Park Chung Hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Park Chung-hee
박정희
Park Chung hee.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 24 tháng 3, 1962 – 26 tháng 10, 1979
Tiền nhiệm Yun Bo-seon
Kế nhiệm Choi Kyu-hah
Chủ tịch Hội đồng tối cao tái thiết Quốc gia
Nhiệm kỳ 3/7/1961 – 17/12/1963
Phó Chủ tịch từ 16 tháng 5 năm 1961
Tiền nhiệm Chang Do-yong
Kế nhiệm Hủy bỏ
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Dân chủ Cộng hòa
Sinh 14 tháng 11, 1917(1917-11-14)
Gumi, Gyeongsang Bắc, Triều Tiên thuộc Nhật
Mất 26 tháng 10, 1979 (62 tuổi)
Nhà Xanh, Jongno-gu, Seoul, Hàn Quốc
Alma mater Trường Sĩ quan Lục quân (Đế quốc Nhật Bản)
MIA
Tôn giáo Phật giáo
Vợ Yuk Young-soo
Con cái Park Geun-hye
Park Seo-yeong
Park Ji-man
Chữ ký Park Chung-hee signature.svg
Binh nghiệp
Phục vụ  Đế quốc Nhật Bản
 Mãn Châu quốc
 Hàn Quốc
Thuộc  Đế quốc Nhật Bản Lục quân Đế quốc Nhật Bản (1942-1945)
 Mãn Châu quốc Lục quân Mãn Châu (1941-1945)
 Hàn Quốc Lục quân Đại Hàn Dân Quốc (1945-1963)
Năm tại ngũ 1942–1963
Cấp bậc 대장 견장.JPG Đại tướng
Tham chiến Chiến tranh Trung-Nhật
Thế chiến 2
Tên người Triều Tiên
Bak Jeonghui
Hanja
Bút danh
Hangul 중수
Hanja
Romaja quốc ngữ Jungsu
McCune–Reischauer Chungsu

Park Chung Hee hay Bak Jeonghui (Chosŏn'gŭl: 박정희; Hanja: 朴正熙; Hán-Việt: Phác Chính Hy) (30/9 hoặc 14/11/1917 – 26/10/1979) là một nhà hoạt động chính trị người Đại Hàn, Đại tướng, Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Ông trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: từ ngày 17 tháng 12 năm 1963 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc. Park là nhân vật nhận được nhiều quan điểm trái chiều cũng như gây tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Ông là người đã dẫn dắt Hàn Quốc tạo ra "Điều kỳ diệu trên sông Hán", một thời đại chứng kiến sự phát triển thần tốc về kinh tế cho tới năm 1979, làm thay đổi cơ bản Hàn Quốc, biến Quốc gia này trở thành một trong những con hổ về kinh tế của châu Á cũng như thế giới. Nhưng đồng thời, ông cũng bị chỉ trích và lên án như một nhà độc tài, xâm phạm quyền tự do, thủ tiêu dân chủ và quyền con người trong quá trình điều hành đất nước

Thiếu thời và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Park Chung Hee sinh ngày 30 tháng 9 hoặc 14 tháng 11 năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại Seonsan, một thị trấn nhỏ ở Gumi, bắc Gyeongsang, Triều Tiên. Thời kỳ này, Triều Tiên nằm dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản. Cha ông là Park Sung-bin, Mẹ là Bek Nam-eui. Ông là con út trong gia đình có 7 anh chị em[1]. Những ghi chép về thuở thiếu thời mô tả ông là người có vóc dáng hơi nhỏ, gầy, và có khuynh hướng thích sự đơn độc. Trong những năm học phổ thông, Park học rất giỏi. Thầy cô của Park đã tiến cử ông tới học tại trường Cao đẳng Sư phạm Daegu, một ngôi trường dành cho những học sinh nghèo nhưng xuất sắc và có ước mơ trở thành giáo viên tiểu học. Park học tại đây 5 năm (4/1932-3/1937)[2]. Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học ở Trường Tiểu học Mungyeong.

Quá trình trưởng thành của nhà độc tài tương lai trùng với thời gian Nhật Bản bắt đầu xâm chiếm Trung Quốc, bắt đầu từ vụ Mãn Châu Lý năm 1931 và gia tăng căng thẳng lên đỉnh điểm dẫn tới bùng nỗ chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai năm 1937[3]. Điều này đã tạo ra tiền đề cho sự phát triển con đường binh nghiệp của ông sau này cũng như con đường biến ông trở thành vị Tổng thống với nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại.

Sau hai năm giảng dạy, tháng 4/1940, do không còn hứng thú với việc giảng dạy, đồng thời bị thu hút bởi các ý niệm về quân đội, ông quyết định vào học tại Học viện Quân sự Hoàng gia của Mãn Châu quốc, ngôi trường được lập ra bởi sự hậu thuẫn của đạo quân Quan Đông, Nhật Bản. Năm 1942, Park tốt nghiệp loại xuất sắc và được chọn để đưa sang Nhật tu nghiệp sĩ quan tại Học viện Quân sự Hoàng gia. Park được các giảng viên Nhật Bản đánh giá là một quân nhân tài năng. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc (xếp thứ ba trong lớp học, được trao tặng chiếc đồng hồ vàng của vua Phổ Nghi), Park nhận quân hàm trung úy trong Sư đoàn Bộ binh thứ 8 của quân đội Mãn Châu với biệt danh Okamoto Minoru[2]. Ông phục vụ trong đội hình này cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai rồi về đầu quân cho lực lượng vũ trang của miền nam Triều Tiên. Tuy nhiên, chỉ tới năm 1948, Park Chung-hee đã bị loại khỏi quân đội Nam Triều Tiên do những nghi ngờ rằng ông tham gia một tổ chức cánh tả (?!). Nghi ngờ này về sau chưa từng bao giờ được chứng minh…[3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm từ 1940-1944, Park được đào tạo để trở thành một quân nhân. Với năng lực của mình, sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc, ông trở thành trung úy phục vụ cho quân đội Hoàng gia Mãn Châu cho tới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.[1]

Quay trở lại Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh vào ngày 2/9/1945, Park rời bỏ quân ngũ. Ông quay trở lại quê hương mình Seonsan, sống tại đó trong vòng 1 năm sau chiến tranh và tham gia vào lực lượng cảnh sát Triều Tiên. Vào tháng 9 năm 1946, Park tham gia vào một chương trình huấn luyện bốn tháng tại Học viện Quân sự Triều Tiên và tốt nghiệp vào tháng 12 với quân hàm Đại úy. Park phục vụ cho quân đội trong vòng hơn một năm trước khi giải ngũ một lần nữa. Thời gian này được đánh giá là quãng thời gian u tối của ông.[2]

Khi cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên, Park Chung-hee lại gia nhập quân đội Hàn Quốc và trở thành một chuyên gia về hậu cần. Là một sĩ quan có khả năng nên ông được chọn đưa đi sang Mỹ để tham dự một khóa huấn luyện đặc biệt tại Fort Sill (Oklahoma). Khi chiến tranh kết thúc, Park Chung-hee mang quân hàm thiếu tướng.[3]

Tổng thống Park Chung-Hee (thứ ba từ trái sang) tại Hội nghị SEATO năm 1966 diễn ra tại Philippines.

Khi làm Tổng thống[sửa | sửa mã nguồn]

Theo yêu cầu của Hoa Kỳ, Park đã điều động gần 320.000 lính Nam Hàn tham chiến tại Việt Nam; đây là số lượng lính tham chiến nhiều thứ hai tại Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.[4] Lý do của việc tham chiến của quân đội Nam Hàn nhằm mục đích duy trì mối quan hệ đồng minh giữa Hàn Quốc và Mĩ, ngăn ngừa sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản theo học thuyết Domino tại Đông Á [5] và nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên chính trường quốc tế. Tháng 1 năm 1965, khi đề xuất triển khai quân đội được Quốc hội thông qua với 106 phiếu thuận và 11 phiếu chống,[6] Park tuyên bố rằng "đây chính là thời điểm Hàn Quốc chuyển từ vị thế bị động sang vai trò chủ động đối với các vấn đề quốc tế."[7]

Bên cạnh những lý do chính trị, việc tham chiến của Hàn Quốc cũng được cho là xuất phát từ động cơ tài chính. Quân đội Hàn Quốc được chi trả bởi chính phủ liên bang Hoa Kỳ và số tiền này, khoảng 10 tỷ đô la Mĩ, được chuyển thẳng đến chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức trợ cấp, cho vay, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các tổng thống JohnsonNixon.[8]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước nữa, mà vươn lên trở thành một trong những con hổ của châu Á. Về mặt quân sự, ông thực hiện chính sách liên minh với Mỹ, và phái quân sĩ sang chiến đấu tại chiến trường Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học. Điều này đã dẫn đến Vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, do giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc thực hiện. Dù Park Chung Hee đã ra lệnh không cho phép phụ nữ mặc váy ngắn khi đi trên phố phường, về đêm ông thường dự tiệc cùng những phụ nữ trẻ tuổi. Năm 1999, ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người châu Á tiêu biểu của thế kỉ 20. Ông vừa là một vị Tổng thống được nhân dân Đại Hàn mến mộ nhưng đồng thời bị chỉ trích như một lãnh đạo độc tài.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Phác Thành Bân (박성빈)(1871 - 1938)
  • Mẹ: Bạch Nam Nghĩa (백남의)(1872 - 1949)
  • Phu nhân: Lục Anh Tu (육영수)(1925 - 1974) kết hôn năm 1950
  • Trưởng nữ: Phác Cận Huệ (박근혜)(1952 -)
  • Thứ nữ: Phác Cận Lịnh (박근령)(1954 - )
  • Trưởng tử: Phác Chí Vãn (박지만)(1958 - )

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Park Chung Hee”. 
  2. ^ a ă â “Park Chung Hee Biography”. 
  3. ^ a ă â “Nghiên cứu lịch sử_Các đời Tổng thống Hàn Quốc”. 
  4. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 248 (Homa & Sekey, 2006)
  5. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 258 (Homa & Sekey, 2006)
  6. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 253 (Homa & Sekey, 2006)
  7. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 260 (Homa & Sekey, 2006)
  8. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.