huyện lấy tên là huyện Văn Mỹ.[4]

Năm 1979, hợp nhất huyện Kim Động và huyện Ân Thi thành một huyện lấy tên là huyện Kim Thi; hợp nhất huyện Văn Mỹ và một phần huyện Văn Yên thành một huyện lấy tên là huyện Mỹ Văn; hợp nhất huyện Khoái Châu và phần còn lại của huyện Văn Yên thành một huyện lấy tên là huyện Châu Giang.[5]

Năm 1982, sáp nhập các xã Hiến Nam và Lam Sơn của huyện Kim Thi vào thị xã Hưng Yên.[6]

Năm 1989, thành lập thị trấn Bần Yên Nhân thuộc huyện Mỹ Văn.[7]

Năm 1994, thành lập thị trấn Yên Mỹ thuộc huyện Mỹ Văn.[8]

Năm 1995, thành lập thị trấn Vương thuộc huyện Phù Tiên.[9]

Tái lập tỉnh Hưng Yên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1996, chia huyện Kim Thi thành hai huyện như cũ[10], thành lập thị trấn Ân Thi thuộc huyện Ân Thi[11]. Cùng năm, tỉnh Hưng Yên được tái lập. Tỉnh Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hưng Yên và 9 huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ[12].

Năm 1997, chia huyện Phù Tiên thành hai huyện như cũ; thành lập một số phường, thị trấn thuộc thị xã Hưng Yên và các huyện Mỹ Văn[13] và Châu Giang[14].

Năm 1999, thành lập thị trấn Văn Giang thuộc huyện Châu Giang[15]. Cùng năm, chia huyện Châu Giang thành hai huyện: Khoái Châu và Văn Giang; chia huyện Mỹ Văn thành 3 huyện: Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ; điều chỉnh địa giới huyện Châu Giang và huyện Mỹ Văn[16].

Năm 2000, thành lập thị trấn Trần Cao thuộc huyện Phù Cừ.[17]

Năm 2002, thành lập thị trấn Lương Bằng thuộc huyện Kim Động.[18]

Năm 2003, sáp nhập xã Bảo Khê của huyện Kim Động và các xã: Hồng Nam, Liên Phương, Quảng Châu, Trung Nghĩa của huyện Tiên Lữ vào thị xã Hưng Yên; thành lập phường An Tảo thuộc thị xã Hưng Yên.[19]

Năm 2009, thành lập thành phố Hưng Yên.[20]

Năm 2013, sáp nhập 2 xã: Hùng Cường, Phú Cường của huyện Kim Động và các xã: Hoàng Hanh, Phương Chiểu, Tân Hưng của huyện Tiên Lữ vào thành phố Hưng Yên.[21]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đào Duy Anh. Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời. Huế: Thuận Hóa, 1995.
  2. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa II ngày 20-4-1961.
  3. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa III ngày 27-1-1968.
  4. ^ Quyết định số 58-CP năm 1977 của Hội đồng Chính phủ.
  5. ^ Quyết định số 70-CP năm 1979 của Hội đồng Chính phủ.
  6. ^ Quyết định số 02-HĐBT năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng.
  7. ^ Quyết định số 108-HĐBT năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
  8. ^ Nghị định số 56-CP năm 1994 của Chính phủ.
  9. ^ Nghị định số 57-CP năm 1995 của Chính phủ.
  10. ^ Nghị định số 05-CP năm 1996 của Chính phủ.
  11. ^ Nghị định số 17-CP năm 1996 của Chính phủ.
  12. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa IX ngày 6-11-1996.
  13. ^ Nghị định số 17-CP năm 1997 của Chính phủ.
  14. ^ Nghị định số 102-CP năm 1997 của Chính phủ.
  15. ^ Nghị định số 35/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
  16. ^ Nghị định số 60/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
  17. ^ Nghị định số 20/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
  18. ^ Nghị định số 28/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
  19. ^ Nghị định số 108/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
  20. ^ Nghị định số 04/NĐ-CP năm 2009 của Chính phủ.
  21. ^ Nghị quyết số 95/NQ-CP năm 2013 của Chính phủ.