Duncan Laurence

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Duncan Laurence
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhDuncan de Moor
Sinh11 tháng 4, 1994 (27 tuổi)
Spijkenisse, Hà Lan
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • người viết bài hát
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • piano
Năm hoạt động2014–nay

Duncan de Moor (sinh ngày 11 tháng 4 năm 1994),[1] hay được biết đến là Duncan Laurence, là một ca sĩ kiêm người viết bài hát người Hà Lan. Anh bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình vào năm 2014 và lọt vào đến vòng bán kết trong mùa thứ 5 của The Voice of Holland. Laurence đại diện cho Hà Lan trong cuộc thi Eurovision Song Contest 2019 với ca khúc "Arcade" và trở thành người chiến thắng của cuộc thi.[2][3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Spijkenisse, Laurence lớn lên ở Hellevoetsluis. Anh bắt đầu sự nghiệp âm nhạc tại học viện Rock Academy ở Tilburg. Ở đây, anh chơi nhạc cho một số ban nhạc của trường,[1] trong đó có ban nhạc của chính anh, The Slick and Suited. Được thành lập vào năm 2013, ban nhạc đã biểu diễn tại Eurosonic Noorderslag.[4][5]

2014–18: The Voice of Holland[sửa | sửa mã nguồn]

Laurence đã tham gia mùa thứ 5 của chương trình The Voice of Holland, lựa chọn Ilse DeLange là huấn luyện viên. Anh tiến vào đến vòng Loại Chéo/Bán kết trước khi bị loại khỏi cuộc thi.[6] Anh tốt nghiệp Rock Academy vào năm 2017.[7] Cùng với Jihad Rahmouni, anh đã viết bài hát "Closer" trong album phát hành năm 2018 của bộ đôi K-pop TVXQ New Chapter #1: The Chance of Love.[8]

2019: Eurovision Song Contest[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2019, Laurence được lựa chọn để đại diện cho Hà Lan trong cuộc thi Eurovision Song Contest 2019. Bài hát "Arcade" của anh lần đầu được tiết lộ vào tháng 3 năm 2019. Ngày 19 tháng 5 năm 2019, Laurence giành chiến thắng sự kiện tại Tel Aviv, Israel với 492 điểm từ 41 giám khảo quốc tế và từ bình chọn của khán giả. Các giám khảo chấm màn trình diễn đạt 231 điểm, trong khi bình chọn công khai của khán giả đã đem về cho anh thêm 261 điểm. Anh đạt vị trí quán quân với 27 điểm cao hơn đại diện của Ý và 123 điểm cao hơn đại diện của Nga, hai quốc gia xếp ở vị trí ngay sau đó. Anh là đại diện thứ năm của Hà Lan giành chiến thắng cuộc thi, và cũng là đại diện đầu tiên thắng cuộc kể từ khi Teach-In chiến thắng tại Eurovision Song Contest 1975 với ca khúc "Ding-a-dong".[9]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một cuộc họp báo ngay trước trận chung kết Eurovision, Laurence công khai là người song tính: "Tôi còn nhiều hơn cả một nghệ sĩ, tôi là một người, tôi là một sinh vật sống, tôi là người song tính, tôi là một nhạc sĩ, tôi đại diện cho mọi thứ. Và tôi tự hào rằng tôi có cơ hội để thể hiện mình là gì, là ai."[10]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

  • Small Town Boy (2020)
  • Worlds on Fire (EP) (2020)

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư cách nhạc sĩ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Chứng nhận Album
NL

[11]

BEL

(FL)[12]

BEL

(WA)[13]

CAN

[14]

GER

[15]

IRE

[16]

NOR

[17]

SWE

[18]

UK

[19]

US

[20]

"Arcade" 2019 1 2 31 45 26 23 10 6 29 55 Small Town Boy
"Love Don't Hate It" 41 53
"Someone Else" 2020 72 86 93
"Last Night"
"Stars" 2021 86

Với tư cách nhạc sĩ khách mời[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
NL

[30]

BEL

(FL)[31]

"Feel Something"
(Armin van Buuren ft. Duncan Laurence)
2020 85 78 Small Town Boy and Euthymia
"Back to Back"
(Wrabel ft. Duncan Laurence)
2021 These Words Are All for You

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Nghệ sĩ hợp tác Album
"Laat Gaan"[32] 2017 Sjors van der Panne Met Elkaar

Bài hát thuộc album nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Album
"Heaven Is a Hand to Hold" 2021 Love, Victor: Season 2

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
2019 Giải Marcel Bezençon Giải thưởng Báo chí[33] Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Who is The Netherlands 2019 Eurovision entrant Duncan Laurence?”. Metro. ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019.
  2. ^ Groot, Evert (ngày 21 tháng 1 năm 2019). “Duncan Laurence will represent The Netherlands this year”. eurovision.tv.
  3. ^ “The Netherlands: Duncan Laurence To Sing 'Arcade' In Tel Aviv”.
  4. ^ “VestingPop | Duncan Laurence”. VestingPop. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  5. ^ Duncan de Moor (ngày 15 tháng 6 năm 2014). “The Slick and Suited”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
  6. ^ Popescu, David (ngày 21 tháng 1 năm 2019). “Netherlands: Duncan Laurence on his way to Tel-Aviv!”. escunited.com.
  7. ^ “Duncan Laurence Information - meet the Dutch star”. Radio Times. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019.
  8. ^ Koeleman, Danja (ngày 21 tháng 1 năm 2019). “Duncan Laurence naar Songfestival: Wie is de 24-jarige zanger?”. nu.nl (bằng tiếng Dutch).Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ “Eurovision 2019: Netherlands wins song contest”. BBC News. ngày 19 tháng 5 năm 2019.
  10. ^ Moore, Matt (ngày 18 tháng 5 năm 2019). “Dutch Eurovision contestant Duncan Laurence comes out as bisexual”. Gay Times. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019.
  11. ^ “Discografie Duncan Laurence”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  12. ^ “Discografie Duncan Laurence”. Ultratop. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  13. ^ “Discografie Duncan Laurence”. Ultratop. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020.
  14. ^ “Duncan Laurence”. Billboard. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  15. ^ “Duncan Laurence – German Charts”. GfK. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016.
  16. ^ “Discography Duncan Laurence”. irish-charts.com. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  17. ^ “Discography Duncan Laurence”. norwegiancharts.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019.
  18. ^ “Discography Duncan Laurence”. swedishcharts.com. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  19. ^ “Duncan Laurence | full Official Chart history”. Official Charts Company. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2019.
  20. ^ “Duncan Laurence Chart History (Hot 100)”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2021.
  21. ^ “Dutch single certifications – Duncan Laurence – Arcade” (bằng tiếng Hà Lan). NVPI. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2019.
  22. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2021 Singles” (bằng tiếng Anh). Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2021.
  23. ^ “Ultratop − Goud en Platina – singles 2021”. Ultratop. Hung Medien.
  24. ^ “British single certifications – Duncan Laurence – Arcade”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2021.
  25. ^ “Veckolista Singlar, vecka 6, 2021 | Sverigetopplistan” (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Sweden. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  26. ^ “Norwegian certifications – Duncan Laurence”. IFPI Norway.
  27. ^ “Canada certifications – Duncan Laurence”. Music Canada.
  28. ^ “American certifications – Duncan Laurence” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.
  29. ^ “Dutch single certifications – Duncan Laurence – Arcade” (bằng tiếng Hà Lan). NVPI. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2021.
  30. ^ “Discografie Duncan Laurence”. dutchcharts.nl. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  31. ^ “Discografie Duncan Laurence”. Ultratop. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2019.
  32. ^ “Met Elkaar by Sjors Van Der Panne”. iTunes. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2019.
  33. ^ “Here are the winners of the 2019 Marcel Bezençon Awards”. eurovision.tv. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm
Waylon
với "Outlaw in 'Em"
Netherlands tại Eurovision Song Contest
2019
Kế nhiệm
Jeangu Macrooy
với "Grow" (hủy bỏ)
"Birth of a New Age"
Tiền nhiệm
Israel Netta Barzilai
với "Toy"
Quán quân Eurovision Song Contest
2019
Kế nhiệm
Ý Måneskin
với "Zitti e buoni" (2021)