Park Chung-hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Park Chung Hee)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Park Chung-hee

박정희
Park Chung-hee.jpg
Tổng thống Hàn Quốc
Nhiệm kỳ
17 tháng 12 năm 1963 – 26 tháng 10 năm 1979
&000000000000001500000015 năm, &0000000000000313000000313 ngày
Quyền: 23 tháng 3 năm 1962 – 17 tháng 12 năm 1963
&00000000000000010000001 năm, &0000000000000269000000269 ngày
Thủ tướngChoi Tu-son
Chung Il-kwon
Baek Du-jin
Kim Jong-pil
Choi Kyu-hah
Tiền nhiệmYun Posun
Kế nhiệmChoi Kyu-hah (quyền)
Chủ tịch Hội đồng Tái thiết Quốc gia Tối cao
Nhiệm kỳ
3 tháng 7 năm 1961 – 17 tháng 12 năm 1963
&00000000000000020000002 năm, &0000000000000167000000167 ngày
Phó Chủ tịch từ 16 tháng 5 năm 1961
Tiền nhiệmChang Do-yong
Kế nhiệmChức vụ bị bãi bỏ
Thông tin cá nhân
Sinh30 tháng 9 năm 1917
Gumi, Triều Tiên thuộc Nhật
(ngày nay là Gumi, Hàn Quốc
Mất26 tháng 10 năm 1979 (61 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Nơi an nghỉNghĩa trang Quốc gia Seoul
Đảng chính trịĐảng Dân chủ Cộng hoà
Đảng khácĐảng Công nhân (1946-1948)[1]
Phối ngẫu
Kim Ho-nam (cưới 1936–1950)

Yuk Young-soo (cưới 1950–1974)
Con cáiPark Jae-ok
Park Geun-hye
Park Geun-ryoung
Park Ji-man
Alma materHọc viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Học viện Quân sự Hàn Quốc
Tôn giáoPhật giáo[2]
Chữ ký
Phục vụ trong quân đội
ThuộcFlag of Manchukuo.svg Mãn Châu Quốc
 Hàn Quốc
Phục vụWar Ensign of Manchukuo.svg Lục quân Đế quốc Mãn Châu (1944–1945)
 Lục quân Đại Hàn Dân Quốc (1945–1963)
Năm tại ngũ1944–1963
Cấp bậcĐại tướng
Tham chiếnChiến tranh Trung-Nhật
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữBak Jeonghui
McCune–ReischauerPak Chŏnghŭi
Bút danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữJungsu
McCune–ReischauerChungsu

Park Chung-Hee hay Bak Jeong-hui (Hangul박정희; Hanja朴正熙; Hán-Việt: Phác Chính Hy, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1917 – mất ngày 26 tháng 10 năm 1979) là một nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc, Đại tướng trực thuộc quân đội Hàn Quốc, thủ lĩnh của Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia sau này). Park Chung Hee sau đó trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong 4 nhiệm kỳ - từ ngày 17 tháng 12 năm 1963 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc đồng thời cũng là một trong những người châu Á tiêu biểu nhất của thế kỷ 20.[3]

Park là một nhân vật nhận được đa dạng quan điểm, ý kiến trái chiều cũng như gây ra nhiều những tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc[4]. Nếu xét về công trạng, ông là người đã trực tiếp khởi xướng và dẫn dắt đất nước Hàn Quốc tạo ra 'Kỳ tích sông Hán', một thời đại chứng kiến sự phát triển thần tốc về kinh tế, văn hóa - xã hội và công nghiệp hóa kéo dài cho tới tận đầu thế kỷ 21, làm thay đổi cơ bản toàn bộ, vĩnh viễn và sâu rộng, biến quốc gia này từ một đống tro tàn, đổ nát thời kỳ hậu chiến tranh Triều Tiên, trở thành một trong những con Rồng về kinh tế của châu Á cũng như thế giới. Nhưng đồng thời, nếu nói đến "tội", ông cũng bị chỉ trích và lên án như một nhà độc tài tàn bạo, kẻ đã xâm phạm quyền tự do, thủ tiêu dân chủquyền con người trong quá trình điều hành đất nước.

Trong một cuộc khảo sát của Gallup được thực hiện vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung Hee đã được tôn vinh là vị 'Tổng thống vĩ đại nhất' trong lịch sử nước này với tỷ lệ bình chọn là 44%.[5]

Thiếu thời và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Park thời trẻ trong bộ đồng phục của quân đội Mãn Châu Quốc.

Park Chung-hee sinh ngày 14 tháng 11 năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại Seonsan, một thị trấn nhỏ ở Gumi, bắc Gyeongsang, bán đảo Triều Tiên lúc bấy giờ đang nằm dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản.[6] Cha ông là Park Sung-bin, mẹ là Baek Nam-eui. Ông là con út trong gia đình có 7 anh chị em.[7] Những ghi chép về thuở thiếu thời mô tả ông là người có vóc dáng hơi nhỏ, gầy, và có khuynh hướng rất thích sự đơn độc. Trong những năm học phổ thông, Park thông minh và học rất giỏi. Thầy cô của Park đã tiến cử ông tới học tại trường Cao đẳng Sư phạm Daegu, một ngôi trường dành cho những học sinh nghèo nhưng xuất sắc và có ước mơ trở thành giáo viên tiểu học. Park học tại đây 5 năm (tháng 4 năm 1932-tháng 3 năm 1937).[8] Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học ở Trường Tiểu học Mungyeong.

Quá trình trưởng thành của Park trùng với thời gian Nhật Bản bắt đầu xâm chiếm Trung Quốc, bắt đầu từ vụ Mãn Châu Lý năm 1931 và gia tăng căng thẳng lên đỉnh điểm dẫn tới bùng nỗ chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai năm 1937.[9] Điều này đã tạo ra tiền đề cho sự phát triển con đường binh nghiệp của ông sau này cũng như con đường biến ông trở thành vị Tổng thống với nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại.

Sau 2 năm giảng dạy, tháng 4 năm 1940, do không còn hứng thú với việc giảng dạy, đồng thời bị thu hút bởi các ý niệm về quân đội, ông quyết định vào học tại Học viện Quân sự Hoàng gia của Mãn Châu Quốc, ngôi trường được lập ra bởi sự hậu thuẫn của đạo quân Quan Đông (Nhật Bản). Năm 1942, Park tốt nghiệp loại xuất sắc và được chọn để đưa sang Nhật để tu nghiệp sĩ quan tại Học viện Quân sự Hoàng gia. Park được các giảng viên Nhật Bản đánh giá là một quân nhân tài năng. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc (xếp thứ 3 trong lớp học, được trao tặng cho chiếc đồng hồ bằng vàng của vua Phổ Nghi), Park nhận quân hàm Trung úy trong Sư đoàn Bộ binh thứ 8 của quân đội Mãn Châu với biệt danh Okamoto Minoru.[8] Ông phục vụ trong đội hình này cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai rồi về đầu quân cho lực lượng vũ trang của miền Nam Triều Tiên. Tuy nhiên, chỉ tới năm 1948, Park Chung-hee đã bị loại khỏi quân đội Nam Triều Tiên do những nghi ngờ rằng ông tham gia một tổ chức cánh tả, tuy nhiên, nghi ngờ này về sau chưa bao giờ được chứng minh.[9]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm từ 1940-1944, Park được đào tạo để trở thành một quân nhân. Với năng lực của mình, sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc, ông trở thành Trung úy phục vụ trong quân đội Hoàng gia Mãn Châu quốc cho tới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.[7]

Quay trở lại Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Park rời bỏ quân ngũ. Ông quay trở lại quê hương mình tại Seonsan, sống tại đó trong vòng 1 năm sau chiến tranh và tham gia vào lực lượng cảnh sát Triều Tiên. Vào tháng 9 năm 1946, Park tham gia vào một chương trình huấn luyện bốn tháng tại Học viện Quân sự Triều Tiên và tốt nghiệp vào tháng 12 với quân hàm Đại úy. Park phục vụ cho quân đội trong vòng hơn một năm trước khi giải ngũ một lần nữa. Thời gian này được đánh giá là quãng thời gian u tối của ông.[8]

Khi cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên, Park Chung-hee lại gia nhập quân đội Hàn Quốc và trở thành một chuyên gia về hậu cần. Là một sĩ quan có khả năng nên ông được chọn đưa đi sang Hoa Kỳ để tham dự một khóa huấn luyện đặc biệt tại Fort Sill (Oklahoma). Khi chiến tranh kết thúc, Park Chung-hee đã mang quân hàm Thiếu tướng.[9]

Khi làm Tổng thống[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Park Chung-hee thực hiện cuộc đảo chính để chấm dứt một nền dân chủ yếu kém và tham nhũng. Hai tháng sau, tại Đại học Quốc gia Seoul ông phát biểu:

Chính sách đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 1965, ông đã ký một hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, bao gồm thanh toán các khoản bồi thường và thực hiện các khoản vay mềm từ Nhật Bản, điều đó dẫn đến sự tăng cường mạnh mẽ trong thương mạiđầu tư giữa Hàn Quốc và Nhật Bản. Vào tháng 7 năm 1966, Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã ký Thỏa thuận về tình trạng lực lượng nhằm thiết lập mối quan hệ bình đẳng hơn giữa hai nước. Với sức mạnh kinh tế ngày càng tăng và sự bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ, mối đe dọa của một cuộc xâm lược thông thường từ Bắc Triều Tiên dường như ngày càng xa vời. Sau đó, chiến tranh Việt Nam leo thang với việc triển khai lực lượng chiến đấu mặt đất vào tháng 3 năm 1965, Hàn Quốc đã gửi Sư đoàn Thủ đô và Lữ đoàn 2 Hải quân vào Nam Việt Nam vào tháng 9 năm 1965, tiếp theo là Sư đoàn Bạch Mã vào tháng 9 năm 1966. Trong suốt những năm 1960, Park đã có những bài phát biểu, trong đó ông đổ lỗi cho Liên minh Anh-Nhật nói chung và Đế quốc Anh nói riêng về việc đã thỏa hiệp để cho Nhật Bản xâm lược Hàn Quốc.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Park Chung-hee (thứ ba từ trái sang) tại Hội nghị SEATO năm 1966 diễn ra tại Philippines.

Mặt khác, theo yêu cầu của Hoa Kỳ cùng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng hòa, Park Chung-hee đã điều động hơn 300.000 binh lính tham chiến tại Việt Nam, đây là số lượng lính tham chiến nhiều thứ hai tại Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.[11] Lý do của việc tham chiến của quân đội Hàn Quốc nhằm mục đích duy trì mối quan hệ đồng minh thân cận giữa Hàn Quốc và Mỹ, giúp Mỹ ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản theo học thuyết Domino tại Đông Á đồng thời nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên chính trường quốc tế[12]. Tháng 1 năm 1965, khi đề xuất triển khai quân đội được Quốc hội thông qua với 106 phiếu thuận và 11 phiếu chống[13], Park tuyên bố rằng "đây chính là thời điểm Hàn Quốc chuyển từ vị thế bị động sang vai trò chủ động đối với các vấn đề mang tính quốc tế".[14]

Bên cạnh những lý do chính trị, việc tham chiến của Hàn Quốc cũng được cho là xuất phát từ động cơ tài chính. Quân đội Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam sẽ được chi trả lương bổng bởi Chính quyền liên bang Hoa Kỳ, đồng thời Mỹ sẽ viện trợ kinh tế nhiều hơn cho họ. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc khoảng 10 tỷ đô la Mỹ (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946 tới năm 1978. Trong đó nhiều nhất là trong giai đoạn 1965-1972, khi Hàn Quốc cử lính sang Việt Nam để đánh thuê cho Mỹ: chỉ riêng trong 8 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD viện trợ của Mỹ (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017), nhiều gấp 3 lần mức viện trợ trong giai đoạn trước. Trong hai năm đầu (1965-1966), thu nhập từ việc đánh thuê cho Mỹ chiếm 40% thu nhập ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả cho rằng số tiền có được từ cuộc chiến chiếm từ 7-8% GDP của Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.[15] Số tiền đánh thuê được chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống JohnsonNixon.[16]

Ước tính có hơn 5.000 binh lính Hàn Quốc đã tử trận và khoảng 11.000 lính khác bị thương tật trong cuộc chiến này[17][18]. Đội quân này cũng gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ thảm sát thường dân Việt Nam và những người bị nghi ngờ là du kích, cán bộ Việt Cộng khi tham chiến và đã bỏ lại nơi đây hàng ngàn đứa con lai sau khi rời đi (Hàn Quốc thống kê lính của họ đã giết tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam, bao gồm cả dân thường và quân du kích).[19]

Chính sách kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Park cùng với Thủ tướng Willy BrandtTây Đức, năm 1964.
Park Chung-hee tham quan cầu Cheonho, Seoul vào ngày 5 tháng 7 năm 1976.

Một trong những mục tiêu chính của Park là chấm dứt đói nghèo của Hàn Quốc và đưa đất nước từ nền kinh tế thuộc thế giới thứ ba lên nền kinh tế thuộc thế giới thứ nhất thông qua các phương pháp của chủ nghĩa nhà nước và công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu.[20] Sử dụng kinh nghiệm của Liên Xô cùng các kế hoạch 5 năm của chính quyền Xô viết vốn đã rất thành công trước đó làm hình mẫu, Park đưa ra Kế hoạch 5 năm đầu tiên vào năm 1962 bằng cách tuyên bố thành phố Ulsan là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt".[21] Park tập trung vào công nghiệp chế biến chế tạo, đặc biệt là công nghiệp nặng; tăng cường tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng để có vốn đầu tư vào công nghiệp.[22] Ngay sau đó, Hyundai - một trong những Chaebol lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh tay tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này trở thành nơi đặt các nhà máy sản xuất công nghiệp lớn nhất của mình.[21] Tại khu vực nông thôn, Park phát động Phong trào Nông thôn Mới nhằm thực thi các chính sách phát triển nông thôn. Phong trào này tập trung vào việc cải thiện các điều kiện sống cơ bản và môi trường bằng việc việc xây dựng cơ sở hạ tầng mới ở nơi đây, gia tăng thu nhập cho nông dân với sự hỗ trợ của nhà nước cho các cộng đồng làng xã và hợp tác xã.[23] Ông cũng tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng đường cao tốc Gyeongbu Highway.[24]

Park là nhân vật đóng vai trò nòng cốt trong sự phát triển của Con Hổ kinh tế Hàn Quốc bằng cách chuyển trọng tâm sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Khi ông lên nắm quyền vào năm 1961, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ ở mức hơn 80 đô la Mỹ. Bắc Triều Tiên khi đó có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn trên bán đảo do có lịch sử phát triển các ngành công nghiệp nặng sớm hơn, tập trung vào một số lĩnh vực như sản xuất điện và hóa chất, đồng thời, miền Bắc cũng nhận được một lượng lớn viện trợ kinh tế, kỹ thuật và tài chính nhận được từ các nước thuộc khối cộng sản khác, chẳng hạn như Liên Xô, Đông Đức, Đông ÂuTrung Quốc.

Một trong những cải cách của Park là cung cấp điện trong đủ 24 giờ vào năm 1964, đây là một thay đổi lớn vì các nhà máy và doanh nghiệp trước đây chỉ được cung cấp điện trong vài giờ mỗi ngày.[21] Với Kế hoạch 5 năm lần thứ hai vào năm 1967, Park đã thành lập Khu công nghiệp Kuro ở phía tây nam Seoul và thành lập Công ty Gang thép Pohang thuộc sở hữu nhà nước để cung cấp thép giá rẻ cho các Chaebol, những người đang thành lập các nhà máy ô tô và đóng tàu đầu tiên ở Hàn Quốc.[21] Phản ánh khuynh hướng chủ nghĩa nhà nước của mình, chính quyền Park đã thưởng cho những Chaebol đạt được thành công trong mục tiêu của họ theo Kế hoạch 5 năm với các khoản vay đi kèm điều khoản dễ trả như cắt giảm thuế, lãi suất, cấp phép đồng thời đơn giản hóa các thủ tục để Chaebol được nhận trợ cấp dễ dàng.[25]

Từ cuối những năm 1960 trở đi, người Hàn Quốc đã nói về bản chất "Bạch tuộc" của các Chaebol khi họ bắt đầu vươn các "xúc tu" của mình sang tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.[25] Một số Chaebol thành công như LGSamsung đã học theo mô hình của các Zaibatsu Nhật Bản trong khi những người khác như Hyundai thì được thành lập ngay sau khi kết thúc sự cai trị của người Nhật - tất cả về sau đều trở thành các công ty, tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh, nổi tiếng tầm cỡ thế giới.[25] Ví dụ như Hyundai, vốn khởi đầu là một công ty vận tải chuyển hàng cho quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên và sau đó là chiến tranh Việt Nam, đã nhanh chóng thống trị ngành xây dựng vào những năm 1960 và sang đến năm 1967 thì bắt đầu mở cửa nhà máy sản xuất ô tô đầu tiên, lắp ráp, chế tạo ô tô theo khuôn mẫu của các thương hiệu xe hơi Mỹ như Ford; nhưng đồng thời cũng bắt đầu tự nội địa hóa chuỗi cung ứng để có thể tiến tới tự phát triển, sản xuất các mẫu xe hơi cho riêng mình dưới sự trợ giúp đắc lực của chính phủ cùng sự chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, thiết kế đến từ các hãng xe hơi hàng đầu thế giới thời ấy như Ford (Mỹ), British Leyland (Anh Quốc) và Mitsubishi (Nhật Bản).[26][25] Đến năm 1970, Hyundai tiếp tục hoàn thành việc xây dựng đường cao tốc Gyeongbu nối Seoul với Pusan - nhanh chóng trở thành một trong những đường cao tốc bận rộn nhất của Hàn Quốc[27] và tới năm 1975 thì hoàn tất sản xuất thành công Hyundai Pony - chiếc xe hơi đầu tiên được thiết kế và lắp ráp hoàn toàn bởi các kỹ sư của chính hãng này, trở thành chiếc ô tô sản xuất nội địa hàng loạt cũng như xuất khẩu đầu tiên của người Hàn.[25][26] Kyeongseong Precision Industry (tiền thân của Kia Motors sau này) hợp tác với Mazda (Nhật Bản) còn Dong-A (SsangYong ngày nay) thì dựa trên các mẫu xe Jeep[28] để lắp ráp ô tô cho thị trường trong nước.[29] Bên cạnh việc sản xuất ô tô và xây dựng, Hyundai còn mở rộng sản xuất, kinh doanh sang nhiều lĩnh vực khác như: đóng tàu, xi măng, hóa chất, điện tử,... và cuối cùng thì trở thành một trong những tập đoàn đa ngành lớn nhất trên thế giới hiện nay.[30]

Một dấu hiệu khác cho thấy sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc là vào năm 1969 là có 200.000 máy truyền hình đang hoạt động ở Hàn Quốc và đến năm 1979 thì đã có sáu triệu máy truyền hình hoạt động ở nước này.[30] Năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV thì vào năm 1979, bốn trong số năm gia đình Hàn Quốc sở hữu một chiếc.[30] Tuy nhiên, tất cả các máy truyền hình ở Hàn Quốc đều có màu đen và trắng và truyền hình màu không được nhập khẩu vào thị trường Hàn Quốc cho đến những năm 1984.[31] Phản ánh sự phát triển của quyền sở hữu TV, Hệ thống phát thanh truyền hình nhà nước (KBS) thuộc sở hữu nhà nước bắt đầu sản xuất nhiều chương trình hơn, trong khi tập đoàn khu vực tư nhân như MBC bắt đầu hoạt động vào năm 1969.[32] Trong thời đại Yusin, các sản phẩm truyền hình đã bị kiểm duyệt nghiêm ngặt với những yêu cầu, quy định, điều lệ khắt khe, ví dụ như những người đàn ông có mái tóc dài thì sẽ bị cấm xuất hiện trên TV, nhưng, những tác phẩm nghệ thuật phá cách như vở Opera Xà phòng - đã trở nên cực kỳ phổ biến đối với khán giả đại chúng cũng như trở thành một hiện tượng văn hóa trong những năm 1970.[31]

Ngành công nghiệp Hàn Quốc cũng chứng kiến ​​sự phát triển vượt bậc trong thời kỳ lãnh đạo của Park, sự hợp tác giữa chính phủ và các doanh nghiệp trong việc mở rộng xuất khẩu của quốc gia đã giúp dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của một số công ty Hàn Quốc - tạo tiền đề cho các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ ngày nay. Park cũng tạo ra các cơ quan phát triển kinh tế như:[33]

  • Ban kế hoạch kinh tế (EPB)
  • Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI)
  • Bộ Tài chính (MoF)

Thế nhưng, sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh to lớn của tầng lớp lao động, chính phủ không công nhận mức lương tối thiểu hoặc quy định ngày nghỉ hàng tuần, áp đặt thời gian làm việc tự do vì lợi ích của họ và thời gian làm việc luôn luôn là 12 tới 14 giờ một ngày. Ngoài ra, công đoàn và các hành động phản kháng tập thể đều bị cấm đoán, đàn áp.[34] Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng từ Tổng thống cho đến dân chúng. Người dân làm việc nặng nhọc và triền miên nhưng sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê. Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày, điều kiện lao động kém, tiền lương rất thấp. Những sự phản kháng tự phát của công nhân, nông dân hoặc của dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về kinh tế của tờ Time (Mỹ) về sau nhận định: "Chế độ Park Chung Hee đã thực hiện quyền kiểm soát nhà nước đối với nền kinh tế một cách tàn bạo vượt xa cả con quỷ Sahashi".[35]

Một số nhà phân tích cho rằng Park Chung Hee có những chính sách và tư tưởng rất giống với nhà độc tài Liên Xô Stalin như việc kế hoạch hóa nền kinh tế, thanh lọc mạnh tay những kẻ tham nhũng, hạn chế chi tiêu để tiết kiệm vốn cho việc xây dựng các nhà máy quy mô lớn, phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành công nghiệp quan trọng như luyện kim, cơ khí, hóa chất, đóng tàu,... Cùng với việc xây dựng các hợp tác xã tại nông thôn để thực hiện những chính sách phát triển nông nghiệp và loại trừ ảnh hưởng của phe đối lập cũng như tạo ra lực lượng quần chúng đông đảo để ủng hộ cho chính quyền nhà nước.[36][37]

Bị ám sát[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc bắn chết sau một bữa tiệc tại một nhà an toàn thuộc Nhà XanhGungjeong-dong, Jongno-gu, Seoul. Kim cũng giết chết vệ sĩ trưởng của Park, Cha Ji-chul. Các sĩ quan KCIA khác sau đó đã đi đến các phần khác của tòa nhà bắn chết thêm bốn vệ sĩ của tổng thống. Kim và nhóm của ông sau đó đã bị bắt bởi những người lính dưới quyền Tham mưu trưởng Quân đội Hàn Quốc. Không rõ đây là hành động tự phát của một cá nhân hay một phần của cuộc đảo chính đã được sắp xếp trước của cơ quan tình báo. Kim tuyên bố rằng Park là một trở ngại cho nền dân chủ và hành động của anh ta là vì động cơ yêu nước. Người đứng đầu cuộc điều tra, Chun Doo-Hwan, đã bác bỏ tuyên bố của Kim và kết luận rằng Kim đã hành động để bảo vệ quyền lực của chính mình.[38]

Park, người được cho là một Phật tử,[2] đã được tiến hành tổ chức lễ tang cấp quốc gia đầu tiên của Hàn Quốc vào ngày 3 tháng 11 tại Seoul. Ông được chôn cất với đầy đủ những nghi thức, danh dự cho một quân nhân tại Nghĩa trang Quốc gia Seoul.[39] Hơn 2 triệu người Hàn Quốc đưa tang Park[40]. Động cơ giết Park của Kim Jae-gyu vẫn chưa rõ ràng, bởi ông ta cùng đồng đảng đã nhanh chóng bị xử tử bằng hình thức treo cổ vào ngày 24 tháng 5 năm 1980.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước nữa, mà vươn lên trở thành một trong những con Rồng của châu Á. Về mặt quân sự, ông thực hiện chính sách liên minh chặt chẽ với Mỹ, phái quân sĩ sang chiến đấu tại chiến trường miền Nam Việt Nam cùng với quân đội Hoa Kỳ. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền, ông đã thực hiện nhiều chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản, những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi trong tất cả các cơ quan, trường học. Điều này đã dẫn đến việc ông bị ám sát vào năm 1979, do giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc (NIS) thực hiện. Dù Park Chung Hee đã ra lệnh không cho phép phụ nữ mặc váy ngắn khi đi trên phố, nhưng về đêm ông thường dự các buổi tiệc tùng cùng những phụ nữ trẻ tuổi. Năm 1999, ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người châu Á tiêu biểu của thế kỷ 20.[3] Ông vừa là một vị Tổng thống được người dân Hàn Quốc mến mộ nhưng đồng thời cũng bị chỉ trích như một nhà lãnh đạo độc tài tàn bạo.[41]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà cũ của Park vào tháng 2 năm 2010.
  • Cha: Phác Thành Bân (박성빈)(1871 - 1938)
  • Mẹ: Bạch Nam Nghĩa (백남의)(1872 - 1949)
  • Phu nhân: Lục Anh Tu (육영수)(1925 - 1974) kết hôn năm 1950
  • Trưởng nữ: Phác Cận Huệ (박근혜)(1952 -)
  • Thứ nữ: Phác Cận Lịnh (박근령)(1954 - )
  • Trưởng tử: Phác Chí Vãn (박지만)(1958 - )

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Han, Yong-sup (2011). “The May Sixteenth Military Coup”. The Park Chung-hee Era: The Transformation of South Korea. Harvard University Press. tr. 36. ISBN 9780674058200.
  2. ^ a b Chambers, John H. (2008). Everyone's History. United States of America: Author Solutions. tr. 698. ISBN 978-1436347136.
  3. ^ a b NISID HAJARI. “TIME 100: AUGUST 23-30, 1999 VOL. 154 NO. 7/8: Asians of the Century - A Tale of Titans”. edition.cnn.com.
  4. ^ Salmon, Andrew (31 tháng 7 năm 2017). “Was Park Chung-hee a dictator?”. www.koreatimes.co.kr. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  5. ^ “[한국갤럽 여론조사] '나라 잘 이끈 대통령'에 국민 44% "박정희". news.kmib.co.kr.
  6. ^ “The Encyclopedia of the Cold War: A Political, Social, and Military History: Park Chung Hee (1917–1979)”. American Broadcasting Company. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013.
  7. ^ a b “Park Chung Hee”.
  8. ^ a b c “Park Chung Hee Biography”.
  9. ^ a b c “Nghiên cứu lịch sử_Các đời Tổng thống Hàn Quốc”.
  10. ^ Hàn Quốc: Con đường trở thành đất nước thịnh vượng, Thông tin đối ngoại số 36, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 02/04/2019
  11. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 248 (Homa & Sekey, 2006)
  12. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 258 (Homa & Sekey, 2006)
  13. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 253 (Homa & Sekey, 2006)
  14. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 260 (Homa & Sekey, 2006)
  15. ^ http://en.asaninst.org/contents/issue-brief-no-53-a-perspective-on-koreas-participation-in-the-vietnam-war/
  16. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012. Liên kết ngoài trong |nhà xuất bản= (trợ giúp)
  17. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  18. ^ Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner
  19. ^ “[책갈피 속의 오늘]1965년 전투병 베트남 파병 의결”.
  20. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  21. ^ a b c d Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 231.
  22. ^ The political economy of industrial policy in Korea, Ha-Joon Chang, Cambridge Journal of Economics, Vol. 17, No. 2 (June 1993), pp. 131-157, Oxford University Press
  23. ^ “South Korea - The Agricultural Crisis of the Late 1980s”. www.countrydata.com. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009.
  24. ^ A Road to Modernization and Unification: The Construction of the Gyeongbu Highway in South Korea, CHIHYUNG JEON, Technology and Culture, Vol. 51, No. 1 (January 2010), pp. 55-79, The Johns Hopkins University Press
  25. ^ a b c d e Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 232.
  26. ^ a b Mai Huyền (13 tháng 8 năm 2021). “Hyundai Pony – chiếc ôtô đầu tiên của người Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  27. ^ Hà Thu (15 tháng 7 năm 2019). “Gyeongbu - cao tốc được làm bằng ý chí của người Hàn”. vnexpress.net. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2020.
  28. ^ “SsangYong Motor”. www.ssangyong.by. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018.
  29. ^ Trường Sơn (27 tháng 11 năm 2019). “Các nước phát triển công nghiệp ôtô thế nào? - Kỳ 3: Cú tăng tốc của ôtô Hàn”. tuoitre.vn.
  30. ^ a b c Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  31. ^ a b Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 245.
  32. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 pages 244-245.
  33. ^ “San José State University Department of Economics”. Sjsu.edu. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
  34. ^ “CADTM - À l'heure d'un regain de tension avec la Corée du Nord, retour sur la Corée du Sud et le miracle démasqué”. www.cadtm.org.
  35. ^ Michael Schuman (2009). Sđd. Tr. 31.
  36. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era: The Shaping of Modernity in the Republic of Korea, page 189-190, Pyŏng-chʻŏn Yi, Homa & Sekey Books
  37. ^ Vai trò của hợp tác xã ở một số nước trên thế giới, Liên minh htx Việt Nam, 09 Tháng 9 2014
  38. ^ “1979: South Korean President killed”. BBC News. ngày 26 tháng 10 năm 1994. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
  39. ^ “World: A Very Tough Peasant”. TIME. ngày 5 tháng 11 năm 1979. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012.
  40. ^ Park Chung-hee: 18 năm biến Hàn Quốc từ nghèo đói thành rồng châu Á, Báo Thanh niên, 02/06/2021
  41. ^ Lam Thu (ngày 15 tháng 11 năm 2015). “Sách về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
Tiền nhiệm:
Yun Bo Seon
Tổng thống Hàn Quốc
(1962 - 1979)
Kế nhiệm:
Choi Kyu-hah