Đặng hoàng hậu (Hán Hòa Đế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hòa Hi Đặng hoàng hậu
和熹鄧皇后
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị 103 - 105
Tiền nhiệm Hiếu Hòa Âm hoàng hậu
Kế nhiệm An Tư Diêm hoàng hậu
Hoàng thái hậu nhà Hán
Tại vị 105 - 121
Tiền nhiệm Chương Đức Đậu thái hậu
Kế nhiệm An Tư Diêm thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Hòa Đế
Tên thật Đặng Tuy (鄧綏)
Thụy hiệu Hòa Hi hoàng hậu (和熹皇后)
Hoàng tộc Nhà Đông Hán
Thân phụ Đặng Huấn
Thân mẫu Âm phu nhân
Sinh 81
Nam Dương
Mất 17 tháng 4, 121
Lạc Dương
An táng Thận lăng (慎陵)

Đặng hoàng hậu (chữ Hán: 鄧皇后; 81 - 121), là Hoàng hậu thứ hai của Hán Hòa Đế Lưu Triệu nhà Đông Hán. Bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính triều đình nhà Hán dưới triều Hán Thương ĐếHán An Đế, được đánh giá là người uyên bác và lễ độ[1].

Đặng thái hậu là chính trị gia cai trị hiệu quả cuối cùng của nhà Đông Hán, vì các Hoàng đếThái hậu của các triều đại sau đều bị cuốn vào việc tranh giành quyền lực và hưởng lạc, khiến chính quyền nhà Hán suy vong. Dưới thời đại của bà, có nhiều cuộc thiên tai, hạn hán và các cuộc giao tranh với Hung Nô, người Khương từ phương Bắc nhưng đều được Đặng thái hậu giải quyết ổn thỏa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa Hi hoàng hậu tên thật là Đặng Tuy (鄧綏), xuất thân trong gia đình quyền thế, chính là dòng họ ĐặngTân Dã, quận Nam Dương (Hà Nam, Trung Quốc). Ông nội bà là Thái phó Cao Mật hầu Đặng Vũ (鄧禹) – công thần khai quốc nhà Đông Hán. Cha bà là Đặng Huấn (鄧訓), được phong làm Hộ Khương giáo úy (護羌校尉). Mẹ bà là Âm phu nhân (阴夫人), cháu gái của Quang Liệt hoàng hậu Âm Lệ Hoa. Trong nhà bà có ba người anh trai là Đặng Chất (鄧騭), Đặng Khôi (鄧悝), Đặng Hoằng (鄧弘); 1 người chị Đặng Yến (鄧燕) và 1 người em trai Đặng Dung (鄧容).

Trong gia đình quyền thế, Đặng Tuy được dạy dỗ chu đáo từ nhỏ. Bà tỏ ra thông minh hơn người. Từ năm 6 tuổi bà đã học sách sử, năm 12 tuổi đã thuộc Kinh ThiLuận Ngữ. Khi nghe các anh đọc sách, bà thường đến gần đặt câu hỏi.

Thấy thiên hướng con gái thiên về sách vở, ít chú ý đến việc nữ công, Âm phu nhân khuyên bà nên học thêm nữ công, nhưng bà vốn không thích mà hứng thú với kinh sách hơn. Để tránh bị Âm phu nhân phàn nàn, Đặng Tuy phải lén đọc sách vào buổi tối[2].

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Nguyên thứ 5 (93), Đặng Tuy lên 13 tuổi, được Hán Hòa Đế chọn vào cung, nhưng đúng lúc cha bà qua đời. Bà ở nhà chịu tang 3 năm. Năm thứ 7 (95), sau khi mãn tang, bà lại trúng tuyển vào cung lần nữa.

Khi Đặng Tuy vào cung, Hòa Đế đang sủng ái Âm quý nhân là cháu của Âm Thức (陰識), anh trai Quang Liệt Âm hoàng hậu, cũng là người có nhan sắc và học vấn. Năm thứ Vĩnh Nguyên thứ 8 (96), Hòa Đế phong Âm quý nhân là Hoàng hậu. Từ khi được phong, Âm hoàng hậu tỏ ra kiêu căng[3].

Tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó Hòa Đế phát hiện ra Đặng Tuy và vô cùng yêu quý, sắc phong bà làm Quý nhân (貴人). Bị Âm hoàng hậu ghen ghét, Đặng Tuy vẫn không tỏ thái độ thù địch, luôn tuân theo lễ pháp, do đó vua và cung nhân dưới quyền đều tôn trọng bà hơn. Có lần bà bị ốm, theo quy định chỉ có các hoạn quan và những người hầu hạ được ra vào chăm sóc, nhưng Hòa Đế ân chuẩn cho gia đình bà vào thăm để bà mau lành bệnh. Tuy nhiên Đặng Tuy lại từ chối đặc ân với lý do cần giữ nghiêm phép tắc, khiến Hòa Đế càng khâm phục bà.

Khi đó Âm hậu và Đặng Tuy đều chưa sinh con, Đặng Tuy cố tránh mọi hiềm khích với hoàng hậu. Nhiều phi tần trang điểm để cuốn hút Hòa Đế nhưng bà vẫn ăn mặc giản dị và ít trang điểm, nếu có chiếc áo nào hơi giống áo của Âm hậu, bà luôn lập tức thay áo khác. Thông cảm Hòa Đế hiếm muộn, Đặng Tuy luôn tạo điều kiện cho Hòa Đế ân ái với các phi tần khác, trong khi đó Âm hậu ra sức ngăn cản, bắt Hòa Đế xa lánh toàn bộ cung phi. Đặng Tuy từ đó nổi tiếng hiền đức ở trong cung.

Đăng ngôi Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Nguyên thứ 13 (101), Hán Hòa Đế lâm bệnh, ở trong Chương Đức cung, có ban lệnh: "Không ai được vào nếu không được gọi".

Âm hậu thấy Hòa Đế bệnh nặng, bèn nói với mọi người rằng sau này Hòa Đế chết, mình được đắc chí trả thù Đặng quý nhân. Có cung nữ thương Đặng Tuy bèn đi báo. Đặng Tuy ca thán: "Ta dụng tâm đối đãi Hoàng hậu, không những không được lòng cảm thương của người, lại bị xem là tội đồ. Ta tuy thân phận đàn bà, nhưng cũng xin như Chu Công thỉnh mệnh giúp bệnh Chu Vũ vương; Việt Cơ (越姬) tự sát vì Sở Chiêu vương. Như thế, trên có thể báo đáp thiên ân của Hoàng đế, dưới có thể bảo toàn gia tộc họ Đặng tránh họa diệt môn, tránh cho bản thân ta bị biến thành Nhân trư nhục nhã"[4].

Ngay sau đó, bà lệnh cho cung nữ thị tỳ chuẩn bị hương án để làm lễ rồi sẽ tự sát. Nhưng người cung nữ Triệu Ngọc (赵玉) nghĩ ra kế hoãn binh, bèn nói dối rằng bệnh của Hoàng đế đã giảm, vì vậy bà bèn thôi tự vẫn. Ngay sau đó 2 ngày, bệnh của Hòa Đế quả nhiên khỏi hẳn.

Thời gian đó, Hòa Đế phát hiện Âm hậu nhiều năm dùng phù chú để hại Đặng Tuy, như bí mật nuôi một số độc trùng như rết, bọ cạp, nhện độc trong cung, mỗi ngày tự tay cho ăn để sau một thời gian có thể sai khiến những loài độc trùng đó. Hòa Đế bèn sai người điều tra.

Năm Vĩnh Nguyên thứ 14 (102), có người tố cáo Âm hậu bí mật nhờ bà nội Đặng Chu (鄧朱) nuôi độc trùng để hại Đặng Tuy. Việc đó vỡ lở, những người có liên quan đều bị tra khảo và chết trong ngục. Cha hoàng hậu là Âm Cương (陰綱) phải tự sát. Hòa Đế cho rằng Âm hậu thất đức bèn sai người đến Trường Thu cung để thu ấn hoàng hậu và đày vào Đồng cung (桐宮) là nơi giam giữ tội nhân. Vì việc bị phế, Âm hậu uất ức qua đời.

Năm Vĩnh Nguyên thứ 15 (103), Hán Hòa Đế chính thức phong bà làm Hoàng hậu. Năm đó bà 23 tuổi. Vì Đặng Tuy có học thức nên được cùng Hòa Đế tham dự triều chính. Các quan lại địa phương cống tiến rất nhiều châu báu để mong Hoàng đế để ý tới, Đặng hậu bèn đề nghị bãi bỏ lệnh tiến cống châu báu mà chỉ yêu cầu các quan cống một ít giấy mực. Hành động đó của bà được Hòa Đế khen là tiết kiệm.

Khi Hòa Đế tỏ ý muốn phong cho người nhà Đặng hậu giữ chức vụ lớn trong triều, bà từ chối mà chỉ đề nghị phong anh bà là Đặng Chất (鄧騭) giữ chức võ quan hạng trung.

Lâm triều xưng chế[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Hán Thương Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Nguyên thứ 17 (105), Hán Hòa Đế qua đời khi mới 27 tuổi. Việc lựa chọn người kế vị do Đặng hoàng hậu quyết định. Khi mất, Hòa Đế còn hai con trai. Con lớn là Lưu Thắng (劉勝) và con nhỏ là Lưu Long (劉隆), đều là con của các cung nhân. Nhưng Lưu Thắng lên 8 tuổi bị tật nguyền, Lưu Long thì mới 100 ngày tuổi đang gửi nuôi ở ngoài. Đặng hậu vội sai người đón Lưu Long về lập lên ngôi, tức là Hán Thương Đế. Bà phong cho Lưu Thắng làm Bình Nguyên vương (平原王), còn mình trở thành Hoàng thái hậu.

Đặng thái hậu giữ quyền chấp chính, ra chiếu thư xưng Trẫm (朕), được quần thần xưng Quyền tá trợ thính chính (權佐助聽政), thực tế nắm quyền hành tối cao của nhà Hán lúc bấy giờ. Để nắm vững quyền hành, bà bắt đầu dùng ngoại thích, phong cho anh là Đặng Chất làm Xa kỵ tướng quân (車騎將軍), các em cũng được phong Hầu; mẹ bà Âm thái phu nhân được phong tước Tân Dã quân (新野君). Đồng thời, Đặng thái hậu còn trọng dụng các hoạn quan của Hòa Đế là Thái Luân (蔡倫). Bà còn tin dùng Ban Chiêu (班昭), một nữ sử gia uyên bác về học thức và đức độ, cũng là em gái của nhà sử học Ban Cố (班固).

Trong thời gian điều hành triều chính, bà hạ lệnh giảm tiếp mức cống tiến của các địa phương, giảm bớt chi tiêu trong cung, phóng thích cho nhiều cung nhân nô tỳ, cho họ về quê, lại miễn tô thuế cho những vùng bị thiên tai[5].

Hán Thương Đế chỉ ở ngôi được 8 tháng đã qua đời. Chỉ còn lại Bình Nguyên vương Lưu Thắng là con duy nhất của Hán Hòa Đế, nhưng Đặng thái hậu e ngại vì trước đây bà đã không lập Thắng, nếu lúc đó lại lập có thể sau này Thắng sẽ trả thù bà, vì vậy bà cùng Đặng Chất quyết định lập người khác trong hoàng tộc là Lưu Hỗ - con của Thanh Hà Hiếu vương Lưu Khánh (刘庆), con trưởng của Hán Chương Đế và là anh ruột của Hán Hòa Đế – lúc đó mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Hán An Đế. Bà tiếp tục nắm quyền điều hành.

Thời Hán An Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Đại thần Tư không Chu Chương (周章), vì muốn lập Bình Nguyên vương nên không bằng với việc điều hành của họ Đặng, bèn am mưu làm chính biến, bắt Đặng Chất cùng Trịnh Chúng rồi sẽ bắt Đặng thái hậu. Nhưng việc đó bị phát hiện, Chương phải tự sát.

Từ đó, Đặng thái hậu tỏ ra cứng rắn hơn với những ai chống đối. Đỗ Căn dâng thư khuyên bà trả quyền bính cho hoàng đế, bà bèn ra lệnh chém tại cung điện rồi vứt ra ngoài thành. Không ngờ Đỗ Căn chưa chết hẳn, phải bỏ trốn mai danh làm tửu bảo, sau khi bà qua đời mới dám xuất hiện. Sau đó cả chú thái hậu là Đặng Khang cũng khuyên bà nên từ bỏ bớt quyền hành nhưng bà thẳng thừng từ chối khiến Đặng Khang cáo bệnh không vào triều nữa. Đối với người trong họ, bà quản lý rất chặt chẽ. Dù nắm quyền trong triều nhưng bà vẫn hạn chế quyền hành của anh em mình.

Năm Vĩnh Sơ nguyên niên (107), người Khương nổi dậy, dân tộc này vốn bị chính quyền nhà Hán áp bức từ nhiều thập niên. Cuộc nổi dậy có quy mô lớn, lan ra các vùng đất bây giờ là Thiểm Tây, Cam Túc và phía Bắc Tứ Xuyên và quân lính của người Khương cũng bất ngờ tấn cong vào Sơn Tây, áp sát kinh đô Lạc Dương. Nguy cấp hơn khi Đặng Chất yêu cầu bỏ rơi Lương Châu (涼州), thuộc Cam Túc nhưng Đặng thái hậu đã bác bỏ ngay yêu cầu này.cuộc nổi loạn kéo dài đến tận năm 118, khiến cho phía Tây đế quốc trở nên tàn mạt vì chiến tranh. Cũng trong thời gian này, hạn hán, thiên tai xảy ra khắp nơi nhưng đều được Đặng thái hậu giải quyết ổn thỏa và nhanh chóng.

Năm Vĩnh Sơ thứ 3 (109), Nam Hung Nô nhận thấy nhà Đông Hán sau bạo loạn của người Khương sẽ trở nên suy yếu, bèn đem quân đến biên giới quấy nhiễu. Đặng thái hậu ra lệnh tăng cường binh mã, người ngựa đều hùng dũng khiến Hung Nô khiếp sợ, bèn triều cống như cũ, từ đấy về sau Nam Hung Nô không còn dòm ngó đến biên cương nhà Hán nữa.

Năm Vĩnh Sơ thứ 4 (110), Tân Dã quân Âm phu nhân, mẹ của Đặng thái hậu qua đời, các anh trai của bà tạm thời dừng chức để tang 3 năm. Dưới sự gợi ý của Nữ quan Ban Chiêu, bà tán thành, và khi hết hạn mãn tang, bà trao cho họ nhiều chức vụ vô thực để duy trì ngoại thích họ Đặng. Khi Hán An Đế đến tuổi trưởng thành, nhiều đại thần khuyên bà nên trao quyền nhiếp chính và lui về hậu cung nhưng Thái hậu từ chối.

Bà rất chú trọng việc học hành, cùng theo học sử sách với Ban Chiêu. Bà coi Ban Chiêu như thầy, học thêm cả thiên văn, số học. Bà còn mời những người tài giỏi vào cung chỉnh lý kinh sách và dạy các cung nữ. Bà được đánh giá là người đã làm hưng thịnh phái Kinh học[6]. Trong việc sử lý tội nhân, bà đính thân thực hiện và giải oan cho rất nhiều người. Đặng thái hậu còn ra lệnh tha những người cùng cánh với Âm hoàng hậu trước đây bị giam trong ngục khiến mọi người đều ca ngợi sự khoan thứ của bà[7].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Ninh thứ 2 (121), Đặng thái hậu lâm bệnh, bà vẫn cố lâm triều. Ngày 17 tháng 4 năm đó, Đặng thái hậu qua đời, thọ 41 tuổi. Bà cầm quyền trong 16 năm (105-121), tỏ ra là người cần cù tiết kiệm, là nữ chính trị gia sáng giá của vương triều Đông Hán.

Đặng thái hậu mất khi Hán An Đế đã 28 tuổi. Các hoạn quan Giang Kinh (江京), Lý Quốc (李閏) đồng mưu với nhũ mẫu của vua là Vương Thánh (王聖) vu cáo Đặng thái hậu từng có ý lập con của Bình Nguyên vương Lưu Thắng, là Lưu Khai (劉翼) kế vị. Hán An Đế cực kỳ giận dữ, bèn ra lệnh diệt họ Đặng. Đặng Chất và Đặng Tuân bị phế làm thường dân rồi bị buộc phải tự sát[8].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Tôn Nhan (1997), Hậu phi truyện, Nhà xuất bản Phụ nữ
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, Nhà xuất bản Hà Nội

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 111
  2. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 113
  3. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 116
  4. ^ Hậu Hán thư - Hoàng hậu kỉ - Hòa Hi Đặng hoàng hậu
  5. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 125
  6. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 128
  7. ^ Nguyễn Tôn Nhan, sách đã dẫn, tr 127
  8. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 306