Park Chung Hee

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Phác Chính Hy)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hangugeo-Chosonmal.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Park Chung-hee
박정희
Park Chung-hee 1963's.png
Tổng thống Hàn Quốc
Nhiệm kỳ
17 tháng 12 năm 196326 tháng 10 năm 1979
&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000313.000000313 ngày
Quyền: 23 tháng 3 năm 196217 tháng 12 năm 1963
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000269.000000269 ngày
Thủ tướng Choi Tu-son
Chung Il-kwon
Paik Too-chin
Kim Jong-pil
Choi Kyu-hah
Tiền nhiệm Yun Posun
Kế nhiệm Choi Kyu-hah (quyền)
Chủ tịch Hội đồng Tái thiết Quốc gia Tối cao
Nhiệm kỳ
3 tháng 7 năm 196117 tháng 12 năm 1963
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000167.000000167 ngày
Phó Chủ tịch từ 16 tháng 5 năm 1961
Tiền nhiệm Chang Do-yong
Kế nhiệm Chức vụ bị bãi bỏ
Thông tin cá nhân
Sinh 14 tháng 11 năm 1917
Gumi, Triều Tiên thuộc Nhật
(ngày nay là Gumi,  Hàn Quốc)
Mất 26 tháng 10 năm 1979 (61 tuổi)
Seoul,  Hàn Quốc
Nơi an nghỉ Nghĩa trang Quốc gia Seoul
Đảng chính trị Đảng Dân chủ Cộng hoà
Đảng khác Đảng Công nhân (1946-1948)[1]
Vợ, chồng Kim Ho-nam (k. 1936–1950)
Yuk Young-soo (k. 1950–1974)
Con cái Park Jae-ok
Park Geun-hye
Park Geun-ryoung
Park Ji-man
Alma mater Học viện Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Học viện Quân sự Hàn Quốc
Tôn giáo Phật giáo[2]
Chữ ký
Phục vụ trong quân đội
Thuộc Flag of Manchukuo.svg Mãn Châu Quốc
 Hàn Quốc
Phục vụ War Ensign of Manchukuo.svg Lục quân Đế quốc Mãn Châu (1944–1945)
 Lục quân Đại Hàn Dân Quốc (1945–1963)
Năm tại ngũ 1944–1963
Cấp bậc Đại tướng
Tham chiến Chiến tranh Trung-Nhật
Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Tên tiếng Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Bak Jeonghui
McCune–Reischauer Pak Chŏnghŭi
Bút danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Jungsu
McCune–Reischauer Chungsu

Park Chung Hee hay Bak Jeonghui (Chosŏn'gŭl: 박정희; Hanja: 朴正熙; Hán-Việt: Phác Chính Hy) (14 tháng 11 năm 191726 tháng 10 năm 1979) là một nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc, Đại tướng, Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Park Chung Hee trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: từ ngày 17 tháng 12 năm 1963 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc.

Park là nhân vật nhận được nhiều quan điểm trái chiều cũng như gây tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Ông là người đã dẫn dắt Hàn Quốc tạo ra "Kỳ tích sông Hàn", một thời đại chứng kiến sự phát triển thần tốc về kinh tế cho tới năm 1979, làm thay đổi cơ bản Hàn Quốc, biến Quốc gia này trở thành một trong những con Rồng về kinh tế của châu Á cũng như thế giới. Nhưng đồng thời, ông cũng bị chỉ trích và lên án như một nhà độc tài, xâm phạm quyền tự do, thủ tiêu dân chủquyền con người trong quá trình điều hành đất nước.

Thiếu thời và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Park mặc đồng phục Mãn châu quốc.
Nhà cũ của Park vào tháng 2 năm 2010.

Park Chung Hee sinh ngày 14 tháng 11 năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại Seonsan, một thị trấn nhỏ ở Gumi, bắc Gyeongsang, Triều Tiên, dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản.[3] Cha ông là Park Sung-bin, Mẹ là Bek Nam-eui. Ông là con út trong gia đình có 7 anh chị em.[4] Những ghi chép về thuở thiếu thời mô tả ông là người có vóc dáng hơi nhỏ, gầy, và có khuynh hướng thích sự đơn độc. Trong những năm học phổ thông, Park học rất giỏi. Thầy cô của Park đã tiến cử ông tới học tại trường Cao đẳng Sư phạm Daegu, một ngôi trường dành cho những học sinh nghèo nhưng xuất sắc và có ước mơ trở thành giáo viên tiểu học. Park học tại đây 5 năm (4/1932-3/1937).[5] Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học ở Trường Tiểu học Mungyeong.

Quá trình trưởng thành của Park trùng với thời gian Nhật Bản bắt đầu xâm chiếm Trung Quốc, bắt đầu từ vụ Mãn Châu Lý năm 1931 và gia tăng căng thẳng lên đỉnh điểm dẫn tới bùng nỗ chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai năm 1937.[6] Điều này đã tạo ra tiền đề cho sự phát triển con đường binh nghiệp của ông sau này cũng như con đường biến ông trở thành vị Tổng thống với nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại.

Sau hai năm giảng dạy, tháng 4/1940, do không còn hứng thú với việc giảng dạy, đồng thời bị thu hút bởi các ý niệm về quân đội, ông quyết định vào học tại Học viện Quân sự Hoàng gia của Mãn Châu quốc, ngôi trường được lập ra bởi sự hậu thuẫn của đạo quân Quan Đông, Nhật Bản. Năm 1942, Park tốt nghiệp loại xuất sắc và được chọn để đưa sang Nhật tu nghiệp sĩ quan tại Học viện Quân sự Hoàng gia. Park được các giảng viên Nhật Bản đánh giá là một quân nhân tài năng. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc (xếp thứ ba trong lớp học, được trao tặng chiếc đồng hồ vàng của vua Phổ Nghi), Park nhận quân hàm trung úy trong Sư đoàn Bộ binh thứ 8 của quân đội Mãn Châu với biệt danh Okamoto Minoru.[5] Ông phục vụ trong đội hình này cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai rồi về đầu quân cho lực lượng vũ trang của miền nam Triều Tiên. Tuy nhiên, chỉ tới năm 1948, Park Chung-hee đã bị loại khỏi quân đội Nam Triều Tiên do những nghi ngờ rằng ông tham gia một tổ chức cánh tả, tuy nhiên, nghi ngờ này về sau chưa bao giờ được chứng minh.[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm từ 1940-1944, Park được đào tạo để trở thành một quân nhân. Với năng lực của mình, sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc, ông trở thành trung úy phục vụ trong quân đội Hoàng gia Mãn Châu quốc cho tới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.[4]

Quay trở lại Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh vào ngày 2/9/1945, Park rời bỏ quân ngũ. Ông quay trở lại quê hương mình Seonsan, sống tại đó trong vòng 1 năm sau chiến tranh và tham gia vào lực lượng cảnh sát Triều Tiên. Vào tháng 9 năm 1946, Park tham gia vào một chương trình huấn luyện bốn tháng tại Học viện Quân sự Triều Tiên và tốt nghiệp vào tháng 12 với quân hàm Đại úy. Park phục vụ cho quân đội trong vòng hơn một năm trước khi giải ngũ một lần nữa. Thời gian này được đánh giá là quãng thời gian u tối của ông.[5]

Khi cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên, Park Chung-hee lại gia nhập quân đội Hàn Quốc và trở thành một chuyên gia về hậu cần. Là một sĩ quan có khả năng nên ông được chọn đưa đi sang Mỹ để tham dự một khóa huấn luyện đặc biệt tại Fort Sill (Oklahoma). Khi chiến tranh kết thúc, Park Chung-hee mang quân hàm thiếu tướng.[6]

Tổng thống Park Chung-Hee (thứ ba từ trái sang) tại Hội nghị SEATO năm 1966 diễn ra tại Philippines.

Khi làm Tổng thống[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sách đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 1965, Công viên đã ký một hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, bao gồm thanh toán các khoản bồi thường và thực hiện các khoản vay mềm từ Nhật Bản, và dẫn đến tăng cường thương mại và đầu tư giữa Hàn Quốc và Nhật Bản. Vào tháng 7 năm 1966, Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã ký Thỏa thuận về tình trạng lực lượng nhằm thiết lập mối quan hệ bình đẳng hơn giữa hai nước. Với sức mạnh kinh tế ngày càng tăng và sự bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ, mối đe dọa của một cuộc xâm lược thông thường từ Triều Tiên dường như ngày càng xa vời. Sau chiến tranh Việt Nam leo thang với việc triển khai lực lượng chiến đấu mặt đất vào tháng 3/1965, Hàn Quốc đã gửi Sư đoàn Thủ đô và Lữ đoàn 2 Hải quân vào Nam Việt Nam vào tháng 9 năm 1965, tiếp theo là Sư đoàn Bạch Mã vào tháng 9 năm 1966. Trong suốt những năm 1960, Park đã có những bài phát biểu, trong đó ông đổ lỗi cho Liên minh Anh-Nhật và Đế quốc Anh nói chung về việc Nhật Bản tiếp quản Hàn Quốc.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo yêu cầu của Hoa Kỳ, Park đã điều động hơn 300.000 lính Nam Hàn tham chiến tại Việt Nam; đây là số lượng lính tham chiến nhiều thứ hai tại Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.[7] Lý do của việc tham chiến của quân đội Nam Hàn nhằm mục đích duy trì mối quan hệ đồng minh thân cận giữa Hàn Quốc và Mĩ, giúp Mỹ ngăn chặn sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản theo học thuyết Domino tại Đông Á [8] và nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên chính trường quốc tế. Tháng 1 năm 1965, khi đề xuất triển khai quân đội được Quốc hội thông qua với 106 phiếu thuận và 11 phiếu chống,[9] Park tuyên bố rằng "đây chính là thời điểm Hàn Quốc chuyển từ vị thế bị động sang vai trò chủ động đối với các vấn đề quốc tế."[10]

Bên cạnh những lý do chính trị, việc tham chiến của Hàn Quốc cũng được cho là xuất phát từ động cơ tài chính. Quân đội Hàn Quốc được chi trả bởi chính phủ liên bang Hoa Kỳ và số tiền này, khoảng 10 tỷ đô la Mĩ, được chuyển thẳng đến chính phủ Hàn Quốc dưới các hình thức trợ cấp, cho vay, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các tổng thống JohnsonNixon.[11]

Chính sách kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]
Xem thêm thông tin: Con hổ kinh tếKỳ tích sông Hán
Park cùng với Willy Brandt ở Tây Đức, 1964

Một trong những mục tiêu chính của Park là chấm dứt đói nghèo của Hàn Quốc, và đưa đất nước từ nền kinh tế thế giới thứ ba lên nền kinh tế thế giới thứ nhất thông qua các phương pháp chủ nghĩa nhà nước.[12] Sử dụng Liên Xô và các kế hoạch năm năm làm mô hình, Park đã đưa ra Kế hoạch năm năm đầu tiên vào năm 1962 bằng cách tuyên bố thành phố Ulsan là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt".[13] chaebol Hyundai đã tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố thành nhà của các nhà máy chính của mình.[13]

Park được cho là đóng vai trò nòng cốt trong sự phát triển của con hổ kinh tế của Hàn Quốc bằng cách chuyển trọng tâm sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Khi ông lên nắm quyền vào năm 1961, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ ở mức 72 đô la Mỹ. Bắc Triều Tiên là sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn trên bán đảo do lịch sử các ngành công nghiệp nặng của miền Bắc như nhà máy điện và hóa chất, và một lượng lớn viện trợ kinh tế, kỹ thuật và tài chính nhận được từ các nước khối cộng sản khác chẳng hạn như Liên Xô, Đông Đức Trung Quốc.

Một trong những cải cách của Park là cung cấp điện trong 24 giờ vào năm 1964, đây là một thay đổi lớn vì các nhà và doanh nghiệp trước đây được cung cấp điện trong vài giờ mỗi ngày.[13] Với Kế hoạch năm năm lần thứ hai vào năm 1967, Park đã thành lập Khu công nghiệp Kuro ở phía tây nam Seoul và thành lập Công ty Gang thép Pohang thuộc sở hữu nhà nước để cung cấp thép giá rẻ cho chaebol , người đang thành lập các nhà máy ô tô và nhà máy đóng tàu đầu tiên ở Hàn Quốc.[13] Phản ánh khuynh hướng chủ nghĩa nhà nước của mình, chính quyền Công viên đã thưởng cho chaebol, những người đã đạt được mục tiêu của họ theo Kế hoạch 5 năm với các khoản vay về các điều khoản dễ trả, cắt giảm thuế, cấp phép và trợ cấp dễ dàng.[14]Từ cuối những năm 1960 trở đi, người Hàn Quốc đã nói về bản chất "bạch tuộc" của chaebol khi họ bắt đầu vươn "xúc tu" của mình sang tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.[14] Một số chaebol thành công như Lucky Goldstar (LG) và Samsung đã quay trở lại thời kỳ Nhật Bản trong khi những người khác như Hyundai được thành lập ngay sau khi kết thúc sự cai trị của Nhật Bản; tất cả sẽ trở thành các công ty nổi tiếng thế giới. [14] Huyndai, khởi đầu là một công ty vận tải chuyển hàng cho Quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên, đã thống trị ngành xây dựng Hàn Quốc vào những năm 1960, và vào năm 1967, đã mở nhà máy ô tô đầu tiên, chế tạo ô tô theo giấy phép cho Ford. [14] Năm 1970, Hyundai đã hoàn thành việc xây dựng đường cao tốc Seoul-Pusan, trở thành một trong những đường cao tốc bận rộn nhất của Hàn Quốc, và vào năm 1975 đã sản xuất Pony, chiếc xe đầu tiên được thiết kế hoàn toàn bởi các kỹ sư của chính nó. [14] Bên cạnh việc sản xuất ô tô và xây dựng, Hyundai chuyển sang đóng tàu, xi măng, hóa chất và điện tử, cuối cùng trở thành một trong những các tập đoàn lớn nhất thế giới. [15]

Một dấu hiệu cho thấy sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc là vào năm 1969, có 200.000 máy truyền hình đang hoạt động ở Hàn Quốc và đến năm 1979 đã có sáu triệu máy truyền hình hoạt động ở Hàn Quốc. [15] Năm 1969, chỉ có 6% gia đình Hàn Quốc sở hữu một chiếc tivi; vào năm 1979, bốn trong số năm gia đình Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV. [15] Tuy nhiên, tất cả các truyền hình ở Hàn Quốc đều có màu đen và trắng, và truyền hình màu không đến Hàn Quốc cho đến năm 1984. [16] Phản ánh sự phát triển của quyền sở hữu TV, Hệ thống phát thanh truyền hình nhà nước (KBS) thuộc sở hữu nhà nước bắt đầu sản xuất nhiều chương trình hơn, trong khi tập đoàn khu vực tư nhân MBC bắt đầu hoạt động vào năm 1969. [17] Trong thời đại Yusin, các sản phẩm truyền hình đã bị kiểm duyệt nghiêm ngặt với, ví dụ, những người đàn ông có mái tóc dài bị cấm xuất hiện trên TV, nhưng vở opera xà phòng đã trở thành một hiện tượng văn hóa trong những năm 1970, trở nên cực kỳ phổ biến. [16]

Ngành công nghiệp Hàn Quốc đã chứng kiến ​​sự phát triển vượt trội dưới sự lãnh đạo của Park. Hợp tác giữa chính phủ và doanh nghiệp trong việc mở rộng xuất khẩu của Hàn Quốc đã giúp dẫn đến sự tăng trưởng của một số công ty Hàn Quốc thành các tập đoàn khổng lồ của Hàn Quốc ngày nay, chaebol. Park cũng tạo ra các cơ quan phát triển kinh tế:

  • Ban kế hoạch kinh tế (EPB)
  • Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI)
  • Bộ Tài chính (MoF)[18]

Sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc tiếp tục với cái giá là sự hy sinh lớn cho tầng lớp lao động: chính phủ không công nhận mức lương tối thiểu hoặc nghỉ hàng tuần, áp đặt thời gian làm việc tự do vì lợi ích của họ và thời gian làm việc là 12 giờ. Ngoài ra, công đoàn và hành động lao động tập thể đều bị cấm.[19]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước nữa, mà vươn lên trở thành một trong những con Rồng của châu Á. Về mặt quân sự, ông thực hiện chính sách liên minh với Mỹ, và phái quân sĩ sang chiến đấu tại chiến trường Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học. Điều này đã dẫn đến Vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, do giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc thực hiện. Dù Park Chung Hee đã ra lệnh không cho phép phụ nữ mặc váy ngắn khi đi trên phố phường, về đêm ông thường dự tiệc cùng những phụ nữ trẻ tuổi. Năm 1999, ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người châu Á tiêu biểu của thế kỉ 20. Ông vừa là một vị Tổng thống được nhân dân Đại Hàn mến mộ nhưng đồng thời cũng bị chỉ trích như một nhà lãnh đạo độc tài.

Những năm cuối đời và bị ám sát[sửa | sửa mã nguồn]

Ám sát[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park đã bị Kim Jae-gyu, giám đốc của Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc bắn chết, sau một bữa tiệc tại một nhà an toàn ở Gungjeong-dong, Jongno-gu, Seoul. Kim cũng giết chết vệ sĩ trưởng của Park, Cha Ji-chul. Các sĩ quan KCIA khác sau đó đã đi đến các phần khác của tòa nhà bắn chết thêm bốn vệ sĩ tổng thống. Kim và nhóm của ông sau đó đã bị bắt bởi những người lính dưới quyền Tham mưu trưởng Quân đội Hàn Quốc. Họ đã bị tra tấn và sau đó bị xử tử. [cần dẫn nguồn] Không rõ đây là hành động đam mê tự phát của một cá nhân hay một phần của cuộc đảo chính đã được sắp xếp trước của cơ quan tình báo. Kim tuyên bố rằng Park là một trở ngại cho nền dân chủ và hành động của anh ta là một trong những người yêu nước. Người đứng đầu cuộc điều tra, Chun Doo-Hwan, đã bác bỏ tuyên bố của mình và kết luận rằng Kim đã hành động để bảo vệ quyền lực của chính mình. [20]

Park, người được cho là một Phật tử,[2] đã được tổ chức lễ tang nhà nước liên tôn đầu tiên của Hàn Quốc vào ngày 3 tháng 11 tại Seoul. Ông được chôn cất với đầy đủ danh dự quân sự tại Nghĩa trang Quốc gia Seoul. [21] Kim Jae-gyu, người có động cơ giết người Park vẫn chưa rõ ràng, đã bị treo cổ vào ngày 24 tháng 5 năm 1980.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Phác Thành Bân (박성빈)(1871 - 1938)
  • Mẹ: Bạch Nam Nghĩa (백남의)(1872 - 1949)
  • Phu nhân: Lục Anh Tu (육영수)(1925 - 1974) kết hôn năm 1950
  • Trưởng nữ: Phác Cận Huệ (박근혜)(1952 -)
  • Thứ nữ: Phác Cận Lịnh (박근령)(1954 - )
  • Trưởng tử: Phác Chí Vãn (박지만)(1958 - )

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Han, Yong-sup (2011). “The May Sixteenth Military Coup”. The Park Chung-hee Era: The Transformation of South Korea. Harvard University Press. tr. 36. ISBN 9780674058200. 
  2. ^ a ă Chambers, John H. (2008). Everyone's History. United States of America: Author Solutions. tr. 698. ISBN 978-1436347136. 
  3. ^ “The Encyclopedia of the Cold War: A Political, Social, and Military History: Park Chung Hee (1917–1979)”. American Broadcasting Company. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ a ă “Park Chung Hee”. 
  5. ^ a ă â “Park Chung Hee Biography”. 
  6. ^ a ă â “Nghiên cứu lịch sử_Các đời Tổng thống Hàn Quốc”. 
  7. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 248 (Homa & Sekey, 2006)
  8. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 258 (Homa & Sekey, 2006)
  9. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 253 (Homa & Sekey, 2006)
  10. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 260 (Homa & Sekey, 2006)
  11. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  13. ^ a ă â b Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 231.
  14. ^ a ă â b c Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 232.
  15. ^ a ă â Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  16. ^ a ă Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 245.
  17. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 pages 244-245.
  18. ^ “San José State University Department of Economics”. Sjsu.edu. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013. 
  19. ^ “CADTM - À l'heure d'un regain de tension avec la Corée du Nord, retour sur la Corée du Sud et le miracle démasqué”. www.cadtm.org. 
  20. ^ “1979: South Korean President killed”. BBC News. 26 tháng 10 năm 1994. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013. 
  21. ^ “World: A Very Tough Peasant”. TIME. 5 tháng 11 năm 1979. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 
Tiền nhiệm:
Yun Bo Seon
Tổng thống Hàn Quốc
(1962 - 1979)
Kế nhiệm:
Choi Kyu-hah