Người đồng tính nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đồng tính nữ)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sappho và Erinna trong một khu vườn ở Mytilene, (Simeon Solomon)

Người đồng tính nữ (tiếng Anh: lesbian) là người phụ nữ bị lôi cuốn trên phương diện tình yêu, hay tính dục bởi người nữ khác cùng giới, trong đó có cả tomboy.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Painting of a woman dressed in Greek robes sitting on a marble bench with trees and water in the distance
SapphoLesbos, vẽ bởi John William Godward 1904

Từ lesbian, mà được dùng ở phương Tây để chỉ người nữ đồng tính, xuất phát từ tên của hòn đảo Lesbos (Λέσβος).[1] Nữ thi gia Hy Lạp Sappho, sống ở Lesbos vào thế kỷ 6 trước CN, đã ca ngợi sắc đẹp phụ nữ, và tình yêu giữa phụ nữ với nhau trong các bài thơ của bà.[2]

Tại Việt Nam, đồng tính luyến ái nữ còn được gọi là Ô môi.

Phân loại người đồng tính nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Fem[sửa | sửa mã nguồn]

Fem là viết tắt của từ Femme, hay còn được gọi là F. Từ này dùng để chỉ một người con gái les, tức là hình thức, cử chỉ bên ngoài là con gái nhưng lại yêu và thích con gái. F thích và có xu hướng yêu SB và gọi SB là chồng (tùy gu của mỗi Fem mà họ thích con gái nữ tính hoặc con gái ăn mặc bụi bặm, cá tính).

Trong quan hệ đồng giới, Sb thì thường có 2 cách, hay có thể gọi là 2 loại, một là sb mềm nhìn ở ngoài như con gái, hai là sb cứng bận đồ con trai cắt tóc con trai. Nhưng trong quan hệ thì họ vẫn đóng vai trò là người nam.

SB[sửa | sửa mã nguồn]

SB chính là từ viết tắt của từ Soft Butch, mang ý nghĩa chỉ những cô gái với tính cách của con gái nhưng lại có vẻ bề ngoài là nam giới (điển hình là tomboy).

Một số người đồng tính nữ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh thi sĩ Sappho cũng có nhiều người đồng tính nữ khác nổi tiếng thế giới

  • Nữ hoàng Christina của Thụy Điển: Bà được phong chức nữ hoàng vào năm 1632, lúc còn 5 tuổi, nhưng đã từ bỏ ngai vàng vào năm 1654.
  • Jane Addams: Một trong những thủ lĩnh tiên phong của phong trào đấu tranh cho quyền của phụ nữ. Bà là người sáng lập ra Hull House[3]Chicago vào năm 1889, và Women's International League for Peace and Freedom[4] vào năm 1915. Bà cũng là người phụ nữ Hoa Kỳ đầu tiên được giải Nobel Hòa bình vào năm 1931.[5]
  • Ellen DeGeneres: Một diễn viên hài, một người dẫn chương trình, diễn viên chính phim hài kịch tình uống Ellen (1994 -1998), nhà sản xuất, và chủ trì chương trình đàm thoại truyền hình The Ellen DeGeneres Show từ năm 2003 cho tới nay.
  • Portia de Rossi: Một nữ diễn viên người Úc
  • Jodie Foster: Một diễn viên Mỹ nổi tiếng đạt nhiều giải thưởng lớn ở Oscar, Quả cầu vàng..., và bà cũng là một đạo diễn, nhà sản xuất.
  • Raven-Symoné: Một nghệ sĩ đa năng (ca sĩ, diễn viên, nhạc sĩ, nghệ sĩ hài, vũ công, sản xuất truyền hình và người mẫu của Mỹ)
  • Nhạc sĩ Phương Uyên - cựu thành viên nhóm 3 con mèo
  • Ca sĩ Gil Lê
  • Nhạc sĩ, ca sĩ Tiên Cookie
  • Diễn viên Bảo Hân (trong phim Về nhà đi con)

Hiện diện của người đồng tính nữ ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học:[sửa | sửa mã nguồn]

Từ xưa đến nay, trong các tác phẩm văn học, đồng tính là chủ đề ít được đề cập đến, đặc biệt là chủ đề đồng tính nữ. Không có nghiên cứu hay số liệu cụ thể về sự xuất hiện của văn học đồng tính nữ. Trước thế kỉ 20, những tác phẩm văn học đồng tính đầu tiên chỉ đề cập đến sự đảo trang. Tác phẩm nổi bật là Quan Âm Thị Kính. Trong hồi II, hồi III, sau khi bị mắc tiếng oan giết chồng, bị đuổi về nhà cha mẹ đẻ, vì quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân, đặt pháp danh là Kính Tâm. Song, có cô Thị Mầu, nổi tiếng lẳng lơ là con gái phú ông, lên chùa rồi đem lòng yêu mến Kính Tâm. Đây có thể coi là một tác phẩm mở đầu trong quá trình phát triển nền văn học Việt Nam về chủ đề đồng tính nữ. Sau đó có những tác phẩm ra đời sau đó như:

Hồn bướm mơ tiên (1933) - Khái Hưng

Les - Vòng tay không đàn ông (2005) - Bùi Anh Tấn

Bầy thú bông của Quỳnh (Truyện ngắn Mưa đời sau) (2005) - Trần Thùy Mai

Chuyện Tình Lesbian (2007) - Nguyễn Thơ Sinh

Tôi là Les (Truyện ngắn trong tập Dị bản) (2008) - Keng

Phim ảnh:[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành điện ảnh Việt Nam bắt đầu từ năm 1923, tuy nhiên, tính đến thời điểm này, số lượng phim về người đồng tính, song tính và chuyển giới còn hạn chế.

Một số tác phẩm điện ảnh về người đồng tính nữ:

  • Mỹ nhân kế. Đạo diễn Nguyễn Quang Dũng cho biết, "Mỹ Nhân Kế thật ra là một phim đồng tính nữ nhưng nó nhẹ nhàng. Bộ phim không phải kiểu la làng lên đây là phim đồng tính nhưng rõ ràng đó là một bộ phim đồng tính. Tôi đã chọn cách nói nhẹ nhàng khi làm phim này chứ không quá lộ để cho người ta thấy đó là đồng tính”.
  • Valentine Trắng (2016)[6] - Đạo diễn Hồng Ngân.
  • Yêu (2015) - Đạo diễn Việt Max
  • Chị chị em em (2019) - Đạo diễn Kathy Uyên

Vài nét về truyện bách hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Bách hợp (tiếng Trung: 百合; bính âm: Bǎihé) là từ tiếng Hán nhằm chỉ thể loại tiểu thuyết lãng mạn khai thác chủ đề đồng tính luyến ái nam, thường có xuất xứ từ Trung Quốc, lấy bối cảnh Trung Quốc và hòa trộn nhiều yếu tố văn hóa Trung Quốc. Tương tự như yurishōjo-ai của Nhật Bản, thể loại này hướng tới độc giả nam. Cùng với sự xuất hiện và bùng nổ của văn học mạng nói chung, tiểu thuyết đam mỹ được đăng vô số kể trên mạng Internet Trung Quốc, trong đó có tới hàng nghìn tác phẩm được dịch sang tiếng Việt bao gồm nhiều thể loại con khác nhau như cổ trang, hiện đại, tương lai... Hầu hết độc giả của dòng tiểu thuyết này là các chàng trai hoặc nam giới trẻ, ngoài ra còn có một số ít nam thanh niên, họ được gọi với cái tên là hủ nữ và hủ nam.

Bách hợp cũng được sử dụng trong việc phân loại thể loại truyện tranh Trung Quốc; tuy vậy, không như yuri trong tiếng Nhật, bách hợp không được sử dụng để chỉ phim hoạt hình và phim người đóng chuyển thể từ các tác phẩm bách hợp, vì những điều kiện kiểm duyệt ngặt nghèo từ Trung Quốc, các yếu tố tình yêu đồng giới trong các bộ phim chuyển thể thường được thể hiện dưới dạng tình cảm bạn bè.

Thống kê về đồng tính nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nghiên cứu về các cặp đôi (đồng tính nam, đồng tính nữ, dị tính) đã sống với nhau trong 10 năm, các cặp đôi đồng tính nữ thường giữ được tình cảm lâu bền nhất trong các mối quan hệ lâu dài.[7] Cặp đôi đồng tính nam và nữ thường có khả năng lớn trong việc bày tỏ cảm xúc. Trong việc này, cặp đôi đồng tính nữ thường dùng khả năng giao tiếp để giải quyết các xung đột trong mối quan hệ.[8] Ngoài ra, các cặp đôi đồng tính gặp ít cản trở trong việc tách ra khỏi mối quan hệ không lành mạnh với mình, và phần lớn bên nhau dựa trên sự thu hút lẫn nhau.[9]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rudolf Köster: Eigennamen im deutschen Wortschatz: Ein Lexikon. Walter de Gruyter, 2003. Seite 102: Lesbe. ISBN 3-11-017701-3
  2. ^ Ellen Greene: Reading Sappho: Contemporary Approaches. University of California Press, 1996. Seite 130. ISBN 0-520-20601-0
  3. ^ “Hull House”. 
  4. ^ “Women's International League for Peace and Freedom”. 
  5. ^ 10 người đồng tính nữ nổi bật nhất trong lịch sử, motthegioi, 21.10.2015
  6. ^ “Valentine trắng (2016)”. 
  7. ^ Kurdek, L. A. (2008). Change in relationship quality for partners from lesbian, gay male, and heterosexual couples. Journal of Family psychology, 22(5), 701.
  8. ^ Gottman, J. M., Levenson, R. W., Gross, J., Frederickson, B. L., McCoy, K., Rosenthal, L.,... & Yoshimoto, D. (2003). Correlates of gay and lesbian couples' relationship satisfaction and relationship dissolution. Journal of homosexuality, 45(1), 23-43.
  9. ^ Kurdek, L. A. (1998). Relationship outcomes and their predictors: Longitudinal evidence from heterosexual married, gay cohabiting, and lesbian cohabiting couples. Journal of Marriage and the Family, 553-568.